Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

- DLST là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên mà bảo

tồn môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phương. (Hiệp Hội Du

lịch Sinh thái)

- DLST là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin bổ ích mà góp

phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tơn trọng tình trạng ngun vẹn

của các cộng đồng chủ nhà (Hội đồng Tư vấn Môi trường Canada).

Và từ đó, trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà khoa học quốc tế, hội

thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST ở Việt Nam từ ngày 7 đến 9

tháng 9 năm 1999 tại Hà Nội đã đưa định nghĩa về DLST như sau: Du lịch Sinh thái là

một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục mơi

trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích

cực của cộng đồng địa phương. (Lê Huy Bá, 2006)

b) Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái

DLST cũng phải đảm bảo 10 nguyên tắc của du lịch bền vững theo IUCN

(1998), cụ thể là:

1. Sử dụng tài nguyên bền vững bao gồm: tài nguyên tự nhiện, xã hội và văn

hoá.

2. Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải, nhằm giảm chi phí khơi phục các suy thối

mơi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch.

3. Duy trì, phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hoá tạo ra sức bật

cho ngành du lịch.

4. Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia.

5. Hỗ trợ nền kinh tế địa phương.

6. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.

7. Có sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và cơng chúng.

8. Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch chuyên nghiệp.

9. Marketing du lịch một cách có trách nhiệm.

10. Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề, mang lại lợi

ích cho môi trường quanh khu du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách.

Ngoài những nguyên tắc chung, DLST cũng cần có những nguyên tắc riêng:

quan sát, chiêm ngưỡng, nghiên cứu giới tự nhiên gắn liền với mục tiêu bảo tồn, hạn

10



chế sự can thiệp của con người hay tiêu dùng tài nguyên vượt mức cho phép, tích cực

việc bảo vệ, cải thiện mơi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên, duy trì và phát huy bản

sắc văn hoá bản địa. Đảm bảo phúc lợi cho cộng đồng địa phương như phát triển cơ sở

hạ tầng, dịch vụ giáo dục, y tế, giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, du khách cần được

nâng cao hiểu biết về trách nhiệm của mình trong việc đóng góp phần chi phí nhất

định như vé vào cửa, phí bảo tồn khi đến các khu DLST vì một phần doanh thu từ

DLST được sử dụng trực tiếp cho hoạt động bảo tồn tự nhiên.

c) Tác động của du lịch sinh thái và phát triển bền vững

Tác động của du lịch nói chung và DLST nói riêng là những ảnh hưởng (xấu

hay tốt) do hoạt động phát triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi

trường tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế và các yếu tố môi trường xã hội - nhân

văn. Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên có thể là tác động tích cực

hoặc tiêu cực.

* Tác động tích cực

- Đối với mơi trường

Cung cấp động cơ khuyến khích bảo vệ mơi trường, cả chính thức (các khu vực

được bảo vệ) và khơng chính thức; cung cấp các động cơ khuyến khích cho việc phục

hồi và bảo tồn nơi sinh sống cải biến; trợ giúp trong việc cải thiện nơi sinh sống

(những khoản tặng biếu, việc giám sát, bảo dưỡng, v.v.); thúc đẩy sự cam kết rộng hơn

đối với phúc lợi về môi trường; những khoảng đất trống được bảo vệ vì có DLST.

- Đối với kinh tế

DLST làm tăng doanh thu cho nền kinh tế đất nước, vùng, địa phương có sẵn

tiềm năng về du lịch; cơ sở hạ tầng, giao thông được cải thiện, thông tin liên lạc phát

triển; tạo ra các cơ hội việc làm trực tiếp cho người dân lao động bản địa; phát triển

tiềm năng liên kết với các khu vực khác của nền kinh tế địa phương; tạo nguồn doanh

thu gián tiếp từ khách DLST, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm,

đặc sản, các loại hình dịch vụ chất lượng; văn hóa và di sản theo đó được giữ gìn và

phát huy như là "những điểm phụ trội"; các lợi ích kinh tế từ việc sử dụng bền vững

các khu vực được bảo vệ (dược phẩm, dược liệu, nghiên cứu).



