Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
7 Phòng và kiểm soát bệnh LMLM

7 Phòng và kiểm soát bệnh LMLM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo quyết định số 38/2006/QĐ – BNN ngày 16/05/2006 của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy định phòng chống bệnh

LMLM trên gia súc, ở chương 2 điều 7 quy định về thời gian tiêm phòng vắc-xin

LMLM: tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai sáu tháng;

lần thứ nhất tiêm vào tháng 3 – 4, lần thứ 2 tiêm vào tháng 9 – 10.

2.7.3 Kiểm soát dịch bệnh

Theo Lê Anh Phụng (2006), ở các nước khơng có bệnh phải đảm bảo yêu

cầu kiểm dịch nhập thú sản nghiêm ngặt, chú ý việc di chuyển dê, cừu, thú rừng và

thú sản, thú nhập ni cách ly ít nhất 2 tuần, khi dịch bệnh xảy ra không tiêm

vắc-xin mà phải diệt tồn đàn, tiêu độc. Đối với nước có bệnh cần tuân thủ các

nguyên tắc về kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu, kiểm soát giết mổ, thú mẫn cảm

phải được tiêm phòng vắc-xin 2 – 3 lần/năm, tùy tình hình dịch tễ, dịch xảy ra phải

khoanh vùng (3 km đường kính ở khu vực ổ dịch), xử lý con bệnh, nghiêm cấm

mua bán, giết mổ tùy tiện, tiêu độc chuồng trại, tiêm vắc-xin.

2.8 Lược duyệt một số cơng trình nghiên cứu về bệnh LMLM ở TP.HCM

Phan Minh Trung (2005) khảo sát tình hình nhiễm vi-rút DTH, LMLM (bò,

heo) và khả năng đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vắc-xin đối với 2 bệnh trên tại

các khu vực xây dựng ATD ở Quận 12 và huyện Củ Chi, TP.HCM. Kết quả: tỷ lệ

nhiễm chung của vi-rút LMLM là 0,86 %, trong đó vùng ATD khơng có trường hợp

nhiễm vi-rút nào, cơ sở ATD có tỷ lệ nhiễm vi-rút LMLM là 5 %. Tỷ lệ đáp ứng

miễn dịch chung là 86,24 %, trong đó vùng ATD bệnh là 80,13 % và cơ sở ATD

là 89,32 %.

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005) tình hình LMLM trên trâu, bò, heo giết mổ và

ni tại TP.HCM và đánh giá khả năng bảo hộ của quy trình tiêm phòng Chi cục

thú y TP.HCM đang áp dụng. Kết quả: không phát hiện bệnh LMLM tại các cơ sở

giết mổ trâu bò mà chỉ phát hiện tại các cơ sở giết mổ heo. Sử dụng vắc-xin Aftopor

thì đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo thí nghiệm và đủ khả năng bảo hộ trên heo thịt,

nhưng không đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo giống với qui định tiêm phòng

6 tháng/lần.



19



Vũ Thị Diệu Hương (2006) khảo sát tỷ lệ huyết thanh có hiệu giá kháng thể

đủ bảo hộ chống vi-rút LMLM týp O trên heo ở các quận huyện thuộc Tp.HCM.

Kết quả cho thấy tỷ lệ bảo hộ trên đàn heo đã tiêm phòng đạt 64 %, ở heo chưa tiêm

phòng đạt 27,4 %.

Lê Xuân Vinh (2007) khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ đối

với vi-rút LMLM týp O trên đàn heo sau tiêm phòng ở một số quận huyện

Tp.HCM. Kết quả: tỷ lệ heo có kháng thể đủ khả năng bảo hộ chống lại với vi-rút

LMLM là 83,06 %. Tỷ lệ heo nhiễm vi-rút LMLM là 0,55 %.

Hàn Yến Phương (2009) khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng vắc-xin

LMLM týp O trên heo và bỏ ở một số quận huyện tại TP.HCM. Kết quả cho thấy tỷ

lệ huyết thanh có kháng thể bảo hộ chống vi-rút LMLM týp O trên heo là 80,75 %,

trên bò là 91,28 %.

Phan Hạnh Nguyên (2010) khảo sát tỷ lệ bảo hộ trên heo và bò sau khi tiêm

vaccin Aftopor phòng bệnh lở mồm long móng trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí

Minh. Kết quả: trên heo tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh

LMLM týp O tại địa bàn TP.HCM là 62,86 %, trên bò là 81,68 %.

Lê Minh Trí (2010) một số yếu tố liên quan mức bảo hộ đối với bệnh lở

mồm long móng týp O trên heo sau tiêm phòng tại huyện Củ Chi. Kết quả: tỷ lệ heo

được bảo hộ sau tiêm phòng tại huyện Củ Chi là 71,73 %, loại hình chăn ni và cơ

sở chăn ni tham gia chương trình an tồn dịch liên quan chặt đến tỷ lệ bảo hộ trên

đàn heo nái, quy mơ chăn ni và số lần tiêm phòng LMLM ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ

lệ bảo hộ trên đàn heo hậu bị.

