Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
UTZ Certified đến Việt Nam vào cuối năm 2001 và triển khai công tác chứng nhận vào năm 2002 trên cây cà phê ở Tây Nguyên và trên cây cacao Bến Tre, Tiền Giang từ năm 2010. Vào cuối tháng 3/2011 Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư đã phối hợp với công ty ...

UTZ Certified đến Việt Nam vào cuối năm 2001 và triển khai công tác chứng nhận vào năm 2002 trên cây cà phê ở Tây Nguyên và trên cây cacao Bến Tre, Tiền Giang từ năm 2010. Vào cuối tháng 3/2011 Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư đã phối hợp với công ty ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hiện nay, cây cacao không chỉ được trồng xen ở Bù Đăng mà đã được nhân

rộng trên những vườn điều, cây ăn trái của cả tỉnh. Mơ hình này vừa tiết kiệm được

cơng chăm sóc, phân bón mà lại tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích. Dự tính trong

năm 2008, Bù Đăng sẽ trồng mới trên 100 ha cacao, và từ nay đến 2015, Bình Phước

sẽ phát triển khoảng 7.000 ha trồng xen cacao ở 8 huyện, thị xã.

Giá cacao hiện đang dao động 40-45 triệu đồng/tấn, năng suất trung bình trồng

xen trong vườn điều 1,8 tấn/ha, cho thu nhập khoảng 75 triệu đồng/ha, cộng thêm 2 tấn

hạt điều/ha thì mỗi năm 1 ha trồng điều xen cacao thu khoảng 115 triệu đồng.

Năm 2005-2007, dự án phát triển cacao cho các nơng hộ nhỏ ở Việt Nam do

Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ. Năm 2010, dự án phát triển nông nghiệp bền vững do tổ

chức Roots of Peace (ROP) triển khai tiếp tục hỗ trợ đầu tư phát triển cacao tại Bình

Phước.Ngồi ra, Bình Phước đã nhận được sự quan tâm của các viện nghiên cứu trong

và ngoài nước, các trường đại học, tổ chức phi chính phủ xúc tiến nghiên cứu, điều tra

đánh giá, quy hoạch, xây dựng chương trình phát triển cacao. Đến nay, tỉnh đã xây

dựng được bộ quy trình kỹ thuật trồng xen cacao trong vườn điều, khảo nghiệm các

giống cacao nhập nội như: TD1, TD3, TD5, TD6 đều cho thấy có triển vọng.Tồn tỉnh

hiện có khoảng 1300 ha cacao, trong đó 500 ha đã cho thu hoạch. Năng suất bình quân

đạt 1.8 tấn/ha, cá biệt có hộ thâm canh thuần cacao đạt 2.5-3 tấn/ha. Hạt cacao ở Bình

Phước được đánh giá có chất lượng cao hơn so với trồng ở các địa phương khác về bơ,

vỏ hạt, tỷ lệ acid béo tự do, độ pH…Theo một số nơng hộ thì cây cacao là cây dễ

trồng, sinh trưởng phát triển nhanh, chăm sóc đúng kỹ thuật chỉ sau 14 – 15 tháng cho

trái bói, cây trên 3 năm tuổi có thể cho năng suất bình quân 1 kg hạt. Với giá thị

trường hiện nay trên 45000 đ/kg hạt, như vậy thu nhập trên 1 ha cacao được khoảng 45

triệu/ha/năm, chưa kể nguồn thu từ cây che bóng.