11



- Đối với xã hội – văn hoá

Một diện rộng dân số có thể tiếp cận được DLST, thúc đẩy nhận thức về môi

trường trong số khách DLST và cư dân địa phương; tạo cơ hội giao lưu với các nền

văn hố đặc sắc, ngơn ngữ, phong tục tập quán từ khách du lịch trong nước và quốc tế.

* Tác động tiêu cực

- Đối với môi trường

Rác thải: vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Ðây là

nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và

nảy sinh xung đột xã hội.

Nhiễu loạn sinh thái: việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát khơng

hợp lý có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ

các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi

bông, côn trùng, v.v).

3.1.2. Phát triển bền vững Du lịch Sinh thái

DLST là một bộ phận của du lịch. Vì vậy, sự phát triển bền vững là khái niệm

chung cho tất cả các loại hình du lịch, kể cả DLST. Hay nói theo cách khác: Việc di

chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với mơi trường

để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hố kèm theo,

có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động

thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã

hội của cộng đồng địa phương. (World Conservation Union,1996)

Xuất phát từ khái niệm trên, phát triển bền vững DLST được định nghĩa:

“Các hình thức DLST đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và

cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ

mai sau”.

“DLST khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du

lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là mơi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng

đồng”.



12



3.1.3. Khái niệm khu du lịch, khách du lịch và sản phẩm du lịch

a) Khái niệm về khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du

lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của

khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.

b) Khái niệm về khách du lịch

Hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma (1963) thống nhất quan niệm về

khách du lịch quốc tế và nội địa, sau này được tổ chức du lịch Thế Giới WTO chính

thức thừa nhận:

Khách du lịch quốc tế: là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không

quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác

nhau ngồi hoạt động để được trả lương ở nơi đến.

Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia không kể

quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc

gia đó trong khoảng thời gian ít nhất 24h và khơng q một năm với mục đích khác

nhau ngồi hoạt động để được trả lương ở nơi đến.

Theo pháp lệnh du lịch ở nước ta quy định :

Khách du lịch quốc tế: là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở

nước ngồi vào Việt Nam du lịch và cơng dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại

Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

Khách du lịch nội địa: là cơng nhân Việt Nam và người nước ngồi cư trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

c) Sản phẩm du lịch

Khách đi du lịch với mong muốn được đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu về vui

chơi, giải trí, chữa bệnh, phương tiện, vật chất trong chuyến đi. Hay nói cách khác các

cơ sở kinh doanh du lịch phải thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của du khách

thông qua các sản phẩm du lịch.

Sản phẩm du lịch bao gồm: dịch vụ du lịch, các hàng hố và tiện nghi cung ứng

cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ

thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó.

13



Như vậy sản phẩm du lịch gồm những yếu tố hữu hình (hàng hố) và những yếu

tố vơ hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay có thể nói sản phẩm du lịch bao

gồm các hàng hoá, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.

Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch.

3.1.4. Khái niệm Cung và Cầu du lịch

a) Khái niệm cung du lịch

Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ du lịch và hàng hố du lịch (cả hàng

hóa vật chất và dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở những

mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định.

b) Khái niệm cầu du lịch

Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu của xã hội, có khả năng thanh tốn về vật chất và

dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại lưu trú tạm thời bên ngoài nơi ở thường xuyên của

họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hố, chữa bệnh, tham gia chương

trình đặc biệt và các mục đích khác.

* Các yếu tố tác động đến cầu du lịch

Yếu tố tự nhiên: Với các yếu tố như cảnh quan đẹp, khí hậu ơn hồ, bầu khơng

khí mát mẻ trong lành, hệ sinh thái động thực vật phong phú đa dạng thường được

khách du lịch ưa thích.

