Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Mục tiêu nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trình bày cơ sở lí luận có liên quan như: Các khái niệm về nông nghiệp bền vững,

thuốc BVTV, các nhóm thuốc BVTV, phương pháp sử dụng và bảo vệ thuốc, khái niệm

chè sạch, chè an toàn, dán nhãn sinh thái và các cơ sở nghiên cứu có liên quan. Nêu lên

các phương pháp thưc hiện đề tài, các công cụ thực hiện đánh giá liên quan.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng năng suất chè cành. Đánh giá mức độ ảnh

hưởng thuốc BVTV đối với sức khỏe người trồng chè cành, từ đó có các giải pháp nhằm

thúc đẩy phát triển chè cành và bảo vệ sức khỏe con người.

Chương 5. Kết luận và Kiến nghị

Nêu tổng quát kết quả nghiên cứu đạt được cũng như những hạn chế của đề tài.

Ngồi ra còn đề xuất một số kiến nghị với cơ quan để có hướng phát triển hơn đối với

ngành chè nói chung và chè cành nói riêng.



3



CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN



2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của một loại cây trồng, tính mức tối ưu của các

yếu tố đầu vào như thuốc BVTV, phân bón ln là đề tài mà các nhà kinh tế quan tâm và

đang cố gắng tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho viêc sử dụng các yếu tố đầu vào

một cách hợp lí và hiệu quả.

Nghiên cứu “Tác động của việc sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa đến nuôi

trồng thủy sản tại ĐBSCL” do Đặng Minh Phương thưc hiện năm 2002, chứng minh rằng

việc sử dụng thuốc trừ sâu là ngun nhân chính, gây ơ nhiễm môi trường nước và những

tác động bất lợi trong việc ni trồng và đánh bắt thủy sản. Nó làm tăng giá cả, suy yếu

sức khỏe người nông dân và người tiêu dùng, suy giảm đa dang sinh học. Những thiệt hại

này khơng nằm trong chi phí sản xuất. Tác giả tính được tổng thiệt hại do việc sử dụng

sai thuốc trừ sâu ở ĐBSCLlà khoảng 9 tỷ trong năm 2001.

Đinh Xuân Thắng và cộng tác viên (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hóa chất

bảo vệ thưc vật tới sức khỏe nông dân trồng rau ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh. Kết

quả cho thấy, tiếp xúc lâu dài với thuốc BVTV có thể dẫn tới rối loạn tim phổi, thần kinh,

các triệu chứng về máu và các bệnh về da, sử dụng thuốc BVTV có ảnh hưởng tiêu cực

đáng chú ý tới người nông dân. Tẩn suất các rủi ro về sức khỏe được đánh giá là có liên

quan đến mức độ liều lượng sử dụng, loại thuốc sử dụng và một số đặc điểm cá nhân của

người sử dụng thuốc. Tuy nhiên tác giả vẫn chưa lượng hóa được rủi ro và thiệt hại kinh

tế về sức khỏe của người nông dân do tiếp xúc với thuốc. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu

Dũng và cộng tác viên (1997) đã tập trung đánh giá tác động của thuốc trừ sâu đến năng

suất lúa và sức khỏe người dân thông qua mơ hình hồi quy tuyến tính trên cây lúa tại



đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy đã ước tính được chi phí sức khỏe của

người dân khi tiếp xúc trực tiếp với thuốc là 43.390 đồng/ vụ và 91.390 đồng/ vụ nếu

cộng với chi phí cơ hợi. Ngồi ra khi tăng 1% tổng lượng thuốc BVTV thì chi phí y tế sẽ

tăng lên 0,385%. Đồng thời khi tăng 1% lượng thuốc trừ sâu sẽ tăng chi phí y tế 0,075%

và 0,1445 chi phí y tế nếu tăng 1% lượng thuốc diệt cỏ. Nghiên cứu “Kết quả kinh tế và

sức khỏe thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Hữu

Dũng và Trần Thị Thanh Dung (1999), các tác giả đã tập trung đánh giá tác động sử dụng

thuốc BVTV lên sức khỏe người dân và chỉ ra mối quan hệ giữa thuốc BVTV và năng

suất lúa. Nghiên cứu cho thấy trung bình người dân lạm dụng 274,4 gram thành phần

hoạt chất trừ sâu, gây thiệt hại khoảng 105.644 đồng/ha.