Cacao là cây trồng mới tại Bình Phước, chi phí đầu tư khơng nhiều, nhưng đòi

hỏi nơng dân phải có kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, lên men… TT Khuyến nông

– Khuyến ngư tỉnh đã xây dựng các mơ hình trình diễn, chuyển giao KH-KT tiên tiến

tới nông dân; hướng dẫn cách lên men, sơ chế cacao sau thu hoạch và xưởng chế biến

cacao nguyên liệu quy mô vừa và nhỏ; hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giống cacao ghép

11



năng suất cao cho các doanh nghiệp và hộ nơng dân. Người dân nên áp dụng các mơ

hình trồng cacao sinh học (nuôi kiến đen, kiến vàng để hạn chế rệp sáp, bọ xít muỗi

gây hại), mơ hình cacao tiết kiệm nước tưới, phân bón (ủ phân từ vỏ trái cacao và các

thành phần khác) để có cơ sở nhân rộng.So với một số cây công nghiệp khác như điều,

cao su thì cacao được phát triển ở Bình Phước muộn hơn nhưng đã tạo ra nhiều hiệu

quả kinh tế.

Thông qua việc sản xuất caocao bền vững theo tiêu chuẩn UTZ Certified người

nơng dân giờ đây sẽ có điều kiện nâng cao năng lực trong thực hành nông nghiệp tốt,

quản lý sản xuất, kinh doanh có hiệu quả và đáp ứng các đòi hỏi về tinh thần trách

nhiệm đối với xã hội và môi trường. Đây cũng là một mục tiêu đảm bảo thu nhập cao

cho nông dân và là cơ sở để cacao Bình Phước đạt chứng nhận toàn cầu phát triển

mạnh mẽ trong những năm tới.

Để phát triển cây cacao bền vững trên địa bàn tỉnh Bình Phước, ngành đã và

đang thực hiện những giải pháp cơ bản: Xây dựng vùng cacao tập trung năng suất cao

theo hướng hữu cơ bền vững; đầu tư phát triển thủy lợi tạo nguồn nước tưới; xây dựng

hạ tầng giao thông, hệ thống điện tại các vùng nguyên liệu tập trung; xây dựng hệ

thống thu mua cacao tại địa phương và thông tin về giá để nông dân yên tâm sản xuất.

Tuyên truyền, vận động nông dân, người thu gom và doanh nghiệp về ý thức nâng cao

chất lượng sản phẩm, ý thức về tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng; mở rộng mạng lưới

thương mại và tăng cường trưng bày, giới thiệu sản phẩm cacao nước ta ra thị trường

quốc tế; tăng cường hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, tỉnh sẽ mở rộng hợp tác và tiếp nhận nguồn hỗ trợ từ các tổ chức

nghiên cứu, đầu tư, phát triển cacao trong và ngoài nước, tổ chức phi chính phủ. Điều

quan trọng nhất là chính sách tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận nguồn vốn vay, đáp

ứng nhu cầu đầu tư thâm canh. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các công ty phát

triển vùng nguyên liệu riêng của tỉnh thông qua việc đầu tư ứng trước vốn, giống cây

năng suất cao cho nông dân.Mục tiêu phát triển cây cacao trên địa bàn tỉnh là đ ẩy

mạnh phát triển diện tích cacao ở những vùng có khả năng tưới. Dự kiến quy hoạch

đến năm 2015, tổng diện tích trồng cacao trên địa bàn tồn tỉnh Bình Phước đạt 5000

12



ha và đạt 20 ngàn ha vào năm 2020 (chủ yếu trồng xen dưới tán điều), với năng suất

bình qn 1.5 tấn/ha.

2.3. Thuận lợi và khó khăn khi trồng cacao theo tiêu chuẩn UTZ

2.3.1. Thuận lợi

Trồng cacao xen điều tận dụng được tán điều và không gian dưới gốc điều vì

cacao là loại cây ưa bóng. Trồng cacao xen điều còn tạo ra nguồn thu nhập lớn gấp 2

lần nếu chỉ trồng điều không. Việc đẩy mạnh trồng cacao xen điều theo tiêu chuẩn

UTZ không chỉ giúp nơng dân có sản phẩm chất lượng, tăng thu nhập mà còn đảm bảo

một thị trường ổn định cho người nông dân. Công ty Cagrill đã cam kết thu mua 100%

cacao đạt chứng nhận theo tiêu chuẩn UTZ với giá cao. Công ty Halba Thụy Sĩ, công

ty Ritter Sport cũng đã cử chuyên gia cacao tới Việt Nam để tìm hiểu diện tích trồng

cacao hữu cơ và cam kết sẽ thu mua cacao với giá cao nếu đảm bảo theo tiêu chuẩn

quốc tế... Điều này đã tạo niềm tin cho người nông dân và thúc đẩy họ trồng cacao

theo hướng bền vững.

