Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn: Phiếu điêu tra)

(Nguồn: Phiếu điêu tra)

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngắn thời gian thực hiện, giảm bớt phiền hà cho người nộp thuế

- Vận hành tốt ứng dụng tin học của ngành thuế trong công tác kiểm tra thuế

như: ứng dụng hệ thống cơ sở dữ liệu báo cáo tài chính doanh nghiệp hỗ trợ hệ

thống kiểm tra tra cứu tình hình tài chính của doanh nghiệp, phân tích, so sánh được

một số chỉ tiêu chủ yếu trong báo cáo tài chính 3 năm theo các chỉ tiêu dọc, ngang

của báo cáo tài chính. Đồng thời giúp theo dõi kế hoạch kiểm tra; điều chỉnh, bổ

sung kế hoạch kiểm tra; theo dõi nhập lịch trình của đồn kiểm tra kể từ khi ban

hành ký quyết định kiểm tra; báo cáo tổng kết kế hoạch kiểm tra; báo cáo tiến độ

thực hiện các cuộc kiểm tra

- Lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra được bổ sung hàng năm, công tác

lựa chọn và đào tạo được Chi cục Thuế quận Đống Đa quan tâm.

- Cơng tác kiểm tra thuế góp phần tích cực chống thất thu ngân sách nhà

nước và nâng cao tuân thủ pháp luật thuế. Chi cục Thuế quận Đống Đa đã triển khai

khá toàn diện trên cơ sở giám sát hồ sơ khai thuế, phân tích thơng tin, dữ liệu và áp

dụng nguyên tắc rủi ro vào hoạt động kiểm tra thuế, tập trung vào các doanh nghiệp

có rủi ro cao, doanh nghiệp lỗ nhiều năm vẫn mở rộng sản xuất kinh doanh, doanh

nghiệp có số lỗ vượt số vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có số hoàn thuế lớn, doanh

nghiệp nhiều năm chưa được kiểm tra thuế... Thông qua công tác kiểm tra đã hướng

dẫn doanh nghiệp thực hiện việc kê khai, nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật

về thuế; từng bước hạn chế thất thu thuế theo từng loại hình doanh nghiệp, theo

từng ngành nghề, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế; tạo điều kiện để doanh

nghiệp nâng cao nhận thức về pháp luật thuế, tự giác trong kê khai.

- Công tác kiểm tra thuế không những phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật

về thuế mà còn là biện pháp hữu hiệu phòng ngừa các vi phạm về thuế. Góp phần

răn đe, ngăn chặn và phòng ngừa các hành vi vi phạm, gian lận về thuế, nhờ đó nó

đã hạn chế sự vi phạm pháp luật.

- Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần

kinh tế trong việc nộp thuế. Hoạt động kiểm tra doanh nghiệp nhằm mục đích đảm

bảo sự an tồn và tính ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp các cơ sở

sản xuất kinh doanh hoạt động đúng pháp luật, đảm bảo chất lượng, có hiệu quả,

góp phần hồn thiện cơ chế quản lý, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích



62



hợp pháp của các doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập đòi

hỏi nhà nước phải tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp.

- Kiểm tra thuế góp phần hồn thiện chính sách thuế. Hệ thống thuế ở nước

ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên không tránh khỏi những khiếm

khuyết, bất cập. Chính vì vậy, kiểm tra là nơi cung cấp các căn cứ, chứng lý cụ thể,

phản ánh các hoạt động diễn ra trong thực tế, từ đó chính sách thuế sẽ được hoàn

thiện và phù hợp với thực tiễn. Cụ thể, thời gian qua, Chi cục Thuế quận Đống Đa

đã có những kiến nghị sửa đổi những bất cập các Luật thuế. Tham gia góp ý kiến dự

thảo các luật thuế, thơng tư, quy trình nghiệp vụ.

- Thực hiện công tác phối hợp tốt với các cơ quan chức năng như tài chính,

cơng an, quản lý thị trường trong công tác kiểm tra thuế các doanh nghiệp trốn thuế,

mua, bán sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, gian lận thương mại. Nhờ có hoạt động

kiểm tra mà phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế, gian lận về

thuế, mà trước tiên là ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng thành lập doanh nghiệp nhưng

không hoạt động, việc thành lập chỉ để kinh doanh bất hợp phá kê khai khống một

phần hoặc toàn bộ tiền hoàn thuế giá trị gia tăng để chiếm đoạt tiền hồn thuế của

Ngân sách nhà nước. Góp phần làm cho việc thực thi luật và chính sách thuế đạt kết

quả tốt hơn.

