Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1: Bản ĐồHành Chính Xã Phước Sơn:

Hình 2.1: Bản ĐồHành Chính Xã Phước Sơn:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nằm về phía đơng đầm Thị Nại, như một tấm bình phong khổng lồ án ngữ phía

biển cho thành phố Quy Nhơn là bán đảo Phương Mai, với hệ thống núi đá trùng điệp

và những đồi cát khổng lồ, ăn ra biển chạy dài khoảng 15km. Phía bắc bán đảo và chết

về phía tây bắc là những bãi biển tuyệt đẹp chạy dài hàng chục km. Nhìn từ xa, bán

đảo Phương Mai như đ ầu một con rồng, thân nằm dài về phía bắc đến tận cửa Đề Gi.

Tận cùng phía nam của bán đảo là một lưỡi nhọn hình m ũi mác với nhiều hóc đá kỳ

thú hiểmtrở, chim yến thường kéo về làm tổ, dâng tặng cho loài người đặc sản “yến

sào” vô cùng bổ dưỡng, quý hiếm.

Đường tỉnh: địa bàn xã có tuyến đường tỉnh 640 đi qua, đoạn qua xã dài

khoảng 5,20 km, đã được láng nhựa. Đường trục xã, liên xã: có tổng chiều dài khoảng

33km với mặt đường rộng từ 3m – 4m, nền rộng 5m ‒ 6m, đã bê tơng hóa được 20km

(60,60%). Đường trục thơn, xóm: có tổng chiều dài khoảng 40,40km với mặt đường

rộng từ 3m – 4m, nền rộng 5m ‒ 6m, tỷ lệ đã được cứng hóa đạt 40%. Đường ngõ,

xóm: có tổng chiều dài khoảng 52km; trong đó, tỷ lệ đã được cứng hóa là 60%.

Đường trục chính nội đồng: có tổng chiều dài khoảng 35km; trong đó, tỷ lệ được cứng

hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện khoảng 30%.

d)



Khí hậu

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa



hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều.

Nhiệt độ khơng khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 –

26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C. Tại vùng dun hải, nhiệt độ khơng

khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C.Độ ẩm tuyệt đối

trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 ‒ 27,9% và độ ẩm tương đối

79 –92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối

trung bình là 79%.

Phước Sơn là xã nằm trong vùng khí hậu ven biển miền Trung thuộc Nam

Trung Bộ và khí hậu vùng núi cao, được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 9

đến tháng giêng năm sau; mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 260C,

tổng tích ơn hàng năm là 9.000 ‒ 9.500mm. Sự đa dạng của khí hậu phù hợp cho sự

phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp và

một số ngành nghề khác ở địa phương.

8



Nhiệt độ trong khu vực ở mức trung bình cao khoảng 260C, trong đó nhiệt độ

trung bình thấp nhất vào tháng 12 là 180C; nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7

khoảng 320C.

‒Mùa nắng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình cao khoảng

300C đặc biệt trong những tháng từ tháng 6 đến tháng 7 nhiệt độ có khi lên tới >370C.

Mùa nắng cũng là mùa thường có gió Tây Nam xuất hiện gây nóng và khơ hạn, thiếu

nước tưới phục vụ SXNN làm ảnh hưởng đến sản xuất vụ thu.

–Mùa mưa: thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng giêng, chiếm 85% lượng mưa

hàng năm, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.500mm. Thời gian này thường

có gió mùa Đơng Bắc gây lạnh và kéo theo mưa phùn, nhiệt độ trung bình khoảng

200C.

‒Độ ẩm khơng khí hàng năm ở Phước Sơn tương đối cao, tháng khô hạn của

mùa hè độ ẩm thường trên 80%. Thời kỳ độ ẩm cao nhất vào những tháng cuối mùa

đông khoảng tháng 12 và tháng giêng khi khối khí cực đới lục địa tràn về qua đường

biển và khối khơng khí biển đơng ln phiên hoạt động tạo ra mưa phùn nên độ ẩm

khơng khí rất cao. Thời kì độ ẩm thấp nhất là tháng 6 và tháng 7, ứng với thời kì này

là gió Tây Nam khơ nóng ở mức cao.

