Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Bảo Lộc

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Bảo Lộc

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.2.3 Khí hậu

Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do nhiệt độ cao trên 800m và tác động

của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét đặc trưng sau:

+ Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22oC, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4oC, nhiệt

độ thấp nhất trong năm là 16,6oC

+ Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ ngày (tháng mùa mưa:

2-3 h/ngày, tháng mùa khô: 6-7h/ ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình

thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.

+Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 1.513mm, số

ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.

+ Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80 -90%.

+ Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:

* Gió Đơng Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4

* Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9

+ Nắng ít, độ ẩm khơng khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo

nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất này.

2.2.4 Thủy văn

Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:

+ Hệ thống sơng DaR’Nga: phân bố ở phía đơng thành phố Bảo Lộc, là ranh giới

giữa thành phố và huyện Bảo lâm, các phụ lưu lớn của sông trong thành phố bao gồm có:

suối DaSre Drong, suối DaM’ Drong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm

phục vụ cho sản xuất nơng nghiệp.

+ Hệ thống suối Đại Bình: phân bố chủ yếu ở phía Nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ

dãy núi cao ở phía Nam và Tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối Dalab, suối Tân Hồ,

suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định

cho thung lũng Đại Bình.

+ Hệ thống suối ĐamB’ri: là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung

ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB’ri có

nhiều nghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.

7



+ Nước ngầm: nhìn chung trữ lượng nước ngầm ở khu vực Bảo Lộc tương đối

khá, chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục vụ cho sản

xuất nông nghiệp và công nghiệp.

2.2.5 .Lịch sử

Năm 1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng cũ, một vùng rộng

lớn của tỉnh Đồng Nai thượng ngày xưa, bao gồm cả huyện Đa Huoai, Đại Tẻh, Cát Tiên

và huyện Bảo Lâm mới được tách ra và thành lập sau này. Vùng Bảo Lộc xưa là nơi sinh

sống chủ yếu của người Mạ. Bảo Lộc đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác khá sớm

cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt. Năm 1899, một phái đồn người Pháp do

ơng Ernest Outrey chỉ huy mở một cuộc thám hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai

Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này với Bình Thuận. Ngày 1-11-1899,

Tồn quyền Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đặt tỉnh lỵ tại

Djiring. Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, sát nhập vào tỉnh Bình Thuận.

Năm 1920 tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, gồm có 3 quận: BLao (Bảo Lộc), Djiring

(Di Linh) và Dran-Fyan (Đơn Dương). Ngày 19-5-1958, chính quyền Ngơ Đình Diệm

đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng là Lâm Đồng và sau đó tách quận Dran ra khỏi tỉnh Lâm

Đồng, sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn 2 quận: Bảo Lộc và Di

Linh. Ngày 30-11-1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc

kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Sau ngày thống nhất đất nước, huyện Bảo lộc lần lượt tách thành các huyện Bảo Lộc, Đa

Huoai, Đại Tẻh, Cát Tiên. Ngày 11-7-1994, Chính phủ quyết định chia huyện Bảo Lộc

thành 2 đơn vị hành chính là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.

Tháng 3-2009, Bảo Lộc được công nhận là đô thị loại 3 thuộc tỉnh và ngày 8-4-2010,

chính phủ đã ra nghị quyết thành lập thành phố Bảo Lộc (trực thuộc tỉnh Lâm Đồng).

2.2.6. Cơ cấu dân số

Theo thống kế năm 1999, dân số Bảo Lộc có 135.313 người. Sự hình thành dân số

Bảo Lộc chia làm 3 nhóm:

Trong số các dân tộc bản địa, dân tộc Mạ chiếm tỉ lệ cao nhất. Buôn làng người

Mạ là tổ chức xã hội duy nhất có tính xã hội tương đối hoàn chỉnh, tương đối độc lập và

8



tách biệt khép kín về khu vực canh tác, khu vực cư trú. Với thiết chế xã hội chặt chẽ, hiện

nay một bộ phận vẫn còn sản xuất theo lối tự nhiên, cuộc sống còn khó khăn. Người Kinh

đến bảo Lộc trước năn 1975 thường sống tập trung ở các phường Lộc Tiến, Lộc Phát, xã

Lộc Châu, Lộc Thanh, Lộc Nga, dọc theo Quốc lộ 20, được đầu tư cơ sở hạ tầng khá, tiếp

cận sớm với cơ chế thị trường, năng động, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất hàng hóa.