2.3.2. Khó khăn

Theo nơng dân xã Minh Hưng (hụn Bù Đăng, Bình Phước), dù đã tiến hành

nhiều biện pháp bẫy, đánh thuốc, xua đuổi sóc nhưng vẫn khơng hiệu quả. Sóc thường

tập trung cắn phá vào thời điểm trái cacao già chuyển sang chín và hoạt động cả ban

đêm lẫn ban ngày.Những trái non bị sóc cắn thường thối hỏng, còn những trái chín thì

bị rụng hạt xuống đất, phải tốn tiền thuê nhân công nhặt hạt.Hiện Hội Nông dân xã

Minh Hưng đã có văn bản kiến nghị lên Hội Nông dân huyện và các cơ quan chức

năng tiến hành nghiên cứu các biện pháp để chống sóc, giúp bà con nơng dân n tâm

sản xuất.Ngồi bị sóc phá hại, cacao cũng giống như các loại cây công nghiệp khác, có

nhiều tác nhân gây hại trong suốt q trình sinh trưởng và phát triển như: bọ xít muỗi,

sâu hồng, bọ cánh cứng hại lá, mối, nấm bệnh Phytophthora,…

Sản xuất cacao trong tỉnh Bình Phước còn tồn tại một số hạn chế như: Chưa

quy hoạch được vùng sản xuất tập trung ổn định, sản xuất cacao sạch theo tiêu chuẩn

UTZ (Chứng nhận UTZ Certifed dành cho cacao, cà phê và trà), cacao hữu cơ….

Bên cạnh đó, ngành chưa có sự đầu tư tốt về chất lượng giống cũng như quy trình kỹ

13



thuật.Phần lớn trồng cacao là nơng dân nghèo, thiếu vốn nên ít đầu tư về giống và kỹ

thuật chăm sóc, dẫn tới năng suất, chất lượng hạt cacao có xu hướng giảm.

Tính đến tháng 10 năm 2012, tỉnh Bình Phước có khoảng 1600 ha cacao, trong

đó, diện tích thu hoạch khoảng 600 ha; năng suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha. Bên cạnh

đó, chất lượng hạt cacao cũng được đánh giá cao hơn so với các địa phương khác.Tuy

nhiên việc sản xuất cacao ở tỉnh Bình Phước cũng bộc lộ những mặt tồn tại, hạn chế.

Bất cập lớn nhất hiện nay là tỉnh Bình Phước vẫn chưa xây dựng được vùng sản

xuất tập trung ổn định để thâm canh hiệu quả theo tiêu chuẩn tốt nhất. Thời gian qua,

nhiều người trồng cacao theo phong trào mà chưa quan tâm đến chất lượng giống, kỹ

thuật tưới, kỹ thuật canh tác nên năng suất và chất lượng cacao giảm dần qua từng

năm. Đây là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sản xuất cacao ở Bình Phước chưa đạt

so với tiềm năng.

Theo đề án phát triển cây cacao ở tỉnh Bình Phước, đến năm 2015 diện tích cây

cacao tồn tỉnh đạt khoảng 30 ngàn ha, sản lượng cacao trái tươi 450-500 ngàn

tấn/năm, cacao hạt thương phẩm 40-45 ngàn tấn/năm. Theo đó, Bù Đăng sẽ phát triển

mạnh nhất với 7000 ha, tiếp đến là Bù Đốp với 5000 ha, còn lại các địa phương khác

từ 1000-3000 ha.Để người trồng cacao đạt hiệu quả cao nhất thì vai trò của cơng tác

khuyến nơng các cấp hiện nay là rất quan trọng vì thực tế cho thấy cây cacao nếu

không được đầu tư bài bản sẽ khó cho hiệu quả như mong muốn.

