Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.2 Nhu cầu nước cho heo thịt

Bảng 2.2 Nhu cầu nước cho heo thịt

Tải bản đầy đủ - 0trang

định cư vĩnh viễn tại đây. Các vi sinh vật nhóm này bao gồm: Stretococcus lactic,

Streptococcus feacium, Lactobasillus acidophillus,…

2.1.3. Mối liên hệ hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe động vật

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), đa số vi sinh vật đường ruột tham gia

phân giải chất dinh dưỡng. Nhóm vi khuẩn lactic phân giải nhóm hydrat cacbon,

glucid, tinh bột, tạo acid hạ thấp pH đường ruột, ức chế vi khuẩn gây thối. Một số vi

khuẩn ở dạ dày – ruột như:Bacillus subtilis, Bacterium…còn tham gia tổng hợp

vitamin nhóm B. Khi các vi khuẩn này chết, cơ thể sẽ hấp thu nguồn protein từ xác

vi khuẩn. Vi khuẩn sản sinh enzyme amylase để phân giải tinh bột và enzyme

protease để phân giải protein. Làm cách nào để tăng sinh vi khuẩn có lợi là rất quan

trọng đối với động vật vì nó có khả năng ức chế vi khuẩn có hại, làm tăng năng suất

và sức khỏe động vật.

Mặt khác, các vi sinh vật có hại lên men thối rữa lại là nguyên nhân chính

gây bệnh đường ruột như: Salmonella, Proteus, E.coli, …Nhóm vi khuẩn có hại sẽ

chiếm ưu thế khi gia sức bị bệnh, bị nhiễm từ môi trường hoặc do sức đề kháng của

gia súc bị giảm sút do stress, dinh dưỡng kém hay do sự thay đổi của môi trường.

2.2.



ĐẶC ĐIỂM HEO THỊT

Sau cai sữa, heo con chuyển xuống ni thịt có trong lượng khoảng 10-15



kg. Thời gian ni thịt khoảng 3,5- 4 tháng có thể đạt trọng lượng xuất chuồng 90100 kg. Đây là trọng lượng xuất chuồng hợp lý nhất vì lúc này phẩm chất thịt ngon

nhất và hiệu quả thức ăn giảm, heo có xu hướng tích nhiều mỡ, ni kéo dài thêm

sẽ khơng có lợi (Võ Văn Ninh, 2001).

Thời gian ni thịt có thể chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1:

Khoảng 2 tháng đầu, đây là thời kì cơ thể phát triển khung xương, hệ cơ, hệ

thần kinh. Ở giai đoạn này heo lớn rất nhanh. Ở lứa tuổi này heo lớn rất nhanh, do

đó cần nhiều protein, khống, sinh tố để phát triển bề ngang và chiều dài.



6



Thiếu dưỡng chất giai đoạn này làm heo ngắn đòn, ít thịt vì bắp cơ nhỏ, tích

mỡ giai đoạn sau nhiều. Nếu dư thì làm tăng chi phí, dư protein thì heo đào thải

dưới dạng ure, làm heo bị viêm khớp, tích lũy mỡ sớm.

Giai đoạn này heo có thể đạt trọng lượng 50-60 kg.

Giai đoạn 2:

Khoảng 2 tháng cuối, heo tích lũy mỡ và các xớ cơ, các mô liên kết, heo phát

triển về chiều ngang, mập ra. Giai đoạn này heo cần nhiều glucid, lipid hơn, nhưng

nhu cầu protein, khoáng, sinh tố ít hơn giai đoạn 1

Dư thừa dưỡng chất lúc này chỉ làm tăng chi phí thức ăn , tăng lượng mỡ,

nhưng nếu thiếu dưỡng chất heo trở nên gầy, bắp cơ dai, không ngon, thiếu những

hương vị cần thiết, thịc có màu nhợt nhạt khơng hấp dẫn người tiêu dùng.

Giai đoạn này heo có thể đạt trọng lượng 90-100 kg.

2.3.



KHÁNG SINH SỬ DỤNG TRONG CHĂN NUÔI



2.3.1. Kháng sinh bổ sung trong thức ăn

Kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn ni giúp thú phòng bệnh và kích

thích tăng trưởng. Theo Gaskin và ctv (2002) có bốn nguyên nhân để sử dụng kháng

sinh trong thức ăn để phòng bệnh và kích thích sinh trưởng đó là ngăn cản q trình

nhiễm trùng cận lâm sàng, ức chế sự sinh trưởng và biến dưỡng của vi khuẩn có hại,

giảm khả năng sử dụng chất dinh dưỡng của vi khuẩn và nâng cao khả năng hấp thu

chất dinh dưỡng từ thức ăn. Kháng sinh đã được sử dụng trong khẩu phần thức ăn

chăn nuôi ngay từ đầu những năm 1950 với những mục đích khác nhau nhằm thúc

đẩy tăng trưởng, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn và để kiểm sốt và phòng ngừa

bệnh (Hays,1978). Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy thức ăn chứa kháng sinh sẽ