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.500mm số ngày mưa trung bình

trong năm của Phước Sơn tương đối dài từ 120 đến 140 ngày, có khi lên đến 150

ngày/năm. Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng

từ tháng 9 đến tháng giêng năm sau và thường kết thúc muộn. Vào mùa hè thường xảy

ra khô hạn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây trồng, tháng có lượng mưa lớn

nhất là tháng 10 và tháng 11 bình quân lớn hơn 100mm.

Nắng ở Phước Sơn có cường độ tương đối cao, trung bình vào các tháng mùa

hè từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, nhiệt độ bình quân 360C ‒ 370C làm thiếu nước

tưới, có năm gây hạn hán làm thiếu nước trong sinh hoạt và trong sản xuất, đặc biệt là

trong nông nghiệp trồng lứa nước. Thời gian nắng trong năm bình quân 1.400 đến

1.700 giờ và phân bố không đều: vụ Đông Xuân thường thiếu ánh nắng, ngược lại vụ

Hè Thu ánh nắng dư thừa nên việc bố trí cây trồng phù hợp từng mùa vụ có ý nghĩa

hết sức quan trọng để tăng năng suất và bố trí sử dụng đất hợp lý.

9



Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 10 đến tháng giêng năm sau, nhiệt độ có

khi giảm xuống còn 180C. Gió mùa Đông Bắc thường gây hậu quả xấu đến sinh

trưởng của cây trồng, nhất là đầu thời kỳ sinh trưởng của cây lúa nước vụ ở Đơng

Xn. Gió Tây Nam (gió Lào) xuất hiện cao nhất vào thời điểm tháng 6 và tháng 7,

thời gian gió Tây Nam xuất hiện bình quân trong năm khoảng 30̶ 40 ngày, vào thời

điểm này thường gây khô hạn không chỉ làm cho cây trồng thiếu nước mà còn tích lũy

chất sắt gây thối hóa đất.

Nhìn chung khí hậu tại xã thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của các loài

động, thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới.

e)



Thủy văn

Do sự phân bố địa hình và lượng mưa nên hệ thống sơng ngòi của tỉnh Bình



Định hết sức phức tạp. Tỉnh Bình Định có các sơng lớn là: sơng Hà Thanh, sơng Kơn,

sơng La Tinh và sông Lại Giang. Theo các sông này là các sông nhỏ như sông Tam

Quan và sông Châu Trúc.

Sông Hà Thành:sông Hà Thanh bắt nguồn từ miền rừng núi huyện Vân Canh ở

độ cao 500m. Sơng có chiều dài 58km trong đó, có 30km chảy qua miền rừng núi, độ

cao trung bình của lưu vực là 170m, độ dốc trung bình của lưu vực khoảng 0,18.

Sau khi xuống đến hạ lưu, sông Hà Thanh tách thành 2 nhánh, trong đó một

nhánh có sơng Tham Đơ đổ vào, cả hai nhánh đều đổ vào đầm Thị Nại.

Sông Kôn:sông Kôn bắt nguồn từ miền núi phía Tây huyện Hồi Ân và An Lão

có độ cao từ 600 – 700m, chảy theo hướng Tây Bắc ‒ Đông Nam. Qua các vùng Hồi

Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và có rất nhiều phụ lưu. Chiều dài của sông Kôn là

171km và diện tích lưu vực khoảng 2.594km2.

Sơng La Tinh: sơng La Tinh bắt nguồn từ vùng núi phía Tây huyện Phù Cát.

Có độ cao bình qn là 150m. Sơng có chiều dài 54km và diện tích lưu vực khoảng

719km2, gần 2/3 chiều dài, sông chảy qua vùng rừng núi và đồi trọc. Độ dốc bình

qn lưu vực khoảng 0,15. Hai sơng nhánh Đập Bao và Đập Sung ở thượng lưu nhập

thành sơng Bình Trị – Kiên Dun.