2.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

2.4.1. Tổng quan về huyện Bù Đăng

Bù Đăng là một huyện của tỉnh Bình Phước. Huyện lị là thị trấn Đức Phong.

Địa bàn huyện này thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là khu

dự trữ sinh quyển thế giới.Trong huyện Bù Đăng có sóc Bom Bo nổi tiếng của đồng

bào Stiêng.Huyện Bù Đăng có 15 xã và 1 thị trấn trấn Đức Phong, gờm xã Bom

Bo, Bình Minh, Đồn Kết, Đăng Hà, Đồng Nai, Đức Liễu, Đường 10, Minh Hưng,

Nghĩa Bình, Nghĩa Trung, Phú Sơn, Phước Sơn, Thọ Sơn, Thống Nhất, Đak Nhau.



14



Bù Đăng nằm ở tọa độ 106085’ đến 107067’ kinh đông. Phía bắc và phía đơng

bắc giáp tỉnh Đak Nơng, phía đơng giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây và tây bắc giáp

huyện Phước Long, phía tây và tây Nam giáp huyện Đồng Phú, phía nam giáp tỉnh

Đồng Nai. Huyện Bù Đăng là quận Đức Phong tỉnh Phước Long thành lập năm 1956.

Bảng 2.2. Các Chỉ Tiêu Tổng Hợp của Huyện Bù Đăng

Chỉ tiêu



Đơn vị



2006



Dân số trung bình



người



123,375 129,030



Tỷ lệ tăng tự nhiên



%



2007



2008

128,690



16.8



16.7



16.3



Mật độ dân số



người/km2



83



86



85



Thu nhập bình quân đầu người



1000 đồng



4,940



6,680



8,638



Tổng GTGT ngành nông- lâm nghiệp



triệu đồng



376,400 504,250



587,018



Tổng GTGT ngành CN-XDCB-GTVT



triệu đồng



99,531 146,496



159,976



Tổng GTGT ngành TNDV và các

ngành còn lại



triệu đồng



133,404 193,492



220,710



Thu ngân sách nhà nước



triệu đồng



36,866



64,959



78,736



Thư viện vốn đầu tư



triệu đồng



18,506



50,847



29,761



Ng̀n tin: Phòng thống kê hụn Bù Đăng tháng 03/2010

Hình 2.2. Bản Đồ Hành Chính Huyện Bù Đăng



15



Ng̀n tin: Internet

2.4.2. Tổng quan về các xã nghiên cứu

a. Xã Bom Bo

Bom Bo là một xã thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.Xã Bom Bo có diện

tích 111.17 km², dân số năm 2008 là 14338 người,mật độ dân số đạt 129 người/km².

Bảng 2.3. Bảng Phân Phối Nông Nghiệp Xã Bom Bo

Chỉ tiêu



đơn vị



Hộ nơng nghiệp



hộ



Nhân khẩu nơng nghiệp



2006



2007



2008



2009



5200



5342



2706



2669



người



19960



20191



10672



10894



Lao động nơng nghiệp



người



10188



10432



6428



7005



Diện tích trồng các cây hàng năm



ha



1319



1365



472



514



Diện tích cây cơng nghiệp lâu năm ha



5341



10425



6890



8528



Tổng diện tích điều



4734



9765



6350



7841



ha



Ng̀n tin: sớ liệu thớng kê huyện Bù Đăng tháng 03/2010

b. Xã Minh Hưng

Minh Hưng làxã thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.Minh Hưng có diện

tích 60.82 km², dân số năm 2008 là 8676 người, mật độ dân số đạt 143 người/km².