2.4.2. Hạn chế

Trong thời gian qua, công tác kiểm tra thuế trên địa bàn Đống Đa đã thu

được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số tồn tại và hạn chế trong

công tác kiểm tra thuế tại trụ sở NNT còn có một số hạn chế như :

- Nội dung kiểm tra đôi khi còn sơ sài, mang tính hình thức; Số tiền thuế truy

thu và phạt bình qn còn chưa cao. Ngun nhân của hiện tượng trên được lý giải

dưới nhiều góc độ như sự hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kiểm tra,

đặc biệt là mức độ nắm vững luật, quy trình kiểm tra, nắm bắt văn bản hướng dẫn rõ

nên còn lúng túng trong q trình thực hiện và xử lý vi phạm.

- Số lượng cán bộ kiểm tra còn thấp so với số lượng đơn vị kinh doanh trên

địa bàn, làm cho công tác kiểm tra chưa thực sự sâu, rộng và hiệu quả. Cụ thể hơn,

đó là số lượng các cuộc kiểm tra còn ít (bình quân hàng năm chỉ kiểm tra khoảng



63



13% trên tổng số đối tượng nộp thuế do cơ quan thuế quản lý), số thuế thu được qua

công tác kiểm tra chưa cao. Bên cạnh đó sự hiểu biết về luật thanh tra kiểm tra,

chưa sâu. Một số chỉ tiêu trong tính toán số tiền thu được từ thuế chưa thống nhất,

kỹ năng thanh tra thiếu tính chuyên nghiệp. Kiến thức và kỹ năng về chế độ kế tốn,

chính sách tài chính, chính sách thuế, nghiệp vụ kiểm tra của một bộ phận cơng

chức làm cơng tác kiểm tra còn hạn chế, đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất

và chất lượng của hoạt động kiểm tra; một số trường hợp cán bộ làm công tác kiểm

tra thuế chưa nắm vững chính sách thuế, nội dung xử lý khơng nêu rõ căn cứ pháp

lý dẫn đến việc xử lý sau kiểm tra chưa chính xác. Nghiêm trọng hơn là một số cán

bộ kiểm tra có biểu hiện vụ lợi, ý thức và trách nhiệm pháp luật thấp, lợi dụng công

tác kiểm tra để gây phiền hà, sách nhiễu đối tượng nộp thuế. Vì đặc thù của ngành,

nên việc luân chuyển cán bộ làm công tác kiểm tra thường xuyên diễn ra (3- 5 năm

cán bộ làm công tác kiểm tra sẽ luân chuyển), điều này phần nào giảm được tiêu

cực, tuy nhiên cũng gây khơng ít khó khăn trong cơng tác kiểm tra thuế bởi mức độ

phức tạp trong công việc nên yêu cầu người làm công tác kiểm tra phải có kinh

nghiệm và trình độ nhất định.

- Khả năng phối kết hợp với các đơn vị trong nội bộ và cơ quan ban ngành có

liên quan chưa cao. Việc bàn giao hồ sơ quản lý giữa các đơn vị trong ngành đơi lúc

còn chưa khớp, kết quả là tình trạng thất lạc hoặc bàn giao thiếu một số giấy tờ

trong hồ sơ kiểm tra, thời gian xác minh hoá đơn khơng kịp thời gây khó khăn trong

việc cung cấp tài liệu khi có u cầu từ phía cơ quan điều tra....Công tác phối hợp

điều tra, xử lý các doanh nghiệp bỏ trốn chưa thật triệt để, chưa xác định rõ hành vi

bỏ trốn mang theo hố đơn khơng kê khai để kết luận đối với các đơn vị sử dụng.

