Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM

4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM

Tải bản đầy đủ - 0trang

kháng nguyên vắc-xin phù hợp. Ngoài ra, đáp ứng miễn dịch đối với các protein cấu

trúc khác của vi-rút (VP2, VP3 và VP4) và các protein không cấu trúc (2C, 3AB,

3ABC, 3D) cũng được phát hiện. Đáp ứng đối với các protein không cấu trúc là một

dấu hiệu cho thấy có sự nhân lên của vi-rút trong vật chủ, và đây cũng là nền tảng

cho việc phát triển các quy trình chẩn đốn nhằm phân biệt thú tiêm phòng hay

nhiễm vi-rút thực địa (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013).

Đáp ứng tạo kháng thể đối với các protein cấu trúc nhanh hơn đáp ứng đối

với protein không cấu trúc 3ABC trên trâu bò nhiễm vi-rút LMLM thực địa. Trâu

bò được tiêm phòng hoặc heo, cừu đã tiêm phòng hay nhiễm vi-rút LMLM thực địa

thì kháng thể hình thành sớm đối với protein cấu trúc và cả protein không cấu trúc.

Kháng thể kháng protein 3ABC được phát hiện vào ngày thứ 6 sau khi phơi nhiễm

vi-rút LMLM trên bò, các kháng thể kháng các protein khơng cấu trúc khác được

tìm thấy trong mẫu huyết thanh vào khoảng 13 – 34 ngày sau và có thể tồn tại đến

20 tháng. Kháng thể kháng protein 3ABC ở heo xuất hiện cùng với các triệu chứng

lâm sàng. Điều đó cho thấy đáp ứng miễn dịch tạo kháng thể kháng protein 3ABC

hình thành khác biệt giữa các loài vật chủ (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013).

Gia súc khơng tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh LMLM nhưng phơi nhiễm

với vi-rút LMLM đều có sự gia tăng đáng kể lượng kháng thể trung hòa trong suốt

thời gian nhiễm cấp tính, sau đó giảm xuống. Các kháng thể đặc hiệu chống lại virút LMLM được hình thành gồm IgG, IgM và IgA. Kháng thể IgM xuất hiện trước

nhất vào ngày thứ 5 – 12 sau khi nhiễm vi-rút. IgG có mặt từ ngày 4 – 21 ngày, sớm

nhất vào ngày thứ 3 sau nhiễm và tồn tại từ 4 đến 6 tháng. Thời gian tồn tại kháng

thể tuỳ loài và tuỳ độ tuổi của gia súc, heo có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò, bê

có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò. Cuối cùng là sự xuất hiện của IgA chiếm phần

chủ yếu vào giai đoạn gần cuối của q trình bệnh, có thể tìm thấy IgA trong máu

gia súc bệnh 150 ngày sau khi bệnh chấm dứt (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013).

Miễn dịch hình thành sau khi mắc bệnh trên heo chỉ kéo dài khoảng 6 tháng,

và độ mẩn cảm đối với bệnh tăng lên theo thời gian ngưng tiếp xúc kháng nguyên.

Miễn dịch do thú mẹ truyền cho con kéo dài tối đa đến 3 tháng. Miễn dịch do



12



vắc-xin kéo dài 6 tháng. Thú có thể tái nhiễm rất nhanh ngay trong một ổ dịch sau

10 ngày hoặc sau 6 – 10 tuần và lần sau lại nặng nề hơn, điều này do thú kém đề

kháng, nhưng quan trọng hơn cả là do vi-rút sau quá trình nhân lên cao độ trong một

ổ dịch trở nên biến đổi và trở thành vi-rút gây bệnh mới (dẫn liệu Lê Minh Trí,

2010).