Sơng Lại Giang: sơng Lại Giang bắt nguồn từ miền núi Tây Bắc huyện An Lão

có độ cao từ 400 ‒ 825m. Diện tích tồn lưu vực khoảng 1.269km2; độ cao trung bình

của lưu vực là 300m; độ dốc bình quân của lưu vực nhỏ hơn 0,25.

10



Hệ thống sông thuận lợi cho tưới tiêu phục vụ ngành nông nghiệp lúa nước



,



ngành thủy sản đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt người dân . Hàng năm, vào mùa mưa

lũ nước sông đã bù đắp một lượng phù sa cho diện tích đất hai bên bờ, làm tăng độ phì

nhiêu, thuận lợi cho sản xuất nơng nghiệp. Hệ thống kênh mương tưới tiêu lớn, nhỏ

của xã Phước Sơn đã được xây dựng cơ bản, được điều tiết nước bởi đập dân Thạch

Hòa và hồ chứa nước An Trường, đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, phục vụ sản xuất

nông nghiệp.

f)



Tài nguyên biển và thủy sản

Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng về du lịch biển và tập trung chủ yếu ở



khu vực miền Trung, trong đó có Bình Định. Tỉnh ta có đường bờ biển dài 134km, với

gần một nửa số huyện, thành phố giáp biển, được thiên nhiên ban tặng vô số những

thắng cảnh và bãi biển đẹp, với hàng chục bãi tắm lớn, nhỏ, trong đó có một số bãi

tắm rộng hàng trăm ha và đa phần còn nguyên sơ, chưa được khai thác bao nhiêu.

Một số đầm lớn có giá trị đối với du lịch biển như: đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi và

đặc biệt là đầm Thị Nại. Đầm Thị Nại là đầm lớn nhất Bình Định, có hệ sinh thái rừng

ngập mặn độc đáo, có cồn chim và nhiều loại hải sản ngon nổi tiếng. Cây cầu Thị Nại

được khánh thành vào cuối năm 2006, vắt ngang qua đầm như tơn thêm vẻ đẹp lung

linh vốn có của đầm. Hiện tại, đầm Thị Nại đang có một dự án du lịch quy mơ lên đến

800 ha (trong đó có 200 ha phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn) đang xúc tiến mời

gọi các nhà đầu tư.

Ngoài ra, hệ sinh thái thuỷ sinh của vùng biển Bình Định cũng khá phong phú

với khu hệ cá biển gồm 500 loài; khu hệ cá ở đầm có 116 lồi, khu hệ tơm có 15

lồi.Tài ngun thuỷ sinh vật ngập mặn khơng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển đời

sống, kinh tế, da dạng sinh học mà còn có vai trò quan trọng đối với hoạt động dịch vụ

du lịch, góp phần làm tăng tính hấp dẫn của du lịch địa phương qua các món ăn hải

sản. Từ lâu, hải sản của Quy Nhơn ‒ Bình Định đã trở thành một trong những điều thú

vị nhất của du khách khi đến với Miền đất võ. Bên cạnh những loại hải sản quen thuộc

như: tôm, cua, cá, mực,… vùng biển tỉnh ta còn nổi tiếng với một số loại thủy hải sản

đặc trưng như: cua huỳnh đế, cá ngừ đại dương, cá chua, cá dìa, chình mun, lịch

huyết, yến sào.

11



Trong những năm gần đây, tỉnh đã mạnh dạn đầu tư xây dựng mới nhiều tuyến

đường ven biển mang tính chiến lược, đem lại lợi ích nhiều mặt cho kinh tế – xã hội

và có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động du lịch biển như: tuyến Quy Nhơn ‒ Sông

Cầu, tuyến cầu đường Quy Nhơn ‒ Nhơn Hội, tuyến Nhơn Hội – Tam Quan…Đặc

biệt, tỉnh đã rất quyết tâm đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị Thành phố Quy Nhơn

theo hướng quay mặt về phía biển, nhằm khai thác tối đa lợi thế du lịch biển. Đến nay,

có thể nói Quy Nhơn đang trên đà phát triển và ngày càng mang dáng dấp của một đô

thị du lịch nghỉ biển lớn của khu vực. Trong số các cơng trình chỉnh trang đô thị

TP.Quy Nhơn đáng chú ý nhất là việc xây dựng đường Xuân Diệu. Mặc dù con đường

này chỉ dài hơn 3km nhưng đường Xuân Diệu đã mở toang “mặt tiền” của thành phố

hướng ra biển Đông, làm cho Quy Nhơn ngày càng xanh ‒ sạch – đẹp và hấp dẫn

khách du lịch hơn.

