Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ NGƯỜI NỘP THUẾ

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ NGƯỜI NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra theo chuyên đề,

kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm cơ quan thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp

thuế không quá 1 lần trong một năm.

- Đối với trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau và kiểm tra sau hoàn thuế,

trường hợp kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra theo chuyên đề, trước khi kiểm tra

tại trụ sở người nộp thuế cơ quan thuế có thể u cầu người nộp thuế giải trình,

cung cấp thông tin tài liệu như trường hợp kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ

quan thuế (nếu cần thiết).

- Đối với trường hợp kiểm tra người nộp thuế chia tách, sáp nhập, hợp nhất,

giải thể, phá sản, cổ phần hóa, đóng mã số thuế (kể cả đóng mã số thuế nhà thầu),

chuyển địa điểm kinh doanh và các trường hợp kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chỉ

đạo của cấp có thẩm quyền được áp dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra từ hồ sơ

khai thuế, hoặc kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm, hoặc kiểm tra theo kế hoạch,

chuyên đề quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Đối với các loại hồ sơ khai thuế: Thuế nhà thầu nước ngoài; tổ chức kê khai

theo phương pháp trực tiếp; nộp tiền thuế sử dụng đất khi được giao đất; thuế sử

dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất; thuế mơn

bài; lệ phí trước bạ; phí và các loại lệ phí khác việc kiểm tra tại trụ sở người nộp

thuế được thực hiện trên cơ sở rủi ro về thuế.

1.1.2. Mục đích và nguyên tắc thực hiện

Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp Người nộp thuế và cơ quan thuế thực

hiện nghiêm chỉnh pháp luật Thuế đảm bảo thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời

các khoản thu vào ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành

thuế, đánh giá chính sách pháp luật thuế trong điều kiện thực tế tại cơ sở, cải thiện

hệ thống chính sách thuế, hạn chế ngăn ngừa, xử lý vi phạm pháp luật thuế, đảm

bảo công bằng trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế của Người nộp thuế, đảm bảo

lợi ích của Nhà nước, nhân dân. Tự kê khai, tự nộp thuế chỉ có thể được duy trì

thơng qua việc kiểm tra hồ sơ khai thuế của Người nộp thuế một cách thận trọng và

thường xuyên. Mục đích của kiểm tra thuế là giám sát và duy trì sự vận hành chính

sách tự khai, tự nộp thuế.

Theo Luật quản lý thuế, người nộp thuế được tự kê khai nộp thuế và chịu



6



trách nhiệm với việc kê khai của mình. Cơ quan thuế giám sát việc kê khai đó thơng

qua thanh tra, kiểm tra hồ sơ khai thuế và các tài liệu liên quan. Quyết định số

502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng Cục Thuế quy định chức năng, nhiệm vụ

của các phòng thuộc Cục thuế có quy định bộ phận kiểm tra thuế tại Cục Thuế quản

lý các doanh nghiệp trên địa bàn Cục Thuế quản lý.

Mục đích của kiểm tra thuế cũng đã được văn bản hóa trong qui trình kèm

theo Quyết định số 746/QĐ-TCT ngày 20 tháng 04 năm 2015 của Tổng cục trưởng

Tổng cục Thuế cụ thể như sau:

Thứ nhất, tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của Người nộp thuế

nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những

vi phạm về thuế.

Thứ hai, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế

trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế.

Thứ ba, thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh

gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho Người nộp thuế phát triển sản xuất,

kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

Thứ tư, tạo sự thống nhất trong việc thực hiện cơng tác kiểm tra trong tồn

ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có

hành vi gian lận, trốn thuế.

Thứ năm, tăng cường quản lý cán bộ kiểm tra thuế trong việc thực hiện

nhiệm vụ được giao làm cơ sở đánh giá phân loại cán bộ kiểm tra .

Thứ sáu, thực hiện cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hố cơng tác kiểm

tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.

Nguyên tắc hoạt động kiểm tra thuế bao gồm:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật: Pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự mang

tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của

Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Kiểm tra thuế là một hoạt động

quản lý của nhà nước về lĩnh vực thuế nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của Nhà

nước. Do đó, hoạt động kiểm tra thuế phải được thực hiện theo qui định của pháp

luật để nâng cao hiệu lực của cơng tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái

pháp luật, vơ hiệu hóa hoạt động kiểm tra.