2.2.7. Kinh tế

Khác với Đà Lạt, Bảo Lộc được khai thác mạnh về nông nghiệp, công nghiệp,

nhiều nông trang, đồn điền đã được các tập đoàn người pháp lập nên từ những năm 19301940 để trồng caphe, chè v.v....về sau, nhân dân phát triển trồng cây dâu tằm, cây ăn quả.

Cây chè có một lịch sử khá lâu đời tại Bảo Lộc (trên 50 năm) đã khẳng định ưu thế tuyệt

đối mặc dù có những bước thăng trầm nhất định do nhiều yếu tố khác nhau. Cho đến nay

cây chè Bảo Lộc vẫn tiếp tục phát triển về diện tích và sản lượng. Năm 1999, Bảo Lộc có

8.743ha chè với sản lượng 45.311 tấn chè búp tươi, trong đó khu vực quốc doanh đã

chiếm gần 20% diện tích và 70% cơng suất chế biến. Ở Bảo Lộc đã hình thành vùng sản

xuất tập trung chun mơn hóa cao, gắn dược sản xuất nguyên liệu với công nghệp chế

biến, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước. Cây chè gần như chiếm vị trí

độc quyền ở các tỉnh phía Nam. Thị trường xuất khẩu chè được tiếp tục mở sang các

nước Cộng Hòa Liên bang Nga, Pháp, Châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ, Xin-ga-po,

Hồng Cơng, Đài Loan, Ả Rập v v... Bảo Lộc có 6.144ha cà phê với sản lượng 8.478 tấn

cà phê nhân, giữ vị trí thứ 4 sau Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm. Đây là cây có giá trị xuất

khẩu cao, rất thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của Bảo Lộc. Bảo Lộc cũng là địa

phương có điều kiện để đưa ngành dâu tằm tơ trở thành ngành kinh tế- kỹ thuật tiên tiến,

có quy mơ lớn, khép kín từ khâu nuôi tằm đến ươm tơ, dệt lụa. Cây ăn quả cũng rất thích

hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhờ có đặc điểm là cho các sản phẩm trái mùa với

các tỉnh phía Nam, đó là sầu riêng, chơm chơm, mít tố nữ, bơ v.v…

Cơng nghiệp của thành phố chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh, bao gồm

các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc v.v… Các nhà máy, xí nghiệp tập

trung ở khu cơng nghiệp Lộc Sơn, phường 2 và khu vực xã Đại Lào. Bảo Lộc có tiềm



9



năng lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khống sản. Tại đây có trữ lượng boxit

và cao lanh, trong đó boxit có khoảng 378 triệu tấn với trữ lượng loại C1.

Ngành bưu chính- viễn thơng phát triển mạnh, đạt chỉ tiêu 7 máy/100 dân; tổng đài

EWSD 3.000 số phục vụ thông tin liên lạc trực tiếp trong nước và ngồi nước.

Ngành phát thanh truyền hình khơng ngừng phát triển, tồn thành phố có một đài

phát thanh- truyền hình và 9 đài phát thanh ở các xã, phường.

2.2.8 Du lịch

Bảo Lộc có nhiều thắng cảnh như đèo Bảo Lộc, thác Đam Bri, hồ Nam Phương,

suối Đá Bàn, núi Đại Bình, suối Tân Thành v.v…Bên cạnh các thắng cảnh thiên nhiên đó

là những vườn, đồi trà thoai thoải xanh mượt, thỉnh thoảng vươn lên những hàng cây che

bóng, phía sau là những ngọn núi cao đã làm cho Bảo Lộc càng thêm xinh đẹp, bao la, trù

phú.

Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên đây là nơi lý tưởng đề xây các khu du lịch

nghỉ dưỡng. Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB’ri, thác Bảy Tầng, Hồ

Nam Phương, suối Đá Bàn v. v…

Khu du lịch ĐamB’ri nổi tiếng với thác nước hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng

nguyên sinh, là nơi có thể nghỉ dưỡng, cắm trại v. v…

2.2.9. Giáo dục, y tế

Hệ thống giáo dục mẫu giáo, phổ thông phát triển tốt. Trong năm 1999-2000, tồn

thành phố có 38 trường với tổng số 35.868 học sinh. Trường kĩ thuật và dạy nghề Bảo

Lộc (trước đây là trường nông lâm súc đươc thành lập từ năm 1959) đã có những tác

động tích cực cho vùng sản xuất chuyên canh chè, càphê, dâu tằm của thành phố.

Mạng lưới y tế đã được phát triển tận cơ sở xã phường và từng bước được xã hội

hóa. Có được ngày hơm nay, khơng thể nào qn được cuộc đấu tranh gian khổ của biết

bao đồng chí, đồng bào trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ngay tại mảnh

đất Bảo Lộc xanh tươi này.

2.3. Tổng quan về chè

Chè là cây cơng nghiệp lâu năm có lịch sử trồng trọt lâu đời nhât. Là loài cây xanh

lá quanh năm, hoa màu trắng, thân bụi, tán cây rộng, thấp, phân cành nhiều. Chè trồng

10



một lần có thể thu hoạch 30-40 năm hoặc lâu hơn nữa. Chịu tác động của điều kiện sinh

thái trong quá trình sống nhưng so với một số lồi cây thì khơng nghiêm khắc lắm. Để

sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao và ổn định cần bổ sung đầy đủ dưỡng chất,

nước…

Là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày được mở rộng. Ở

nước ta, chè có giá trị xuất khẩu rất cao. Căn cứ vào năng suất trung bình năm 1969 của

khu vực nơng trường quốc doanh (4,24 tấn/ha), xét về mặt xuất khẩu thì một ha chè so

với một số cây công nghiệp dài ngày của cùng khu vực này thì bằng hơn 5 lần so với một

ha cà phê, gần 10 lần so với 1 ha sả.

Thu hoạch trên búp chè, búp chè là đoạn non của một cành chè, là nguyên liệu để

chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè.

Bảo Lộc, giống chè cành chủ yếu là Shan, TB14, tán trà rộng, chất lượng tốt, búp to, có

nhiều bạch mao thích hợp với thị yếu tiêu thụ, tồn thành phố có khoảng 1583 ha chiếm

19,1% tổng diện tích chè của địa phương, năng suất trong điều kiện bình thường là 15-16

tấn/ha, thâm canh đúng kĩ thuật là 26-28 tấn /ha . Từ thưc tế canh tác giống chè này cho

năng suất trung bình khoảng 18-20 tấn/ha, có hàm lượng đạm và hòa tan cao, cafein thấp,

khả năng chống chịu sâu bệnh khá cao theo.

2.4. Tổng quan về thuốc BVTV và tình hình sử dụng ở Việt Nam hiện nay

2.4.1. Lịch sử phát triển

+Trên thế giới: Theo Daniel D. Chras (1991), trong những năm gần đây hóa

chất BVTV đã trở thành phương tiện thiết yếu trong việc quản lý các loài dịch hại. Thuốc

BVTV là các hóa chất sử dụng để tiêu diệt các loài dịch hại bao gồm cỏ dại, lồi gặm

nhấm và cơn trùng. Thuốc BVTV thế hệ đầu tiên là những hợp chất đơn giản được sử

dụng từ tro, lưu huỳnh, arsenic, thuốc lá, hydrogen cyanic, kẽm, thủy ngân. Ngày nay

người ta ít sử dụng những hợp chất này vì chúng độc hoặc khơng có tác dụng hữu hiệu.