Đi liền với công tác đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, tỉnh cũng rất chú trọng

công tác quy hoạch du lịch trên các tuyến, điểm du lịch ven biển như: quy hoạch chi

tiết các điểm trên tuyến Quy Nhơn– Sông Cầu, tuyến Nhơn Lý ‒ Cát Tiến, tuyến Đề

Gi – Tam Quan và đặc biệt là tuyến Phương Mai– Núi Bà. Tuyến du lịch Phương Mai

‒ Núi Bà được đánh giá là có nguồn tài nguyên du lịch khá đa dạng và đặc sắc, được

xem là “mỏ vàng” của du lịch tỉnh nhà trong thời gian đến. Tại đây, chúng ta có thể

khai thác phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn, đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng

biển. Hơn nữa, tuyến Phương Mai – Núi Bà lại có lợi thế rất lớn là nằm trong Khu

Kinh tế Nhơn Hội, được hoạt động theo cơ chế ưu đãi đặc biệt và ngày càng hấp dẫn

các nhà đầu tư du lịch trong nước và quốc tế.

Bờ biển Quy Nhơn dài 42km diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật

biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao... Các ngành kinh tế

chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng

biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch và khu kinh tế Nhơn Hội.

Các ngành chức năng tỉnh Bình Định, Viện Hải dương học Nha Trang và tổ

chức Môi trường thế giới nỗ lực khôi phục chức năng thiên nhiên của khu vực Cồn

Chim, nơi phân bố của rừng ngập mặn và là một trong những vùng có hệ sinh thái

động thực vật phong phú nằm trên địa bàn huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn,

tỉnh Bình Định.

12



Cồn Chim là khu vực bao gồm các cồn nổi như Cồn Chim, Cồn Gía , Cồn

Trạng và vùng nước lân cận nằm gần vùng đỉnh đầm Thị Nại, thuộc các xã Phước

Sơn, Phước Hoà, Phước Thuận huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cồn Chim có tổng

diện tích trên 480 ha, trước đây là một vùng có hệ sinh thái động, thực vật phong phú

và giàu tiềm năng. Khu vực Cồn Chim là nơi phân bố của rừng ngập mặn và thảm cỏ

biển tạo thành vùng cư trú, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loại thuỷ sản có giá trị.

Vùng đáy mềm bao bọc xung quanh các cồn nổi là môi trường thuận lợi cho sự phân

bố cho các loại thân mềm có giá trị.

Tính đa dạng hệ sinh thái Cồn Chim đã tạo ra sự đa dạng về loài và nguồn lợi

phong phú ở khu vực. Theo số liệu thống kê của các nhà khoa học, cho đến nay đã xác

định được 25 lồi cây ngập mặn, trong đó có 18 lồi cây ngập mặn chủ yếu và 7 lồi

cây tham gia rừng ngập mặn và bên cạnh đó còn 5 lồi cỏ biển được phân bố ở khu

vực xung quanh Cồn Chim tạo thành thảm cỏ biển với tổng diện tích 50 ha.Về động

vật, Cồn Chim hiện nay có khoảng 64 lồi động vật phù du, 76 lồi cá thuộc 40 họ; 35

loài giác xác, 31 loài thân mềm và 01 lồi da gai. Về chim có tổng cộng 33 lồi trong

đó có 23 lồi chim nước và 10 loài chim rừng.