Thứ hai, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực: Ngun tắc chính xác

trong cơng tác kiểm tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm



7



tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách

quan đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện

tượng đúng như nó vốn có, khơng suy diễn hay qui chụp một cách tùy tiện chủ

quan. Tính khách quan và chính xác trong kiểm tra có quan hệ chặt chẽ và tác động

qua lại lẫn nhau. Có thái độ khách quan, khơng thiên vị mới đảm bảo tính chính xác

trong đánh giá, kết luận vấn đề và ngược lại, có chính xác mới thể hiện được việc

làm khách quan.

Thứ ba, công khai, dân chủ, kịp thời: Công khai trong hoạt động kiểm tra tức

là cơng khai qui trình kiểm tra thuế, công khai kế hoạch kiểm tra, công khai quyết

định kiểm tra. Tuy nhiên, tùy theo tính chất vụ việc mà có hình thức cơng khai cho

phù hợp, trong phạm vi cho phép, vừa đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật

người tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và cơng dân, vừa đảm bảo hiệu quả

kiểm tra cao nhất.

Thứ tư, dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan,

tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Phải lôi cuốn quần chúng, nhân dân tham

gia hoạt động kiểm tra, đấu tranh, ngăn ngừa, đẩy lùi tiêu cực, phát huy các nhân tố

tích cực. Đồng thời, cũng chính nhân dân là lực lượng thúc đẩy các quyết định, kiến

nghị của kiểm tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận,

thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra

trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công

dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người

khác.

Thứ năm, kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong kiểm tra nhằm nhanh

chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước. Để đảm bảo

tính kịp thời trong kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ việc kiểm

tra, tùy theo qui mơ, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số lượng và chất lượng

của đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra .

Thứ sáu, nguyên tắc bảo vệ bí mật: Trong q trình kiểm tra, khi chưa có kết

luận cuối cùng, mọi thông tin, số liệu trong quá trình kiểm tra khơng được tiết lộ ra

bên ngồi gây ảnh hưởng tới chất lượng, nội dung cuộc kiểm tra. Ngồi ra, người

làm cơng tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật,



8



thơng tin nội bộ của doanh nghiệp và bí mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối

tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và các doanh

nghiệp. Do vậy, nội dung cuộc kiểm tra chỉ cần báo cáo cho những người có thẩm

quyền được biết.

Thứ bảy, không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian kiểm tra

giữa các cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra. Do khi có nhiều hoạt động kiểm tra

sẽ dẫn đến việc trùng lặp về đối tượng, thời gian, gây lãng phí nguồn lực và ảnh

hưởng không tốt đến hiệu quả công tác kiểm tra. Đảm bảo nguyên tắc này sẽ nâng

cao hiệu quả của công tác kiểm tra .

Thứ tám, không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá

nhân là đối tượng kiểm tra. Điều này xuất phát từ thực tiễn của hoạt động kiểm tra

cho thấy, khi tiến hành kiểm tra dù là dưới hình thức kiểm tra theo chương trình, kế

hoạch hay kiểm tra đột xuất, thì ít hay nhiều cũng thu hút sự chú ý của dư luận và

ảnh hưởng đến tâm lý của đối tượng kiểm tra và các đối tượng có liên quan. Khi

tiến hành kiểm tra một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào thì hoạt động bình thường

của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó ít nhiều cũng bị ảnh hưởng và có những ảnh

hưởng mang tính tiêu cực đến hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra, gây

tác động xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh hay hoạt động bình thường của cơ

quan, đơn vị. Do đó, ngun tắc này, nhằm đảm bảo hoạt động kiểm tra không tác

động xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, mà chỉ giúp cho cơ

quan, tổ chức là đối tượng kiểm tra thấy được những sai sót, hạn chế trong tổ chức

và hoạt động của mình để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

1.1.3. Sự cần thiết phải hồn thiện cơng tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp

thuế

- Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế đã góp phần hồn thiện cơ chế

chính sách pháp luật về thuế

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi

sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp

quản lý thu khác nhau. Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được

nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở



9



thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì

vậy kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng

chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong

thực tế, để phục vụ cho việc hòan thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp.

- Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi

vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế

Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế

tại trụ sở người nộp thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ

quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay khơng?

Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành

chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT.

Thực tế cho thấy khơng có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là khơng

khiếm khuyết. Đây chính là ngun nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách

luật để trục lợi cá nhân. Kiểm tra thuế phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực

để ngăn ngừa kịp thời.

- Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải

cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện

Thơng qua hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế giúp giảm đến mức tối đa các

thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp.

1.2. Nội dung và quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế

1.2.1. Nội dung kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế

Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế là một công cụ chủ yếu trong chương

trình thanh tra của Cơ quan thuế. Thời gian cần thiết để thực hiện công việc này là

từ một vài giờ cho đến vài tuần tuỳ thuộc bản chất của cuộc thanh tra, và hoặc quy

mơ và tính phức tạp của hoạt động của đối tượng nộp thuế. Thanh tra tại cơ sở

thường là việc kiểm tra chi tiết nhưng cũng có lúc chỉ là việc kiểm tra một phần sổ

sách kế tốn thơng thường của ĐTNT ngay tại trụ sở làm việc của ĐTNT. Thanh tra

tại cơ sở có thể được tiến hành bởi một cán bộ thanh tra hoặc một đội thanh tra. Đội

thanh tra sử dụng từ hai cán bộ thanh tra trở lên và có thể bao gồm những thành

viên có những kỹ năng khác nhau.



10



Đặc điểm của kiểm tra tại cơ sở của ĐTNT:

+ Kiểm tra và sử dụng các kỹ thuật thanh tra đối với những chứng từ kế toán

được ĐTNT lưu giữ.

+ Trao đổi với đối tượng nộp thuế

+ Quan sát đánh giá.

+ Có thể yêu cầu bất cứ người nào thuộc ĐTNT đang thanh tra cung cấp

thơng tin;

+ Có thể u cầu thông tin từ bên thứ ba.

Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra thuế, nhóm phân tích phải thực hiện q trình

tập hợp và phân tích rủi ro các thơng tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra

tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính thơng tin, các nghi vấn

cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp

xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất

kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng

mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người

bán, người mua...).

Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện

tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra . Các nội dung kiểm tra

đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:

+ Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình

hình đăng ký sử dụng hoá đơn...

+ Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình

của doanh nghiệp: báo cáo quyết tốn tài chính q, năm; tờ khai thuế Giá trị gia

tăng, bản xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quí, tờ khai thuế

Thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác liên

quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra.

+ Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết

theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ

chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản.

+ Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu,

hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế,

cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến

hoàn thuế, miễn giảm thuế ...



11



Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở NNT gồm các nội dung sau:

+ Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra,

thanh tra thuế.

+ Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch

toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch tốn thực tế của doanh nghiệp với

các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản

hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán Nhà nước ban

hành...).

+ Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra, hồ sơ chứng lý được coi

là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: Các biên bản ghi nhận kết

quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn

băng ghi lại những việc làm sai của DN (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài

liệu...)

+ Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài

liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có

trách nhiệm giám định.

1.2.2. Quy trình kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế

Hiện nay, quy trình kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được hướng dẫn thực

hiện theo Quyết định 746/QĐ-TCT năm 2015 về việc ban hành quy trình kiểm tra

thuế do Tổng cục Thuế ban hành, được khái quát bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế



12



Nguồn: Quyết định 746/QĐ-TCT năm 2015

Lập kế hoạch kiểm tra và chuyên đề kiểm tra

Nguyên tắc lập kế hoạch kiểm tra, chuyên đề kiểm tra

- Áp dụng phần mềm ứng dụng rủi ro để lập kế hoạch kiểm tra và chuyên đề

kiểm tra;

- Các bước lập kế hoạch kiểm tra và chuyên đề kiểm tra được thực hiện như

hướng dẫn tại quy trình thanh tra thuế;

- Số lượng người nộp thuế đưa vào kế hoạch, chuyên đề hàng năm phải đạt

tối thiểu 60% số người nộp thuế được giao nhiệm vụ kiểm tra hàng năm.