Tuy nhiên, nhiều hợp chất vẫn còn tồn dư trong đất đến khoảng 50 năm sau.

Vào năm 1939, nhà hóa học người Thụy Sỹ Paul Muller đã khám phá ra thuốc diệt

côn trùng từ các chất hữu cơ tổng hợp là DDT (dichlorodiphenyltrichloroethane). Đây là

thời kỳ đầu của thế hệ thuốc BVTV thứ hai. Thời kì này xuất hiện những hợp chất hữu cơ

11



tổng hợp tiêu diệt được nhiều loại cơn trùng khác nhau. Trong vòng 25 năm, sự xuất hiện

của DDT như là cứu tinh cho nhân loại.

Chiến lược sử dụng các tác nhân tự nhiên để kiểm soát dịch hại và khơng sử dụng

hóa chất nên thế hệ hóa chất thứ hai vẫn được duy trì một phần. Tuy nhiên ngày nay các

tác nhân hóa học đã được phát triển như pheromore, hormonn hóa chất BVTV tự nhiên.

Những loại hóa chất này là thuốc BVTV thứ ba. Đây là những hóa chất tổng hợp có hoạt

tính tương tự những chất của cơ thể côn trùng sản xuất, với mục đích làm rối loạn q

trình giao phối và đẻ trứng, từ đó kiểm sốt sự gia tăng dân số các loại dịch hại trong

trường hợp đối với pheromone, hay can thiệp vào chu kỳ sống các lồi cơn trùng như

trường hợp các homone hoặc sử dụng một số chất diệt côn trùng tự nhiên do một số cây

tự sản xuất ra như trường hợp đối với các hóa chất tự nhiên. Điểm thuận lợi của các chất

này là có thể phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, không độc và dễ dàng bị phân hủy

bởi vi khuẩn, sử dụng nồng độ thấp cho những lồi đặc trưng mà khơng ảnh hưởng tới

mơi trường. Tuy nhiên có khut điểm là phí tốn cao trong việc đưa ra nghiên cứu và

tổng hợp những loại pheromone, hormone, chất BVTV tự nhiên mới (Daniel D. Chias,

1991).

+ Tại Việt Nam: Theo ông Bùi Cách Tuyến, Trần Ngọc Viễn (1996), từ thế

kỷ 19 trở về trước, ngành hóa BVTV khơng xuất hiện ở Việt Nam. Trước các dịch hại,

nông dân Việt Nam chỉ dùng các biện pháp mê tín dị đoan hơn là có cơ sở phòng trị. Tới

đầu thế kỷ 20, cùng với sự phát triển nông nghiệp Việt Nam mà chủ yếu là các đồn điền,

trang trại lớn, việc sử dụng hóa chất bắt đầu. Thuốc được sử dụng trong thời kỳ này vẫn

là các chất vô cơ. Từ những năm 1980 trở về trước, các thuốc được sử dụng nhiều vẫn là

gốc clo và lân hữu cơ, các thuốc bị cấm như DDT, lidan v.v… Phải tới cuối thập niên 80

trở lại đây, các hóa chất được sử dụng phong phú hơn, có hiệu quả cao, liều lượng thấp,

thời gian tồn lưu ngắn trên nơng sản và mơi trường.