Nguồn lợi thủy sản Cồn Chim cũng rất phong phú và có giá trị và sản lượng

khai thác hàng năm với sản lượng khoảng từ 3 – 10 tấn, chủ yếu các loại cá đối, cá

bống, cá liệt, các móm, các giò, cá chua và đặc biệt cá mú và cá hồng...Lồi giác xác

như tơm, cua, ghẹ cho sản lượng khai thác đạt 75 tấn/năm, các loại thân mềm cũng

khai thác đạt 1.200 tấn/năm và còn cung cấp nguồn giống nuôi, trồng thủy sản quan

trọng tại địa phương.

2.2.2.Địa bàn nghiên cứu

a)



Kinh tế– xã hội ‒ giáo dục

Về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người hiện nay khoảng 11,38 triệu



đồng/người/năm; so với mức thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nơng thơn tồn

tỉnh (khoảng 8,98 triệu đồng/người/năm) thì thu nhập bình quân đầu người của xã gấp

1,2 lần. Hiên nay, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã chiếm khoảng 5% tổng số hộ trong xã.

Về thủy lợi, hiện nay, xã có hệ thống kênh mương thủy lợi không những phục

vụ cho việc cung cấp nước mà còn giúp tiêu nước vào mùa mưa. Ngồi các kênh tiêu

còn có đê ngăn mặn giữ ngọt phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

13



Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa: Tổng chiều dài hệ

thống kênh mương thủy lợi toàn xã khoảng 158,70km. Trong đó, kênh mương do

UBND xã quản lý được kiên cố hóa được11,23km (chiếm 7,54%).

Giáo dục ‒ đào tạo, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiếp tục học THPT, bổ túc, học

nghề đạt 90% đạt công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang triển khai phổ

cập trung học phổ thông. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được tham gia các khóa bồi

dưỡng dạy nghề ngắn hạn hoặc đào tạo dài hạn (chính quy và khơng chính quy), được

cấp các loại chứng chỉ, văn bằng như: chứng chỉ học nghề, bằng trung cấp chuyên

nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cao đẳng và đại học đã qua đào tạo chuyên

môn đạt tỷ lệ khoảng 30%.

Môi trường, tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 100%.Tỷ lệ hộ có đủ 3

cơng trình (nhà tắm, hố xí, bể nước) đạt chuẩn 90%.Xử lý chất thải: hiện rác thải từ

các hộ gia đình cá nhân và một số cơ sở sản xuất kinh doanh chưa có địa điểm thu

gom rác thải tập trung mà chỉ xử lý tại chỗ nên chưa đảm bảo được môi trường.Tỷ lệ

cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 90%. Nghĩa trang đã quy hoạch nhưng

chưa có quy chế quản lý.

b)



Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy hải sản

Tiềm năng phát triển

Huyện Tuy Phước có diện tích đất nơng nghiệp lớn lại nằm ở phía hạ lưu hai



con sơng lớn là sông Hà Thanh và sông Kôn, nên thuận lợi trong việc sản xuất nông

nghiệp, thủy sản. UBND huyện trong thời gian qua đã phát huy và khai thác tốt tiềm

năng, thế mạnh, tích cực đưa tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào trồng trọt, chăn nuôi,

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống, mùa vụ hợp lý. Tập trung đầu tư, phát triển

kinh tế nông nghiệp một cách tồn diện, bền vững theo hướng cơng nghiệp hố, hiện

đại hố nơng nghiệp, nơng thơn, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất

nông, lâm, ngư nghiệp bình qn hàng năm là 5%. Tăng cường cơng tác khuyến nông,

chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân rộng các mơ hình có thu nhập cao.

Với vị trí địa lý tiếp giáp với biển Đơng, có đầm Thị Nại nên có diện tích ni

trồng thủy sản lớn (hơn 1.000 ha) phục vụ tốt cho việc nuôi trồng thủy sản nhất là

nuôi tôm sú xuất khẩu và lợi thế phát triển ngành công nghiệp chế biến hải sản. Triển

khai có hiệu quả các mô hình khuy ến ngư; củng cố các chi h ội nuôi tôm cộng đồng,

14



triển khai chương trình trồng rừng ngập mặn; phát triển ni trồng thuỷ sản, kết hợp

với nghề đánh bắt hải sản truyền thống và xa bờ. Hàng năm, giá trị sản xuất nông,

lâm, ngư nghiệp đều tăng gần 5%.