Yếu tố kinh tế: Nền kinh tế phát triển sẽ là tiền đề cho sự phát triển của cầu du

lịch nơi có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển, mặc dù tài nguyên rất phong phú nhưng

du lịch không thể phát triển được; thu nhập dân cư tăng sẽ dẫn đến cầu du lịch tăng và

ngược lại, giá cả tăng thì đi du lịch sẽ giảm; tỉ giá trao đổi và ngoại tệ cũng ảnh hưởng

nhiều đối với du khách nước ngồi vì khách du lịch sẽ quyết định đi đến những nơi mà

tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền nước họ với nơi đến du lịch cao hơn; cách mạng khoa

học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đơ thị hóa tác động sâu sắc đến tồn bộ

hoạt động kinh tế - xã hội trong đó có du lịch vì khi phát triển, các yếu tố này phá vỡ

sự cân bằng nhịp sống buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại sức khỏe và

tinh thần dẫn đến cầu du lịch tăng.

Giao thông vận tải: Giao thông là một trong những nhân tố quan trọng cho sự

phát triển của du lịch. Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt sẽ làm cho hoạt động du lịch

14



trở nên tiện lợi như tiết kiệm được thời gian đi lại, cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi

du lịch, khách du lịch cảm thấy thoải mái trên suốt chuyến hành trình.

Yếu tố văn hóa – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn: Mỗi vùng miền đều

có bản sắc văn hố khác nhau, chính điều đó đã hình thành nên nhu cầu về du lịch, nhu

cầu khám phá. Con người phát triển nhân cách một phần thông qua việc khám phá các

nền văn hóa bên ngồi và các loại hình nghệ thuật. Do vậy, du lịch là một cách thức

hữu hiệu giúp con người tìm hiểu, giao lưu với các nền văn hóa bên ngồi.

Thời gian nhàn rỗi của các cá nhân nhờ cải tiến năng suất lao động và ứng dụng

các công nghệ mới vào đời sống là một trong những yếu tố tác động đến cầu du lịch.

Thực tế cho thấy các chuyến đi du lịch đều được thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của

con người. Hiện tượng đi du lịch sẽ tăng lên khi thời gian nhàn rỗi của mọi người

trong xã hội tăng lên và kéo dài thời gian đi du lịch, nhất là loại hình du lịch cuối tuần.

Nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch, tùy thuộc vào đặc thù mỗi

nghề nghiệp mà con người phải di chuyển thường xuyên từ nơi này đến nơi khác,

chính điều này đã ảnh hưởng đến cầu du lịch.

Tình trạng tâm, sinh lý con người thoải mái, sức khỏe tốt thường nảy sinh nhu

cầu du lịch. Tuy nhiên cũng có những trường hợp do buồn chán, do tình hình sức khỏe

mà khi có lời khuyên của bạn bè, người thân, bác sĩ thì người ta cũng dễ chấp nhận

một chuyến đi để thư giãn, cân bằng, nghỉ ngơi để chữa bệnh.

Trình độ văn hoá cũng ảnh hưởng đến cầu du lịch. Khi trình độ văn hố được

nâng cao thì nhu cầu đi du lịch càng tăng, điều này đòi hỏi trình độ văn hoá của người

dân ở khu du lịch phải cao để đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh, chất

lượng nhất. Vì thế, nếu khách du lịch và dân cư địa phương có những cách nhìn nhận

có hiểu biết sẽ làm cho hoạt động du lịch tăng thêm giá trị.

Thị hiếu và kỳ vọng ảnh hưởng đến cầu, hướng sự ưu tiên tiêu dùng vào hàng

hóa, dịch vụ du lịch nào đó. Các kỳ vọng hay sự thay đổi của con người về thu nhập,

giá cả, v.v.. làm cho cầu du lịch thay đổi.

Yếu tố chính trị: Là nhân tố quan trọng tác động đến cầu du lịch. Những nơi

có nền chính trị hồ bình thường thu hút đơng đảo khách du lịch vì khi đến nơi này

khách du lịch cảm thấy yên tâm, sự an toàn được đảm bảo, họ được tự do, thoải mái đi

lại.