Chưa chủ động đẩy mạnh công tác phối hợp trao đổi thơng tin, phối hợp giải quyết

vụ việc. Còn có trường hợp cơ quan điều tra yêu cầu cơ quan thuế cung cấp thông

tin, hồ sơ doanh nghiệp chung chung, dàn trải hoặc hồ sơ đã được cung cấp cho cơ

quan điều tra nhưng giữa các cấp, các bộ phận vẫn yêu cầu cơ quan thuế cung câp,

dẫn đến cung cấp trùng lắp làm ảnh hưởng đến thời gian và nhân lực của cơ quan

thuế. Cũng có trường hợp cơ quan công an yêu cầu cơ quan thuế cung cấp hồ sơ

nhưng không liên hệ lại để bàn giao



64



- Thông tin về người nộp thuế tại cơ quan thuế chưa đầy đủ thông tin cần

thiết. Theo luật quản lý thuế được ban hành đã đặt ra yêu cầu cơ quan quản lý thuế

phải xây dựng hệ thống thông tin về đối tượng nộp thuế. Mặc dù công tác xây dựng

cơ sở dữ liệu về người nộp thuế đã được chú trọng và quan tâm. Nhưng trên thực tế,

nội dung và các chỉ tiêu về người nộp thuế trên danh bạ quản lý của cơ quan thuế

còn hết sức sơ sài. Do chưa ý thức hết được vai trò quan trọng của cơ sở dữ liệu về

người nộp thuế nên còn tình trạng thông tin, nội dung không được cập nhật đầy đủ

và thường xun khi có sự thay đổi từ phía người nộp thuế. Bên cạnh đó để đáp ứng

được yêu cầu quản lý ngày càng cao, các chỉ tiêu đánh giá rủi ro ngày càng phức

tạp, cơ quan thuế còn cần rất nhiều các thơng tin khác mang tính đặc thù hoặc có

liên quan đến bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, người nộp thuế

còn rất dè dặt khi cung cấp những thông tin mà cơ quan thuế u cầu. Thực tế đó

dẫn tới tình trạng doanh nghiệp tìm mọi cách khai thác thơng tin khơng chính thức.

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế nêu trên, song nguyên nhân cơ bản

nhất đó là:

Một là, cơng tác xây dựng kế hoạch kiểm tra là một trong những nội dung

ban đầu và quan trọng của tiến trình kiểm tra. Tuy nhiên, trên thực tế cách thức xây

dựng kế hoạch kiểm tra tại Chi cục Thuế quận Đống Đa trong thời gian qua chưa

thực sự đảm bảo tính khoa học: Cơng tác xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động

kiểm tra thuế còn mang tính thủ cơng, đó là dựa trên việc đánh giá rủi ro theo báo

cáo của doanh nghiệp về tỷ lệ thuế phải nộp/ doanh thu; chi phí/ doanh thu và đơi

khi việc nhìn nhận, xem xét và đưa ra nhận định, đánh giá ngành nghề kinh doanh

theo kinh nghiệm, mang tính chủ quan.

Hai là, hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhiều khi còn trùng lắp, thiếu tính đồng bộ

và hệ thống: Mặc dù phương pháp kiểm tra thuế dựa trên cơ sở đánh giá mức độ vi

phạm, mức độ gian lận của đối tượng nộp thuế để lập kế hoạch và tổ chức kiểm tra

thuế nhưng phương pháp phân tích rủi ro còn mang tính thủ cơng chưa chun sâu,

chủ yếu dựa vào kinh nghiệm trong quản lý; Việc phân loại doanh nghiệp chủ yếu

dựa vào việc phân tích số liệu kê khai thuế của người nộp thuế và tình hình tuân thủ



65



nghĩa vụ thuế của đơn vị, chưa tìm hiểu chính xác thơng tin về hoạt động của doanh

nghiệp như quy mơ, ngành nghề, quy trình kinh doanh, chưa chú trọng nhiều đến

việc phân tích báo cáo tài chính. Do đó, dẫn đến những rủi ro trong q trình lập kế

hoạch kiểm tra thuế như chọn những đối tượng chủ yếu có vi phạm hóa đơn, quy

mơ khơng lớn, ngành nghề kinh doanh giản đơn, ... làm cho hoạt động kiểm tra thuế

chưa hiệu quả.

Ba là, cơ quan thuế chưa được giao chức năng khởi tố điều tra các vụ án vi

phạm pháp luật về thuế mà đều phải chuyển qua cơ quan công an. Cơ quan công an

lực lượng rất mỏng, khơng có hệ thống thơng tin về thuế, thiếu chun mơn về quản

lý thuế, do đó điều tra rất chậm và kết quả rất hạn chế. Mơi trường kinh tế - pháp

luật - xã hội thì rất rộng, nhưng tác động đến cải cách hành chính thuế rõ nhất là

việc cải cách hành chính chưa đồng bộ ở các ngành, lĩnh vực có liên quan đến thủ

tục thuế như đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh, nền kinh tế còn dùng tiền mặt,

thiếu kiểm sốt thu nhập, xử lý pháp luật chưa nghiêm, ý thức chấp hành pháp luật

nói chung và pháp luật thuế của người dân chưa cao, hiểu biết về thuế còn hạn chế,

khi mua hàng chưa có thói quen yêu cầu người bán hàng xuất hóa đơn .. các nguyên

nhân này sẽ làm phát sinh chi phí thủ tục về thuế cho các đối tương có liên quan,

cho xã hội.