Bảng 2.4. Bảng Phân Phối Nông Nghiệp Xã Minh Hưng

Chỉ tiêu



Đơn vị



2006



hộ



2475



2290



2180



832



Nhân khẩu nông nghiệp



người



9988



10090



10560



5249



Lao động nơng nghiệp



người



4597



4920



5132



2500



ha



511



432



232



224



Hộ nơng nghiệp



Diện tích trồng cây hàng năm



16



2007



2008



2009



Diện tích cây cơng nghiệp lâu năm



ha



4017



4290



1685



1703



Tổng diện tích điều



ha



2501



2766



1080



1090



Ng̀n tin: số liệu thống kê huyện Bù Đăng tháng 03/2010



c. Xã Bình Minh

Xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước được thành lập vào ngày 1

tháng 3 năm 2008 trên cơ sở tách ra từ xã Bom Bo cùng huyện. Bình Minh rộng

13,286.34 ha và có 11201 nhân khẩu (năm 2008).

Bảng 2.5. Bảng Phân Phối Nông Nghiệp Xã Bình Minh

Chỉ tiêu



đơn vị



Hộ nông nghiệp



2006



2007



2008



2009



hộ



2423



2246



Nhân khẩu nông nghiệp



người



10297



3828



Lao động nông nghiệp



người



6543



4683



Diện tích trồng cây hàng năm



ha



552



602



Diện tích cây cơng nghiệp lâu năm



ha



8175



8222



Tổng diện tích điều



ha



6522



6558



Ng̀n tin: sớ liệu thớng kê hụn Bù Đăng tháng 03/2010



17



CHƯƠNG 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



3.1. Cơ sở lý luận

3.1.1. Khái niệm Nông nghiệp bền vững (Sustainable agriculture SA)

Nông nghiệp bền vữnglà một mục tiêu dài hạn hướng tới sự ổn định vì lợi ích

hiện tại và tương lai của nông dân và xã hội.Nông nghiệp bền vững không nêu ra cụ

thể các hoạt động phải thực hiện mà nó thách thức nơng dân suy nghĩ về hậu quả của

việc canh tác nông nghiệp, cũng như các hoạt động và tương tác của hệ thống nơng

nghiệp.Bao gồm ba mục tiêu chính về mơi trường, kinh tế và công bằng xã hội đó là:

Nông nghiệp bền vững phải có lợi nhuận để nơng dân tiếp tục canh tác, sử dụng đất.

(Ikerd et al 1997). Nông nghiệp bền vững làm tăng thêm tính bền vững về mơi trường

bằng cách đề cập đến việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên

không tái tạo và sự thống nhất của chu kỳ sinh học (Norman năm 1997; Ikerd et al

1997).Nông nghiệp bền vững tối thiểu phải đạt yêu cầu duy trì được chất lượng cuộc

sống của nông dân và xã hội (Ikerd et al 1997; Norman et al 1997;SWCS 1995).

Cơ sở chấp nhận chuyển sang nông nghiệp bền vững thông qua hoạt động nông

nghiệp chính là truyền thống canh tác của nơng dân có những hoạt động theo hướng

nông nghiệp bền vững như luân canh cây trồng, cây che phủ, cho đất nghỉ ngơi, kiểm

soát sâu bệnh, cải tạo đất và một số hình thức khác (SARE 2003; Horrigan et al 2002.).

Cơ sở chấp nhận chuyển sang nông nghiệp bền vững thông qua công nghệ mới:

Các nghiên cứu của các ngành như xã hội học, kinh tế, khoa học chính trị, truyền

thơng và y tế cơng cộng đã góp phần đổi mới phương thức canh tác nơng nghiệp của

nơng dân (Wejnert 2002).