2.4.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV nước ta hiện nay

Hàng năm, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư Danh mục thuốc BVTV. Đến

nay, Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt

Nam bao gồm:

12



Danh mục thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam: Với 1446 hoạt chất, 3564 tên thương

mại bao gồm thuốc trừ sâu 662 hoạt chất (1.549 tên thương phẩm); thuốc trừ bệnh 468

hoạt chất (1098 tên thương phẩm); thuốc trừ cỏ 195 hoạt chất (584 tên thương phẩm);

thuốc trừ chuột 10 hoạt chất (21 tên thương phẩm); thuốc điều hòa sinh trưởng 49 hoạt

chất (133 tên thương phẩm) v.v…

Danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng: 15 hoạt chất trong đó: thuốc trừ sâu 4

hoạt chất, thuốc trừ chuột 1 hoạt chất và trừ mối 2 hoạt chất, bảo quản lâm sản 5 hoạt

chất, khử trùng kho 3 hoạt chất.

Danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng: thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản lâm sản 21

hoạt chất, trừ bệnh 6 hoạt chất, trừ chuột 1 hoạt chất, thuốc trừ cỏ 1 hoạt chất.

Hằng năm, Cục BVTV và Chi cục BVTV lấy mẫu rau tại các vùng sản xuất và

trên thị trường để kiểm tra về dư lượng thuốc BVTV. Kết quả từ năm 2006 đến nay, tỷ lệ

mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt quá mức giới hạn cho phép vẫn ở mức cao (8,53%).

Theo số liệu kiểm tra từ năm 2007 - 2009, tỷ lệ số hộ vi phạm: 35 -17,8 %, trong đó:

khơng đảm bảo thời gian cách ly: 2,0 - 8,43%, không đúng nồng độ và liều lượng: 10,24 14,34 %, sử dụng thuốc cấm: 0,19 - 0,0 % , thuốc ngoài danh mục: 2,17 -0,52 %. Mặc dù

việc sử dụng thuốc có nhiều tiến bộ, trình độ nhận thức của người dân được tăng lên

nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: sử dụng không đúng liều lượng, không tuân thủ thời gian

cách ly; sử dụng thuốc BVTV khơng có trong danh mục thuốc. Tăng liều lượng so với

khuyến cáo, hỗn hợp nhiều loại thuốc trong một lần phun, phun thuốc định kỳ theo tập

quán, tỷ lệ phun theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật còn rất thấp; vỏ bao bì thuốc BVTV

sau khi sử dụng chưa được thu gom, vứt bừa bãi trên đồng ruộng.



13



CHƯƠNG 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



3.1. Cơ sở lý luận

3.1.1. Khái niệm và phân loại chè

Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thưc vật ngành hạt kín Angiospermae, lớp

song tử diệp Dicotyledonae, bộ chè Theales, họ chè Theaceae, chi chè Camellia, loài

Camellia sinensis.

Cơ sở phân loại chè thường dựa vào:

-Cơ quan dinh dưỡng: loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng tán, hình dạng kích

thước các loại lá, số đơi gân lá v.v…

-Cơ quan sinh thực: dộ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của

đầu nhị cái.

-Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin. Mỗi giống chè đều có hàm

lượng tannin biến động trong phạm vi nhất định.

Theo Cohen Stuart (1919), chè đước chia làm 4 loại đó là: chè Trung Quốc lá to,

chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Shan và chè Ấn Độ. Tất cả đều được trồng ở Việt Nam

nhưng chủ yếu là Trung Quốc lá to và chè Shan

+ Chè Trung Quốc lá to: trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên có thể cao tới 5m, lá

to trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu, khơng

đều, đầu lá nhọn, trung bình 8-9 đơi, gân lá rõ, năng suất tốt.

+Chè Trung Quốc lá nhỏ: cây bụi thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ, nhiều gợn song,

màu xanh đậm lá dài 3,5-6,5cm, có 6-7 đơi gân lá khơng rõ, răng cưa nhỏ, không đều,

búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp



+Chè Shan: thân gỗ cao từ 6-10m, lá to, dài, răng cưa nhỏ, dày, tơm chè có nhiều

long tơ, trắng mịn trơng như tuyết, có khoảng 10 đơi gân lá, có khả năng thích ứng trong

điều kiện ẩm, ở địa hình cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất.