15



3.2. Giới thiệu một số phương pháp xác định giá trị du lịch giải trí

Giá trị tài nguyên du lịch không thể xác định thông qua việc trao đổi, mua bán

trên thị trường và cũng khơng có quan hệ mật thiết đối với các loại hàng hóa khác. Vì

vậy khơng thể dựa vào thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch. Do đó

chúng ta tiến hành định giá giá trị kinh tế theo phương pháp dựa trên cơ sở bộc lộ sở

thích (các giá trị tài nguyên được suy ra từ thái độ của con người thực tế). Trong kinh

tế học mơi trường có hai phương pháp đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới để xác

định giá trị của những loại hàng hóa khơng có giá thị trường, đó chính là phương pháp

chi phí du hành (TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM).

3.2.1. Phương pháp chi phí du hành (TCM-Travel Cost Method)

a) Giới thiệu chung về TCM

TCM là một phương pháp lựa chọn ngầm, có thể dùng để ước lượng đường cầu

đối với hàng hóa tài nguyên sinh thái hoặc du lịch, từ đó đánh giá giá trị du lịch hoặc

giá trị vui chơi giải trí của khu vực này. Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản đó là

thời gian và chi phí mà một người bỏ ra để tham quan một địa điểm hay chi phí du

hành phần nào phản ánh giá trị của nơi đó. Qua phỏng vấn khách du lịch, chúng ta có

thể tính tốn chi phí du hành của họ và liên hệ đến số lần tham quan trong một năm.

Dùng kinh tế lượng để ước lượng mối quan hệ giữa chi phí du hành của họ và liên hệ

đến số lần tham quan. Mối quan hệ này phản ánh đường cầu dốc xuống thể hiện mối

quan hệ tỉ lệ nghịch giữa chi phí một lần tham quan và số lần tham quan, có nghĩa là

những người sống xa khu du lịch này sẽ có số lần tham quan ít hơn (chịu chi phí du

hành cao hơn), nhưng người sống gần khu du lịch sẽ có khuynh hướng đi tham quan

thường xun hơn (chi phí thấp). Các yếu tố khác ngồi chi phí du hành cũng có thể

ảnh hưởng đến mức độ thường xuyên khi đến tham quan một địa điểm như trình độ

học vấn, thu nhập, độ tuổi….

Chi phí du hành có thể được tính qua cơng thức sau:

Chi phí du hành = Chi phí đi lại + chi phí lưu trú tại chỗ du lịch (ăn uống, ở….)

+ Chi phí cơ hội của việc đi chơi (Chi phí thời gian).



16



Hình 3.1. Mối Tương Quan Giữa Số Lần Tham Quan và Chi Phí Tham Quan

Chi phí du hành



Số lần tham quan



Nguồn: Phan Thị Giác Tâm, 2012.

Đường cầu D biểu diễn toàn bộ tương quan giữa chi phí tham quan và số lần

tham quan của các du khách được phỏng vấn. Sử dụng những thông tin này chúng ta

ước lượng được giá trị giải trí trung bình của du khách đối với địa điểm này. Nhân nó

với số lượng du khách hàng năm sẽ ước lượng được tổng giá trị giải trí hàng năm của

khu du lịch.

b) Ưu điểm và nhược điểm của TCM

- Ưu điểm

TCM có kĩ thuật tương đối đơn giản dựa trên cơ sở một giả thiết hợp lí rằng giá

trị giải trí phải có liên quan đến chi phí du hành.

Có lịch sử phát triển lâu dài.