tạo nên hiện tượng gia tăng số lượng vi khuẩn lờn thuốc trong đường tiêu hoá

(Smithvà Crabb, 1957; Sogaard năm 1973; Linton et al, 1975). Kết quả là sự phát

hiện tình trạng chuyển plasmid kháng thuốc của vi sinh vật. Điều này tạo ra mối

quan tâm của các nhà nghiên cứu về mối liên hệgiữa kháng sinh bổ sung thường

xuyên trong thức ăn đến sức khoẻ vật nuôi và con người (Braude, 1978; Dương

Thanh Liêm, 2011) kết quả của việc bổ sung kháng sinh trong thức ăn liên tục và



7



khả năng thích nghi của vi sinh vật với môi trường sống, làm cho sự đề kháng

kháng sinh ở vi sinh vật xảy ra thông qua các cơ chế làm thay đổi điểm tác động của

kháng sinh (Chopra và Roberts, 2001), sản sinh chất cạch tranh với tác động của

kháng sinh (Skold, 2001), thay đổi quy trình tổng hợp (Ruiz, 2003), tiết enzyme

phân hủy kháng sinh (George và ctv, 2005) và gây ra hiện tượng giảm hấp thu

kháng sinh (Lioua và ctv, 2006).

2.3.2. Sơ lược về kháng sinh Flordoxy

Thành phần: Florfenicol 100.000 mg, Doxycyline HCl 50.000 mg, tá dược

vừa đủ 1.000 g.

Công dụng: Chống nhiễm trùng đường hơ hấp và tiêu hóa gây bởi các vi

khuẩn nhạy cảm với Flofenicol và Doxycyline; phòng bệnh viêm phổi, tiêu chảy do

E. coli.

2.3.3. Tác hại của kháng sinh bổ sung thường xuyên trong thức ăn đến hệ vi

sinh vật đường ruột

Theo Dương Thanh Liêm (2001) Hậu quả của việc sử dụng kháng sinh bổ

sung thường xuyên trong thức ăn để phòng bệnh đường tiêu hóa là:

Phá vỡ cân bằng tự nhiên của hệ vi sinh vật đường ruột.

Tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi như : Thịt, trứng, sữa sẽ có ảnh

hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng.

Sử dụng kháng sinh thường xuyên trong thức ăn do sử dụng liều thấp , không

giết hết vi khuẩn , từ đó dễ tạo ra nhiều dòng vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc kháng

sinh gây khó khăn trong điều trị.

Khi vi khuẩn kháng thuố c hình thành sẽ làm trầm trọng hơn những bệnh do

virus gây ra , tỷ lệ chết sẽ cao hơn , vì các bệnh do vi khuẩn kế phát sẽ không có

kháng sinh mới phù hợp để điều trị.

2.4.



ACID HỮU CƠ



2.4.1. Giới thiệu chung

Ngày nay acid hữu cơ (acidifier) đang được dung phổ biến trong thức ăn

công nghiệp. So sánh với các thức ăn bổ sung khác, acid hữu cơ được đánh giá là có



8



lợi ích cao nhất đối với thành tích chăn ni. Một nghiên cứu trên lợn con 7-30 kg ở

Đan Mạch năm 2001 cho biết, chênh lệch về tăng trọng hằng ngày của lợn ăn khẩu

phần đối chứng và thí nghiệm có và không bổ sung acid hữu cơ là 40%, trong khi

chênh lệch này ở khẩu phần bổ sung hương liệu, probiotic, enzyme lần lượt chỉ là

19%, 14% và 9%.

Các acid hữu cơ thường dùng là:

Acid formic: sát khuẩn mạnh.

Acid lactic: hạ pH nhanh, ức chế vi khuẩn lên men thối.

Acid propionic: ức chế nấm mốc phát triển trong thức ăn.

Acid butyric: sát khuẩn gram – và gram +, kích thích lợn ăn nhiều, bảo vệ

thượng bì ruột, kích thích lớp tế bào lơng nhung phát triển tốt, kích thích hệ miễn

dịch của ruột ( tăng hàm lượng α, β và γ globulin máu).

Acid fumaric, acid malic, acid citric, acid succinic: thơm, ngon, gây mùi hấp

dẫn cho lợn.

Acid hữu cơ ít khi dung ở dạng đơn mà thường được dung hỗn hợp từ 2 đến

4 loại cùng với nhau để bổ sung tác dụng cho nhau.

2.4.2. Tác dụng của acid hữu cơ

Ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường

ruột.

Tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh.

Hỗ trợ sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng: hoạt hóa pepsinogen, hỗ

trợ tiêu hóa protein; tăng độ hòa tan chất khống, hỗ trợ hấp thu chất khống, đặc

biệt vi khống; kích thích ruột tiết secretin, giúp tụy tiết nhiều bicarbonate và acid

mật, giúp lipid thức ăn tiêu hóa, hấp thu tốt hơn.

Tăng sự tái tạo lớp tế bào vi lông nhung (acid butyric): Na-butyrate tăng

chiều dài lông nhung lên khoảng 30%.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.2 Nhu cầu nước cho heo thịt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×