Đi đôi với phát triển nông nghiệp ‒ ngư nghiệp, huyện cũng đã triển khai các

giải pháp đầu tư, khuyến khích cơng nghiệp– tiểu thủ công nghiệp phát triển ,

chuyểndịchcơ cấu kinhtếtheo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp –thương mại

‒dịchvụ. Các loại hình kinh doanh, thương mại, dịch vụ tiếp tục mở rộng và phát

triển, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời

sống của nhân dân trên địa bàn huyện. Đến cuối năm 2011, Giá trị tổng sản phẩm địa

phương (GDP) tăng 10,9%. Tỷ trọng nông – lâm nghiệp (38%), ngư ‒ công nghiệp

(23%), xây dựng và thương mại, dịchvụ (39%) trong GDP.

Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và quản lý tài nguyên, môi trường

biển theo quan điểm phát triển bền vững. Chiến lược này bao gồm các nội dung phân

vùng chức năng biển và ven biển, quản lý tổng hợp các hoạt động khai thác và nuôi

trồng thủy sản ven biển, thành lập hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển, quy

hoạch phát triển đô thị và dân cư ven biển, phát triển các ngành nghề đa dạng và cải

thiện đời sống cho những cộng đồng dân cư ven biển, phòng ngừa và làm giảm tác hại

của thiên tai ven biển, trước hết là bão, lụt, sạt lở, nước dâng, tăng cường năng lực

quản lý môi trường biển và ven biển, phòng ngừa và ứng phó với các sự cố môi

trường biển.

Hệ sinh thái

Rừng ngập mặn: Qua khảo sát cho thấy ở đây có 25 lồi cây ngập mặn

(mangrove). Phân bố chủ yếu là cây Mắm trắng (Avicenniaalba), Đước đôi

(Rhizophora apiculata), Đưng (Rhizophora mucronata), Đâng (Rhizophora stylosa),

Giá (Excoecaria agallocha), Bần trắng (Sonneratia alba), Tra lâm vồ (Thespesia

populnea), Tra nhớt (Hibicus tiliaceus). Trước đây khu vực Cồn chim được bao phủ

bỡi rừng ngập mặn, nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, nay thì khơng còn nữa.

Thảm cỏ biển: ở khu vực Cồn Chim thường phân bố trên nên đáy bùn cát và cát bùn

dọc theo vùng nước nông ven bờ các cồn. Sinh lượng dao động từ 24 – 65g khơ/m2. Độ phủ

có nơi đạt 75% trên nên đáy. Tổng diện tích khoảng 50 ha.

15



Hệ đợng vật khơng xương có đến 59 lồi phân bố vùng thảm cỏ biển. Do khai

thác bằng ghe máy, xúc bộ thủ công các lồi nhũn thể sống nơi có thảm cỏ biển, nên

làm thảm cỏ biển bị phá hủy nghiêm trọng.

Vùng đáy mềm: Có diện tích lớn nhất (>300ha) là vùng bao bọc xung quanh

các cồn. Chất đáy của vùng này chủ yếu là bùn cát và cát bùn với cấp hạt mịn. Vùng

này có nhiều lồi thuỷ sản sống di chuyển: cá, tơm, cua.

Tính đa dạng lồi:

Lồi thực vật phù du: đã xác định được 72 loài thực vật phù du ở khu vực Cồn

Chim. Tổng mật độ tế bào thực vật phù du tương đối cao. Trung bình các trạm trong

tháng 4 là 15.500 tế bào/lít. Tháng 11 mật độ tế bào rất cao 42.000 tế bào/lít.

Thành phần lồi và tính chất động vật phù du: đã xác định được 53 lồi động

vật phù du bao gồm các lồi: nhóm nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Trung bình động

vật phù du đạt 65.266 cá thể/m3 ‒ cao hơn nhiều so với một số tỉnh lân cận: Phú Yên,

Khánh Hoà. Vào kỳ cao triều có mật độ gấp 3 lần so với kỳ triều thấp. Mùa khơ có

mật độ 81.819 cá thể/m3 cao gấp 18 lần so với mùa mưa.