- Nhược điểm

Trong thực tế có nhiều vấn đế nảy sinh đối vơi phương pháp này, cụ thể như

sau:

Chi phí thời gian: giả thiết cơ bản của TCM là chi phí du hành phản ánh giá trị

của một khu du lịch. Tuy nhiên, trong thực tế ngồi chi phí du hành như phí tổn nhiên

liệu, nơi cư trú, ăn uống thì yếu tố thời gian cũng có giá trị, bởi vì người ngồi trên

chuyến xe du lịch không thể dùng vào một công việc khác. Do đó chúng ta phải tính

thêm giá trị thời gian vào chi phí du hành để tính giá trị giải trí mà người ta có được

khi đi du lịch. Như vậy việc bỏ qua chi phí thời gian sẽ dẫn tới việc ước tính rất thấp

giá trị giải trí mà khách du lịch có được khi đi du lịch. Mặt khác nảy sinh một vấn đề

phức tạp nữa là nhiều người thích đi du lịch, đối với họ cuộc hành trình tới nơi du lịch

17



khơng phải là chi phí mà là lợi ích. Khi đó chi phí du lịch phải trừ bớt đi lợi ích thời

gian, trong trường hợp này TCM lại đánh giá quá cao giá trị giải trí của khu du lịch.

Một hành trình nhiều nơi tham quan: Nếu một du khách tham quan nhiều địa

điểm trong cùng một hành trình. TCM phỏng vấn khách du lịch tại một trong những

nơi tham quan đó thì khó xác định chi phí du hành trong tổng chi phí bỏ ra để đi du

lịch nhiều nơi.

Các cảnh quan thay thế: TCM giả định rằng cùng một chi phí du hành thì các

du khách sẽ có cùng một giá trị giải trí như nhau ở một điểm du lịch, điều này không

đúng. Trên thực tế, cùng một chi phí du hành nhưng mức độ ưa thích của họ là khác

nhau.

Quyết định mua nhà: có trường hợp những người đánh giá cao thuộc tính giải

trí của những địa điểm khác nhau sẽ lựa chọn mua nhà gần địa điểm này. Trong những

trường hợp này, họ sẽ tốn chi phí thấp để tham quan những chỗ mà họ đánh giá cao,

nghĩa là chi phí du hành sẽ thấp hơn ước lượng của giá trị giải trí.

Các du khách khơng tốn chi phí: TCM thường bỏ qua những du khách khơng

tốn chi phí du hành. Tuy nhiên những người này có thể đánh giá rất cao về địa điểm du

lich đó.

c) Giới thiệu hai phương pháp cơ bản trong TCM.

* Phương pháp chi phí du hành vùng – ZTCM (Zonal Travel Cost

Method)

ZTCM đòi hỏi phải có phân chia những khu vực xung quanh địa điểm du lịch

thành những vùng khác nhau tùy thuộc vào khoảng cách đến địa điểm du lịch cần

nghiên cứu. Khi đó những vùng này sẽ là những đường tròn đồng tâm, lấy điểm du

lịch cần nghiên cứu làm tâm điểm. Tuy nhiên để dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu,

các nhà nghiên cứu phân vùng theo khu vực hành chính vì ZTCM đòi hỏi phải có số

liệu về dân số, thu nhập theo từng vùng.

Các bước thực hiện

- Xác định tập hợp các vùng quanh khu vực giải trí bằng các đường tròn đồng

tâm với bán kính tăng dần (điểm du lịch cần nghiên cứu làm tâm điểm), chi phí đi lại

nơi nghiên cứu trong một vòng tròn là bằng nhau.

18



- Thu thập thông tin về số lượng du khách từ mỗi vùng đến điểm nghiên cứu,

dân số của từng vùng.

- Tính tỉ lệ du khách trên một nghìn người dân trong mỗi vùng, tức là bằng tổng

số lượt tham quan hàng năm trong vùng chia cho dân số của vùng tính theo một nghìn

dân.

- Tính tốn chi phí du hành trung bình cho mỗi vùng.

- Ước lượng hàm cầu và xây dựng đường cầu.

Vi/Ni = f(TCi,Si,Pi)

Trong đó:

Vi: Số lần du hành từ vùng i đến khu giải trí cần nghiên cứu.

Ni: Dân số vùng i (thường tính đến trên 1000 người dân).

TCi: Chi phí du hành trung bình của vùng i.