- Việc lập kế hoạch kiểm tra và chuyên đề kiểm tra phải giao cho một bộ

phận (Phòng hoặc Đội) chịu trách nhiệm làm đầu mối để tổng hợp, báo cáo và trình

Thủ trưởng cơ quan Thuế phê duyệt kế hoạch kiểm tra và chuyên đề kiểm tra.

Lập kế hoạch kiểm tra

a) Xây dựng kế hoạch kiểm tra

- Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ công tác của ngành thuế, Tổng cục Thuế ban

hành văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch kiểm tra trước ngày 15 tháng 10 hàng

năm; Cục Thuế ban hành văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch kiểm tra trước

ngày 01 tháng 11 hàng năm.

- Việc lập kế hoạch kiểm tra phải theo nguyên tắc phân tích đánh giá rủi ro



13



trên cơ sở ứng dụng phần mềm quản lý rủi ro được Tổng cục Thuế ban hành thực

hiện thống nhất; đồng thời căn cứ thực tiễn quản lý thuế tại địa phương lựa chọn

người nộp thuế có rủi ro để đưa vào kế hoạch kiểm tra thuế.

- Kế hoạch kiểm tra hàng năm phải cân đối trên cơ sở nguồn nhân lực của

hoạt động kiểm tra; số lượng thực tế người nộp thuế và tình hình thực tế trên địa

bàn quản lý, để xác định danh sách các đối tượng cần kiểm tra.

- Người nộp thuế đưa vào kế hoạch kiểm tra, chuyên đề kiểm tra được lựa

chọn như sau:

+ Lựa chọn trên phần mềm ứng dụng TPR: Đạt từ 80% - 85% số lượng

người nộp thuế thuộc danh sách người nộp thuế sắp xếp theo mức độ rủi ro trên ứng

dụng TPR (sau khi đã lựa chọn đưa vào kế hoạch thanh tra thuế); việc lựa chọn

người nộp thuế đưa vào kế hoạch kiểm tra, chuyên đề kiểm tra phải thực hiện rà

soát, chọn lọc và loại trừ những người nộp thuế có rủi ro thấp, đồng thời bổ sung

người nộp thuế có rủi ro cao phù hợp với tiêu chí rủi ro về thuế tại địa phương.

+ Lựa chọn người nộp thuế từ thực tiễn quản lý thuế tại địa phương: Đạt

15% - 20% số lượng người nộp thuế có rủi ro cao, có dấu hiệu trốn thuế, gian lận

thuế, khai sai số thuế phải nộp qua thực tiễn quản lý thuế tại địa phương.

- Kế hoạch kiểm tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: danh sách tên,

mã số thuế, địa chỉ của các đối tượng kiểm tra; nội dung kiểm tra; chuyên đề kiểm

tra, thời gian dự kiến kiểm tra (Mẫu số 03/QTKT ban hành kèm theo quy trình này).

b) Phê duyệt, điều chỉnh kế hoạch kiểm tra hàng năm

- Cục thuế lập danh sách người nộp thuế thuộc kế hoạch kiểm tra của mình

gửi đến Tổng cục Thuế chậm nhất vào ngày 25 tháng 11 hàng năm.

- Tổng cục trưởng phê duyệt kế hoạch kiểm tra của Cục thuế trước ngày 15

tháng 12 hàng năm.

- Chi cục Thuế lập danh sách người nộp thuế thuộc kế hoạch kiểm tra gửi

đến Cục Thuế trước ngày 05 tháng 12 hàng năm.

- Cục trưởng Cục Thuế phê duyệt Kế hoạch kiểm tra của Chi cục Thuế trước

ngày 20 tháng 12 hàng năm.

- Kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt khi cần điều chỉnh phải được Thủ

trưởng cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch kiểm tra quyết định việc điều

chỉnh. Kế hoạch được điều chỉnh nếu thuộc các trường hợp sau: Theo chỉ đạo của

Bộ trưởng Bộ Tài chính, hoặc Thủ trưởng cơ quan thuế cấp trên, hoặc đề xuất của



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ NGƯỜI NỘP THUẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×