Rong biển: có 10 lồi kích thước lớn thường gặp trong các ao đìa xung quanh.

Động vật khơng xương sống: Có 102 lồi thuộc 31 họ và 5 nhóm ngành ở khu

vực Cồn Chim. Trong đó ngành giun nhiều tơ có 34 lồi thuộc 17 họ. Ngành thân

mềm có 31 lồi thuộc 16 họ; ngành giáp xác có 32 lồi thuộc 16 họ. Da gai có 1 lồi,

nhóm khác gồm 4 lồi thuộc 3 họ.

Mật độ và sinh vật lượng của động vật không xương sống ở vùng Cồn Chim,

mùa khô trung bình đạt 8.340,54 cá thể/m2. Trong đó giun nhiều tơ có số lượng nhiều

nhất (4.436 cá thể/m2) kế đến là thân mềm. Mùa mưa mật độ trung bình 3.620 cá

thể/m2 và khối lượng là 150,66g/m2.

Thành phần sinh vật nguồn lợi: Các động vật không xương (giun nhiều tơ, thân

mềm, giáp xác) ở giai đoạn trùng non là thức ăn cho các lồi động vật sống trong đầm:

tơm, cua, cá…

Đã xác định được 102 lồi động vật khơng xương thuộc 31 họ, trong 5 nhóm:

giun nhiều tơ, thân mềm, giáp xác, da gai và nhóm khác.



16



Thành phần sinh vật nguồn lợi thu mẫu không nhiều. Đại diện là tôm he (họ

Pennaeidae) thân mềm, sút (Anomalocardia squamosa), Chem chép (Corbulasp),

móng tay (Solen sp), hàu (Crassostrea lugubris) với mật độ khác nhau.

Thành phần loài cá khá phong phú. Đã xác định được 76 lồi cá thuộc 40 họ

của 12 bộ, trong đó bộ cá vược (pereiformes) chiếm nhiều nhất.

Khu hệ chim ở Cồn Chim: Trước 1975 nơi đây được phủ một thảm thực vật

của các loài cây ngập mặn: đâng, đăng, bần, mắm…Sau đó do ni trồng thuỷ sản

phát triển nên bị phá huỷ gần như hoàn toàn, nên ảnh hưởng đến nơi cư trú của các

loài chim. Kết quả khảo sát cho thấy, thành phần loài chim ở đây rất phong phú. Đã

xác định được 47 lồi chim, trong đó có 37 lồi thuộc nhóm chim nước và chim di cư,

10 lồi thuộc nhóm chim rừng.

Hiện trạng ni trồng thủy sản tại đầm Thị Nại

Theo thống kê hơn 400 ha RNM ở Cồn Chim mất đi thay thế vào đó là 300 ha

diện tích ni tơm. Rừng Cồn Chim – rừng trên mặt đầm biến mất.

Trong một thời gian ngắn,từ năm 1981 đến năm 2000, RNM ở đây bị đốn sạch.

Người thì chặt cây, đắp bờ làm tôm, kẻ không làm tôm thì đốn cây làm củi, đốt than.

Ơng Huỳnh Văn Pha (bến đò Vinh Quang 2, Phước Sơn), cho hay: “Vào những năm

80, người dân ở Cồn Chim thi nhau chặt phá RNM làm hồ tơm. Hồi đó, gia đình nào

được giao diện tích mặt nước thì chặt rừng, đắp bờ, những gia đình khơng có thì chặt

cây về làm củi đốt. Chưa nhận được tác hại của viêc phá RNM, bản thân tơi cũng

khơng ít lần đi ghe qua Cồn Chim đốn những cây to về làm củi”.