Hình 3.1. Mục Tiêu Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững



Nguồn: Trung tâm KNKN Bù Đăng

3.1.2. Chứng nhận

a.Khái niệm chứng nhận

Chứng nhận là khi một bên thứ ba đưa ra một đảm bảo bằng văn bản rằng một

sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, q trình, con người hoặc tổ chức phù hợp với những

yêu cầu cụ thể (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam).

Một giấy chứng nhận là văn bản được bảo đảm được cấp bởi một cơ quan

chứng nhận độc lập xác định rằng quá trình sản xuất hoặc sản phẩm tuân thủ một tiêu

chuẩn nhất định. Các tiêu chuẩn này có thể tập trung vào các vấn đề môi trường (như

là bảo tồn đất, bảo vệ nguồn nước, sử dụng thuốc BVTV hay quản lý chất thải), hoặc

các vấn đề xã hội (như thu nhập của người sản xuất, quyền của người lao động, an

toàn và sức khỏe nghề nghiệp) hoặc về các khía cạnh khác như an tồn thực phẩm.



19



Tại sao các chương trình chứng nhận tồn tại?

Chứng nhận mang đến nhiều cơ hội cho người sản xuất như việc thâm nhập thị

trường, bảo vệ các nguồn lực ở địa phương, cải thiện điều kiện sống và sức khỏe cho

người làm việc trong cộng đồng nơng thơn.Nó cũng có thể đảm bảo sức khỏe cho

người tiêu dùng.Người tiêu dùng ngày càng nhận thức tốt hơn về những vấn đề xã hội,

môi trường liên quan đến quá trình sản xuất và thương mại thực phẩm họ tiêu thụ.Đáp

ứng lại những mối quan tâm này, các hình thức khác nhau của các chương trình cấp

giấy chứng nhận đã được các tổ chức tư nhân và nhà nước triển khai.

Lợi ích của chứng nhận

Giấy chứng nhận dùng để chứng minh một sản phẩm nào đó đã được sản xuất

theo một phương thức nhất định hoặc có các đặc tính nhất định phù hợp với một tiêu

chuẩn. Nó được dùng chủ yếu khi nhà sản xuất và người tiêu dùng khơng có liên hệ

trực tiếp, ví dụ như trên thị trường quốc tế, nơi mà người tiêu dùng không thể dễ dàng

xác định sản phẩm đã được sản xuất theo đúng cách như mô tả của nhà sản xuất.Giấy

chứng nhận có thể giúp phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác, điều đó có thể

giúp cho việc quản bá sản phẩm trên thị trường. Giấy chứng nhận cũng có thể giúp

tăng cường thâm nhập thị trường và trong một vài trường hợp kết quả làm tăng giá

thành sản xuất.

Các thị trường nhập khẩu lớn như Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU đang nở rộ thị

trường cho những sản phẩm được chứng nhận.Các sản phẩm được chứng nhận hữu cơ,

công bằng thương mại thường sẽ được bán với giá cao hơn sản phẩm tương tự khơng

có chứng nhận. Các nước này đang nhập khẩu lượng đáng kể các sản phẩm hữu cơ từ

các nước Châu Á. Ví dụ: chè hữu cơ từ Trung Quốc và Ấn Độ, cà phê hữu cơ từ Đông

Timo, chuối hữu cơ từ Philippin và rau hữu cơ từ Trung Quốc…

Chi phí cho việc chứng nhận

Có hai loại chi phí liên quan: (1) Chi phí của việc đáp ứng một tiêu chuẩn để

được chứng nhận, chi phí này phụ thuộc vào những thay đổi mà người sản xuất phải

tiến hành tại trang trại của họ và phụ thuộc vào loại chương trình chứng nhận được

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

UTZ Certified đến Việt Nam vào cuối năm 2001 và triển khai công tác chứng nhận vào năm 2002 trên cây cà phê ở Tây Nguyên và trên cây cacao Bến Tre, Tiền Giang từ năm 2010. Vào cuối tháng 3/2011 Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư đã phối hợp với công ty ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×