Lê Ngọc Hân (2011) khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau khi tiêm vaccin phòng bệnh lở

mồm long móng týp O trên heo thịt và bò sữa tại địa bàn TP.HCM. Kết quả: tỷ lệ

huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh LMLM týp O trên heo tại địa bàn

TP.HCM là 85,31 %, tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh LMLM

týp O trên bò sữa tại địa bàn TP.HCM là 95,71 %.



20



Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài đã được thực hiện từ 25/02/2013 đến 25/06/2013.

Địa điểm lấy mẫu: tại các hộ và cơ sở chăn ni bò sữa, heo thịt ở huyện Củ

Chi và huyện Hóc Mơn của TP.HCM.

Địa điểm xét nghiệm mẫu: Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc

Chi Cục Thú Y TP.HCM.

3.2 Vật liệu

3.2.1 Mẫu xét nghiệm

Mẫu huyết thanh được lấy trên những bò sữa và heo thịt sau đợt tiêm phòng

3 – 4 tuần từ 2 huyện ở TP.HCM là: Củ Chi, Hóc Mơn.

Số lượng mẫu huyết thanh xét nghiệm: 872 mẫu (heo thịt: 492, bò sữa: 380).

3.2.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm

Thiết bị: tủ ấm, tủ lạnh, máy ly tâm, máy ủ, máy đọc ELISA, máy rửa đĩa.

Dụng cụ: găng tay, kéo, bông thấm, ống tiêm, bình trữ lạnh, ống đong chia

độ, micropipete, đầu típ, máng đựng, vỉ 96 giếng, ống eppendorf.

3.2.3 Bộ kít dùng trong chẩn đốn

Bộ kít “ELISA kit for FMDV serology (týp O)” của Pirbright laboratory

(Anh) phát hiện kháng thể chống vi-rút LMLM týp O.

3.3 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá tỷ lệ bò sữa và heo thịt có kháng thể đủ bảo hộ sau khi tiêm phòng.

Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tiêm phòng như: theo địa bàn,

quy mô chăn nuôi, lứa tuổi, thế hệ lai (đối với bò sữa).



21



3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp lấy mẫu

Trước khi lấy mẫu phải quan sát biểu hiện lâm sàng của đàn heo thịt và bò

sữa một cách cẩn thận, chỉ những đàn nào khỏe mạnh, những con trong đàn không

biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào của bệnh LMLM mới được chọn làm đối tượng lấy

mẫu để tiến hành xét nghiệm.

Sau khi cố định thú, dùng cồn 70 o sát trùng tại nơi lấy máu, sau đó dùng ống

tiêm để lấy máu. Đối với bò sữa (trên 2,5 tháng) sau thời gian tiêm phòng từ 3 đến 4

tuần lấy máu ở tĩnh mạch đuôi. Đối với heo thịt (trên 2 tháng) sau thời gian tiêm

phòng từ 3 đến 4 tuần lấy máu ở tĩnh mạch cổ. Lượng máu mỗi lần lấy khoảng 3 – 5

ml. Sau khi lấy máu xong, chờ máu đông tự nhiên (khoảng 30 phút) rồi cho vào

thùng lạnh đưa đến phòng xét nghiệm. Trên mỗi mẫu phải ghi kí hiệu riêng để tránh

trường hợp nhầm lẫn. Sau khi về đến phòng xét nghiệm, mẫu được ly tâm để lấy

huyết thanh và cho vào eppendorf.

3.4.2 Bảo quản mẫu xét nghiệm

Nếu mẫu được xét nghiệm ngay thì bảo quản 4 – 8 oC.

Nếu mẫu chưa xét nghiệm thì được bảo quản ở - 20 oC.

3.4.3 Bố trí lấy mẫu xét nghiệm

Mẫu huyết thanh: được lấy ngẫu nhiên theo các hộ và cơ sở chăn nuôi ở

huyện Củ Chi và Hóc Mơn.

Số mẫu xét nghiệm: căn cứ vào số lượng bò sữa và heo thịt được ni tại 2

huyện, ước tính số lượng mẫu xét nghiệm trên heo thịt và trên bò sữa theo phần

mềm Win – episcope 2.0 với ước lượng tỷ lệ mẫu huyết thanh có hiệu giá kháng thể

đạt bảo hộ là 80 %, sai số 5 %, độ tin cậy là 95 % (theo Trạm Chẩn Đoán Xét

Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y TP.HCM). Số lượng mẫu cần thiết cho

việc khảo sát được trình bày ở Bảng 3.1



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

7 Phòng và kiểm soát bệnh LMLM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×