Theo khảo sát của ngành Thủy sản, đầm Thị Nại từng là nơi sinh sống của 119

lồi cá, 14 lồi tơm và hàng chục lồi thủy hải sản có giá trị khác. Riêng khu vực Cồn

Chim (thuộc địa phận xã Phước Sơn – Tuy Phước), trước đây chủ yếu là rừng ngập

mặn, là nơi trú ngụ của các lồi chim q, như cò, vạc đen (Black ‒ crowned Night

Heron), nhạn,… và nhiều giống lồi thủy sản, như cá, tơm, hàu, sò,… với NLTS đa

dạng và phong phú như vậy, từ bao đời nay đầm Thị Nại là nguồn sống của hàng ngàn

cư dân ven đầm.

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, hệ sinh thái đầm Thị Nại đã bị hủy

hoại nghiêm trọng bởi bàn tay con người. Với sự tính tốn thiếu hợp lý, chỉ thấy cái

lợi trước mắt, việc phá rừng ngập mặn để nuôi tôm không theo một quy hoạch nào;

17



việc khai thác thủy sản bằng những phương pháp hủy diệt… là những nguyên nhân

trực tiếp gây tổn hại đến đa dạng sinh học của vùng đầm. Hầu như toàn bộ diện tích

rừng ngập mặn ở đây bị xóa sổ, chỉ còn lác đác một số cây đước, cây mắm tồn tại trên

các bờ ao tơm. Thay vào diện tích rừng ngập mặn là những ao nuôi trồng thủy sản

thâm canh, bán thâm canh.

Tuy giàu tiềm năng là vậy nhưng do việc nuôi trồng và khai thác thiếu khoa

học đã dẫn đến làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản. Chỉ tính từ năm 2001 đến nay, do

hậu quả đào ao nuôi tôm ồ ạt, nhưng phần lớn ao, hồ không được xây dựng hệ thống

xử lý nước thải tốt, nên dịch bệnh tôm thường xuyên ảnh hưởng đến 80% tổng diện

tích mặt nước ni tơm. Mặt khác do ý thức của người dân và phong tục tập quán sinh

sống lạc hậu, đã đổ tất cả các chất thải lỏng, thải rắn xuống đầm và đã gây nên tình

trạng ơ nhiễm môi trường trầm trọng.

Theo số liệu thống kê, hiện nay diện tích ni trồng thủy sản ở đầm Thị Nại đã

vượt gấp đôi so với hệ số bền vững cho phép. Sự quá tải sinh học này đã làm môi

trường nước trong đầm ngày càng ô nhiễm nặng, dịch bệnh tôm nuôi không ngừng

phát sinh.

Mặt khác, so với 10 năm trước, số lượng tàu thuyền khai thác trong đầm đã

tăng từ 25 – 30%; cư dân ven đầm cũng không ngừng phát triển các ngành nghề khai

thác thủy sản. Điều đáng nói hơn, có nhiều hộ dân đã sử dụng các nghề cấm như xung

điện, xiết máy để khai thác một cách tận diệt NLTS, làm cho các giống loài thủy sản

trong đầm ngày càng cạn kiệt. Theo nghiên cứu của Viện Hải dương học Nha Trang,

hiện nay năng suất khai thác tự nhiên ở đầm Thị Nại đã giảm sút một cách nghiêm

trọng. Cụ thể, năng suất nhuyễn thể giảm 67%; tôm giảm trên 65%; cá giảm 47%; ghẹ

‒ cua giảm 25%… so với năm 2003.

Nuôi trồng thủy sản tại đầm Thị Nại chủ yếu theo 2 phương thức là nuôi tôm

chuyên canh và nuôi tổng hợp tôm với cua và cá biển. Tổng cộng diện tích NTTS đến

năm 2008 khoảng 1.393,7 ha.

Tổng sản lượng tôm sú nuôi năm 2008 là 763,2 tấn. Tôm chân trắng mới chỉ

bắt đầu nuôi từ năm 2004, năm 2008 đạt 59,5 tấn, tăng trưởng 72,6%/năm. Năng suất

NTTS ở khu vực đầm Thị Nại có chiều hướng tăng. Năm 2003 đạt năng suất trung

bình 0,63 tấn/ha, đến năm 2008 tăng 0,79 tấn/ha do diện tích ni tơm chân trắng

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1: Bản ĐồHành Chính Xã Phước Sơn:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×