+Chè Ấn Độ: thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30cm, mỏng mềm,

thường có màu xanh đậm, lá hình bầu dục, phiến lá gợn song, đầu lá dài, trung bình 1215 đơi gân lá, ít hoa quả, khơng chịu được rét hạn, năng suất tốt.

Các giống chè cành ở Bảo Lộc đều được nhân giống từ chè Shan, cây con được

sản xuất bằng cành.

3.1.2. Khái niệm nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững trước hết năng suất cây trồng vật nuôi trên cùng một

mảnh đất phải ổn định và có xu hướng ngày càng được nâng cao, hiệu quả kinh tế cũng

được nâng cao, nuôi sống được nhiều người và mức thu nhập công ngày được cải thiện

mà không hủy hoại tới môi trường tự nhiên và cộng đồng xung quanh.

3.1.3. Khái niệm thuốc BVTV

Điều 1 của điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo nghị định 92/CP ngày

27/11/1993) của Chính phủ ghi (Cục BVTV trung tâm kiểm định thuốc BVTV phía Nam,

1998):

“Thuốc BVTV bao gồm các chế phẩm phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực

vật: các chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thưc vật; các chế phẩm có tác dụng

xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thưc vật để tiêu diệt”.

3.1.4. Các nhóm thuốc BVTV

Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm theo cơng dụng của chúng: thuốc trừ

sâu, thuốc trừ nhện hại cây, thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên, thuốc trừ chuột, thuốc

trừ chim hại màu màng, thuốc trừ động vật hoang dại mùa màng, thuốc trừ sâu bệnh hại

nông sản trong kho, thuốc trừ nấm (còn gọi là thuốc trừ sâu bệnh), thuốc trừ cỏ dại, thuốc

trừ thân cây mộc, thuốc làm rụng lá cây, thuốc làm khơ cây, thuốc điều hòa sinh trưởng.

Được sử dụng phổ biến nhất trong những thuốc BVTV trên là các nhóm thuốc trừ sâu,

thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại. Tuy nhiên mỗi loại thuốc BVTV chỉ diệt trừ một số



15



loại dịch hại nhất định, chỉ thích hợp với những điều kiện nhất định như thời tiết, đất đai,

cây trồng, kĩ thuật canh tác…

3.1.5. Các phương pháp sử dụng thuốc BVTV

Có thể sử dụng thuốc BVTV theo nhiều phương pháp, tùy theo dạng thuốc. Các

dạng thuốc nước (dung dịch, nhũ dầu, huyền phù nước…), các dạng thuốc bột (hoặc

thuốc hạt) thấm nước hoặc hòa tan dùng hòa với nước để phun lên cây, dạng hạt khô

dùng rải xuống đất, các dạng thuốc bột chỉ dùng phun bột.

3.1.6. Tác dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp

Thuốc BVTV đóng vai trò rất lớn trong sản xuất nơng nghiệp. Giúp bảo vệ mùa

màng, tăng năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế.

Ưu điểm : Tiêu diệt dịch hại nhanh chóng và triệt để, trong thời gian ngắn có thể sử dụng

trên diện tích rộng.

Nhược điểm : Dễ gây hại với người, gia súc, phá hủy hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường,

để lại dư lượng trong nông sản gây ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

Diệt nhiều thiên địch, dễ làm nảy sinh tính kháng thuốc, có thể làm phát sinh những đối

tượng thiên địch hại.

3.1.7. Khái niệm dư lượng thuốc

Dư lượng thuốc là: “những chất đặc thù còn tồn lưu trong lương thực và thực

phẩm, trong sản phẩm nông nghiệp và thức ăn vật nuôi do việc sử dụng thuốc gây nên”

(Phan Văn Duyệt, 2000)

3.1.8. Những ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe con người

Ảnh hưởng tới mơi trường

Về bản chất hóa học, thuốc BVTV có nguồn gốc từ nhân tạo. Càng ngày chúng

được con người đưa vào môi trường với một lượng lớn. Các hóa chất này khi đưa vào

thiên nhiên dưới tác động của ánh sang, nhiệt độ, độ ẩm, vi sinh vật bắt đầu phân hủy.