“Khảo sát dư lượng của một số thuốc BVTV thường sử dụng trên cây trà” của

Trần Thị Hồng Loan (1999) đề tài thực hiện trên hai huyện Bảo Lâm và Bảo Lộc, kết quả

cho thấy các hộ vẫn còn sử dụng thuốc trừ sâu nằm trong danh mục cấm hay hạn chế

như: Methamidophos, methyl pathion, monoceotophos. Riêng Methamidophos, dư lượng

trên 80% số mẫu nhưng chưa vượt quá dư lượng cho phép nhưng cũng chứng tỏ rằng

thuốc BVTV vẫn còn tồn đọng trên lá trà tươi, đó là khi đề tài thực hiện vào mùa khơ,

vào mùa mưa, có thể dư lượng thuốc nhiều hơn vì có sương và mưa, nên người trồng chè

phải tăng lượng thuốc lên.

2.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.2.1 Vị trí địa lí

Thành phố Bảo Lộc ngày nay là một trong hai trung tâm lớn của tỉnh Lâm Đồng

nằm trên cao nguyên Di Linh- Bảo Lộc, ở độ cao 800-1000m; phía bắc, đơng, nam giáp

huyện Bảo Lâm; phía tây và tây nam giáp huyện đạ Huoai. Với diện tích tự nhiên 232,4

km2, Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính gồm 6 phường (phường B’Lao, phường 1,

phương 2, Lộc phát, Lộc Tiến, Lộc Sơn) và 5 xã (Lộc Nga, Lộc Châu, Đam Bri, Lộc

Thanh, Đại Lào).



5



Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Bảo Lộc



Nguồn:http://www.lamdong.org.vn

2.2.2 Địa hình

Địa hình thành phố Bảo Lộc có ba dạng địa hình chính: núi cao, đồi dốc và thung

lũng.

+ Núi cao: phân bố tập trung ở phía Tây Nam thành phố Bảo Lộc, bao gồm các

ngọn núi cao từ 900 đến 1100m, độ dốc lớn. Diện tích khoảng 2500ha, chiếm 11% diện

tích tồn thành phố

+ Đồi dốc: bao gồm các khối bazan bị chia cắt mạnh tạo nên các ngọn đồi vá các

dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng với độ cao phổ biến từ 800-850m. Độ dốc sườn đồ

lớn, rất dễ bị sói mòn, dạng địa hình này chiếm 79,8% tổng diện tích , là địa bàn sản xuất

cây lâu năm như chè, cà phê, dâu.

+ Thung lũng: phân bố tại xã Lộc Châu và xã Đại Lào, chiếm 9,2%. Đất tương đối

bằng phẳng, nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó rút nhanh.

Vì vậy thích hợp phát triển cà phê và chè nhưng có thể trồng dâu và cây ngắn ngày.



6



2.2.3 Khí hậu

Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do nhiệt độ cao trên 800m và tác động

của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét đặc trưng sau:

+ Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22oC, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4oC, nhiệt

độ thấp nhất trong năm là 16,6oC

+ Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ ngày (tháng mùa mưa:

2-3 h/ngày, tháng mùa khô: 6-7h/ ngày), mùa khơ nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình

thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.

+Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 1.513mm, số

ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.

+ Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80 -90%.

+ Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:

* Gió Đơng Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4

* Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9

+ Nắng ít, độ ẩm khơng khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo

nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất này.

2.2.4 Thủy văn

Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:

+ Hệ thống sơng DaR’Nga: phân bố ở phía đông thành phố Bảo Lộc, là ranh giới

giữa thành phố và huyện Bảo lâm, các phụ lưu lớn của sông trong thành phố bao gồm có:

suối DaSre Drong, suối DaM’ Drong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm

phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

+ Hệ thống suối Đại Bình: phân bố chủ yếu ở phía Nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ

dãy núi cao ở phía Nam và Tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối Dalab, suối Tân Hồ,

suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định

cho thung lũng Đại Bình.

+ Hệ thống suối ĐamB’ri: là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung

ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB’ri có

nhiều nghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×