Bốn là, khả năng ứng dụng cơng nghệ thơng tin còn thấp, chưa đồng bộ,

thiếu tính hệ thống. Phần mềm các chương trình ứng dụng để thực hiện cơng tác

phân tích hồ sơ khai thuế mặc dù đã được áp dụng tại chi cục thuế, tuy nhiên các

chương trình này khi vận hành vẫn thường hay lỗi, hơn thế nữa một số chương trình

khi Luật quản lý thuế có sửa đổi, hay một số thơng tư, nghị định,.. thay đổi nhưng

chương trình hỗ trợ vẫn chưa nâng cấp cho phù hợp với quy trình. Ứng dụng cơng

nghệ thơng tin trong việc quản lý thuế còn ở mức thấp, mới tập trung chủ yếu vào

công việc quản lý về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ; đại bộ

phận công việc quản lý thuế vẫn là thủ công, năng suất, hiệu quả quản lý thuế còn

thấp dẫn đến hạn chế khả năng kiểm soát và quản lý thuế của cơ quan thuế.

Một số nguyên nhân khác: Trình độ hiểu biết về thuế ý thức chấp hành các

luật, pháp lệnh về thuế của đại bộ phận nhân dân còn nhiều hạn chế ,chưa tạo được



66



dư luận rộng rãi lên án mạnh mẽ các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế, thậm chí

còn khá nhiều trường hợp thờ ơ. Việc tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn giải thích

chính sách thuế chưa thường xuyên, liên tục để nâng cao tính tuân thủ, tự nguyện,

nâng cao trách nhiệm pháp luật về thuế. Đa số doanh nghiệp làm ăn chân chính, nộp

thuế đầy đủ. Nhưng cũng có khơng ít doanh nghiệp ý thức trách nhiệm xã hội chưa

cao, do đó chưa tự giác trong nghĩa vụ thuế hoặc cố tình chậm nộp thuế, trốn

thuế...Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm hoặc chưa chủ động tìm hiểu thơng tin,

chính sách thuế mới, trình độ của kế toán quá yếu nên thường khai sai, khai thiếu,

nhiều trường hợp không thực hiện được chế độ phải ấn định thuế. Ngồi ra, nhiều

doanh nghiệp chưa ứng dụng cơng nghệ thông tin đồng bộ, nên chưa tiếp cận được

phần mềm hỗ trợ khai thuế, chưa sử dụng hóa đơn tự in... Các nguyên nhân này

phát sinh rất nhiều công việc đối với kế toán trong thực hiện các thủ tục hành chính

thuế, làm tăng gánh nặng cho doanh nghiệp và cho cả cơ quan thuế, nhất là khi quy

mô kinh doanh phát triển. Ngồi ra, do phần đơng các doanh nghiệp thực hiện kế

tốn thường chủ yếu đối phó với cơ quan thuế, chưa đề cao tầm quan trọng của báo

cáo tài chính, số liệu trên báo cáo tài chính khơng phản ánh đúng tình hình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế một nhân viên kế toán có thể làm việc cho

nhiều doanh nghiệp nên việc ghi chép số sách kế tốn còn thiếu và yếu. Đối với các

cơ quan chức năng và tổ chức có liên quan: Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương

chưa quan tâm đúng mức và chưa thực sự coi công tác thuế là nhiệm vụ của địa

phương mình. Việc tổ chức cập nhật, thu thập thông tin, chứng cứ, đánh giá phân

tích tài liệu kê khai, báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi tiến hành kiểm tra

tại đơn vị chưa sâu, còn chung chung, khơng phát hiện được các dấu hiệu vi phạm

từ đó lập đề cương kiểm tra thuế rập khn giữa các doanh nghiệp, khơng có trọng

tâm nội dung kiểm tra thuế cụ thể nên công tác kiểm tra thuế không mang lại hiệu

quả cao. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và văn phòng làm việc của cơ quan

thuế còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được u cầu của cơng việc. Thiếu diện tích

phòng làm việc, bố trí văn phòng trụ sở còn chưa hợp lý để tiến hành làm việc tại

trụ sở cơ quan thuế. vẫn còn một số cán bộ làm cơng tác kiểm tra thuế còn hạn chế



67



về mặt phân tích hồ sơ thuế và phân tích báo cáo tài chính, chưa có kinh nghiệm

trong kiểm tra thuế, chưa cập nhật kịp thời chính sách thuế cũng như chế độ kế

tốn; trình độ kiểm tra thuế chưa tương xứng đối với các doanh nghiệp quy mô lớn,

đa ngành nghề.