Thời gian phân hủy tương đối lâu: đối với nhóm lân hữu cơ là vài tháng đến khoảng 2

năm, nhóm Clo hữu cơ, thời gian này là vài năm, thậm chí vài chục năm. Như vậy, chắc

chắn sẽ xảy ra thuốc BVTV được dùng ở mùa trước chưa kịp phân hủy, con người đã

tung vào thiên nhiên một lượng mới. Vơ tình con người bắt thiên nhiên phải tải một

16



lượng lớn hóa chất khơng đáng có ra tự nhiên, và dần dần đến suy thối, ơ nhiễm mơi

trường đất (Vũ Khắc Nhượng, 1994).

Ngồi ra, thuốc BVTV còn đi vào mơi trường nước thơng qua cách xử lí chai lọ

khơng đúng, tồn dư trong đất sẽ vào nước, từ nơi tồn dư cao theo dòng nước sẽ về nơi tồn

dư thấp hoặc khơng có, có thể nói mơi trường nước bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng

(Đặng Minh Phương,1998). Việc tồn dư trong nước gây ô nhiễm nguồn nước, các loài

sinh vật sống dưới nước, hệ sinh thái dưới nước, và ảnh hưởng tới con người.

Ảnh hưởng tới con người

Việc tồn dư thuốc BVTV trong lương thực, thưc phẩm, nguồn nước ảnh hưởng tới

sức khỏe con người và các động vật máu nóng. Như vụ ngộ độc Cabaryl Ấn Độ, nhiều

người than phiền chúng đau ngực và kích thích mắt nặng. Nhiều trẻ em và người lớn chết

ngay sau khi tiếp xúc (khoảng 6000 người), số người mang bệnh tật khoảng 200000

người (Daniel. D Chiras, 1991).

Ngộ độc cấp thường biến mất ngay sau khi ngưng tiếp xúc, và thường gây ra bởi

nồng độ quá cao hóa chất trong một thời gian tiếp xúc ngắn. Ngộ độc mãn tính xảy ra

chậm nhưng kéo dài. Tác dụng ẩn bên trong chẳng hạn như ung thư ở Thụy Điển, vào

những năm 50, tỉ lệ người mắc ung thư gia tăng do ảnh hưởng các loài thuốc BVTV, độ

biến gen, dị tật bẩm sinh, suy giảm chức năng sinh sản tạo ra gánh nặng nghiêm trọng

cho xã hội. Năm 1989, Ủy ban bảo vệ tài nguyên tự nhiên của Mỹ thông báo kết quả cuộc

nghiên cứu sức khỏe của trẻ em trong 2 năm liên quan đến thuốc trừ sâu, và đưa ra kết

luận rằng trẻ em tiếp xúc với mưc độ nguy hiểm của thuốc trừ sâu trong hoa quả và ở cải

sẽ phát triển ung thư nếu chúng chỉ tiếp xúc 8 trong số nhiều loại thuốc trừ sâu. Theo

nghiên cứu, có khoảng 5500-6200 trẻ nằm trong trường hợp này (Daniel. D Chiras,

1991).

3.1.9 Dãn nhãn sinh thái

a) Khái niệm

Dán nhãn sinh thái là một chứng nhận của nhà nước hoặc tổ chức thứ ba cấp cho

một sản phẩm khơng gây ơ nhiễm trong q trình sản xuất ra sản phẩm đó hay trong q

trình sử dụng. Đặt nhãn sinh thái thường đước xem xét và dán cho các sản phẩm từ phế

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Bảo Lộc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×