Si: Các yếu tố kinh tế - xã hội của vùng i (thu nhập, tuổi, giới tính….).

Pi: Dân số của vùng i.

- Ước tính giá trị giải trí/Giá trị thặng dư.

ZTCM là phương pháp tương đối đơn giản và ít tốn kém. Phương pháp này

được áp dụng bằng việc sử dụng hầu hết các số liệu thứ cấp với một vài dữ liệu đơn

giản thu thập được từ các du khách như số lần du lịch đến địa điểm cần nghiên cứu,

chi phí du lịch cần nghiên cứu, chi phí du lịch cho mỗi chuyến đi. Dựa trên giả định là

chi phí thời gian và du hành sẽ tăng cùng với khoảng cách hay nói cách khác những

người sống ở xa khu du lịch này sẽ có số lần tham quan ít hơn (chịu chi phí du hành

cao hơn). Thơng tin này cho phép chúng ta tính tốn số lần du lịch thay đổi như thế

nào ở những mức giá khác nhau, từ đó xây dựng đường cầu cho mỗi vùng, và tính ra

giá trị kinh tế của khu vực cần nghiên cứu. Tuy nhiên nó khơng thể hiện chính xác giá

trị của sự thay đổi trong chất lượng của địa điểm du lịch và có thể bỏ qua một vài nhân

tố có tính chất quyết định đến giá trị khu vực.

*Phương pháp chi phí du hành cá nhân - ITCM (Individual Travel Cost

Model)

Phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) sử dụng cuộc khảo sát chi tiết

đối với khách du lịch. Phương pháp này thể hiện mối quan hệ giữa số lần đi du lịch và

chi phí cho một lần tham quan của mỗi du khách.

19



Các bước thực hiện

- Xây dựng bảng câu hỏi (xác định những vấn đề liên quan và những yếu tố tác

động lên số lần du lịch của du khách như chi phí cho chuyến đi du lịch, trình độ học

vấn, thu nhập, nơi cư trú…..).

- Chọn mẫu và tiến hành điều tra.

- Tiến hành lưạ chọn các biến, từ đó thống kê mơ tả số mẫu thu được.

- Ước lượng hàm cầu và xây dựng đường cầu có dạng Vi = f(TCi,Ti,Si).

Trong đó:

Vi: Số lần du lịch cá nhân i đến địa điểm giải trí trong một năm.

TCi: Chi phí du hành của cá nhân i.

Ti: Chi phí thời gian người i đến điểm giải trí. T phụ thuộc vào thời gian mà

người i bỏ ra để đi đến điểm giải trí và giá trị của một đơn vị đường đi của cá nhân đó.

Si: Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân i tới điểm

giải trí như thu nhập, tuổi, giới tính, chi phí địa điểm thay thế, trình độ văn hóa.

i: Cá nhân i.

- Tính thặng dư khách du lịch hàng năm.

- Tính thặng dư cho một lần đi du lịch

- Tính tổng giá trị của điểm du lịch cần nghiên cứu.

3.2.2. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM – Contingent Valuation Method)

CVM dùng các kĩ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch

vụ mơi trường vốn khơng có giá trên thị trường hay giá trị của một sự thay đổi chất

lượng môi trường.

Cũng giống như TCM, CVM phỏng vấn trực tiếp người dân tại địa điểm nghiên

cứu. CVM khác TCM ở chỗ, nó đề cập đến một sự kiện mang tính giả thiết, cụ thể là

sự kiện cải thiện hay suy giảm môi trường.

Phương pháp này được tiến hành hỏi các cá nhân về mức sẵn lòng trả hay mức

sẵn lòng nhận đền bù của họ cho sự thay đổi chất lượng môi trường hay sản phẩm dịch

vụ của tài nguyên thiên nhiên môi trường đã được mơ tả trong trường hợp giả định

trên. Vì vậy CVM sẽ đưa ra những kết quả chính xác nếu những người được phỏng

vấn hiểu đầy đủ về những tính nghiêm trọng của những biến đổi môi trường.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×