68



TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Toàn bộ chương 2 luận văn đã mang đến cái nhìn tổng quát về lịch sử hình

thành và phát triển của chi cục thuế Đống Đa. Thông qua các số liệu khảo sát, thu

thập tài liệu về công tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế tại chi cục thuế

Đống Đa tác giả đã mô tả, đánh giá được thực trạng về công tác kiểm tra thuế tại trụ

sở người nộp thuế tại chi cục thuế Đống Đa.

Những ưu điểm đạt được: công tác kiểm tra đã bước đầu chuyển từ kiểm tra

nhằm vào tất cả người nộp thuế sang kiểm tra theo mức độ rủi ro về thuế; xây dựng

hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về tổ chức, cá nhân nộp thuế, sử dụng phân tích

thơng tin để xác định đối tượng và nội dung cần kiểm tra. Cùng với đó cơng tác

kiểm tra thuế góp phần tích cực chống thất thu ngân sách nhà nước và nâng cao tuân

thủ pháp luật thuế.

Bên cạnh những ưu điểm đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế: nội

dung kiểm tra đơi khi còn sơ sài, mang tính hình thức; số tiền thuế truy thu và phạt

bình qn còn chưa cao; khả năng phối kết hợp với các đơn vị trong nội bộ và cơ

quan ban ngành có liên quan chưa cao; thơng tin về người nộp thuế tại cơ quan thuế

chưa đầy đủ thông tin cần thiết.

Trên cơ sở những nguyên nhân tìm được, chương 3 của luận văn sẽ đề ra một

số giải pháp, kiến nghị nhằm hồn thiện cơng tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp

thuế tại chi cục thuế Đống Đa.



69



CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ NGƯỜI

NỘP THUẾ CỦA CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ

NỘI

3.1. Những quan điểm, mục tiêu của công tác quản lý và kiểm tra tại trụ sở

người nộp thuế trên địa bàn chi cục Thuế quận Đống Đa đến năm 2020

3.1.1. Quan điểm hồn thiện cơng tác kiểm tra thuế tại trụ sở

người nộp thuế trên địa bàn chi cục thuế quận Đống Đa đến năm 2020

Hoạt động kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế dựa trên nguyên tắc tuân

thủ pháp luật, chính xác, khách quan, cơng khai, dân chủ, kịp thời, bảo vệ bí mật và

hiệu quả, và mục tiêu đặt ra là chống thất thu thuế và hướng dẫn, giúp đỡ người nộp

thuế nắm được nghĩa vụ và quyền lợi của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời

nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ.

Trên cơ sở các mục tiêu tổng quát và nguyên tắc trong cơng tác kiểm tra thuế

cần phải có những định hướng phát triển, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, điều kiện

kinh tế - xã hội của quận Đống Đa, có được giải pháp đồng bộ nhằm hồn thiện

cơng tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, Chi cục Thuế quận Đống Đa xác

định định hướng theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, bao gồm một số định

hướng như:

(1) Công tác kiểm tra phải đảm bảo việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo

nguồn thu cho Ngân sách nhà nước;

(2) Công tác kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, bình đẳng giữa các

thành phần kinh tế thuộc đối tượng kiểm tra và cương quyết xử lý vi phạm về thuế

của Người nộp thuế;

(3). Công tác kiểm tra thuế phải được coi là một trong những biện pháp để

quản lý thu thuế do đó cần được tiến hành thường xuyên;

(4) Công tác kiểm tra phải được tiến hành đơn giản, cơng khai về thủ tục

hành chính, khơng gây phiền hà cho người nộp thuế.

3.1.2. Mục tiêu hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại trụ sở người

nộp thuế trên địa bàn chi cục thuế quận Đống Đa đến năm 2020



70



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn: Phiếu điêu tra)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×