2.4.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào

Dẫn liệu của Nguyễn Thị Thương (2013), trình bày về miễn dịch qua trung

gian tế bào của bệnh LMLM như sau: vi-rút LMLM muốn gây bệnh thành công

phải vượt qua hàng rào bảo vệ của các dòng tế bào miễn dịch trong đáp ứng miễn

dịch tự nhiên của vật chủ, ức chế quá trình trình diện của các phân tử kháng vi-rút

trong quá trình dịch mã và phiên mã, cản trở con đường bài xuất của các phân tử

này bằng cách ức chế giải phóng IFN và các cytokine khác (IFN và cytokine có ảnh

hưởng bất lợi đến q trình tái sản và gieo rắc vi-rút). Tế bào tua có vai trò quan

trọng trong đáp ứng miễn dịch, liên kết đáp ứng miễn dịch thu nhận với đáp ứng

miễn dịch tự nhiên, sản xuất IFN-α tín hiệu rất sớm sau khi nhiễm vi-rút. IFN-α

hiện diện trong tế bào nhiễm vi-rút LMLM, góp phần chống lại sự nhiễm vi-rút. Sự

tái sản của vi-rút bị ức chế bởi INF-α/β, enzyme proteinkinase thuộc RNA và

L-Rnase. Tuy nhiên, vi-rút LMLM cũng có khả năng ức chế phản ứng của IFN-α từ

các tế bào tua.

2.5 Triệu chứng và bệnh tích

2.5.1 Triệu chứng

Theo Lê Anh Phụng (2006), thú bệnh LMLM có các triệu chứng sau: con vật

ủ rũ, kém ăn, sốt 2 – 3 ngày (40 oC – 41 oC). Các triệu chứng chính xuất hiện ở

miệng, da vành móng và vùng da mỏng (vú).

Miệng: mụn nước xuất hiện ở khẩu cái, trong má, lưỡi, đầu mõm. Sau 1 – 2

ngày thì mụn vỡ, dịch chảy ra hòa với nước dãi thành chất bọt đặc dính lòng thòng

ở miệng rất dễ nhận thấy. Bệnh tích ở miệng mau chóng lành lại (ngày thứ 8 – 10).

Vành móng và kẽ móng: sưng phồng, nóng đau và bước rất khó khăn. Sau

1 – 2 ngày thấy mụn ở kẽ ngón chân. Khi mụn vỡ, thường con vật bị hở móng hoặc



13



dễ long móng, nhất là khi có nhiễm trùng kế phát. Thường sau 10 – 15 ngày thì

lành, con vật đi lại bình thường.

Vú: mụn thường gặp ở đầu vú và núm vú làm thú rất đau khi vắt sữa hoặc

nuôi con. Sữa bị biến chất, lỏng, vàng, hơi và sản lượng sữa giảm nhanh, có khi

khơng cho sữa trở lại.

Ngồi ra, ta có thể gặp những thể bất thường thể hiện trên đường tiêu hóa,

đường hơ hấp, nhiễm trùng huyết, sẩy thai.

2.5.2 Bệnh tích

2.5.2.1 Bệnh tích đại thể

Chủ yếu là các mụn nước nằm ở xoang miệng, gờ vành móng, đầu vú và

móng chân sau khi loét ra tạo thành bệnh tích (Nguyễn Tiến Dũng, 2002). Lớp

thượng bì niêm mạc của cơ quan tiêu hóa có mụn loét (miệng, mặt trong má, lưỡi,

yết hầu, thực quản, dạ cỏ, dạ lá sách, dạ tổ ong), viêm khí phế quản, viêm phổi,

màng phổi (Lê Anh Phụng, 2006). Viêm cơ tim cấp, nhất là trên thú non với biểu

hiện tim mềm nhạt, dễ vỡ và mặt ngồi của tim có những vết xuất huyết có vệt như

da hổ nên gọi là tim da cọp (Trần Thanh Phong, 1996).



Hình 2.5 Biến chứng ở tim làm heo con chết đột ngột

(Nguồn: Burnham và Suzanne, 2001)



14



2.5.2.2 Bệnh tích vi thể

Các tế bào biểu bì thuộc lớp stratum spinosum của da (tầng Malpighi) bị

thối hóa tròn ra. Do tế bào bị vỡ và tích tụ chất dịch phù thủng, các mụn nước

được tạo thành là đặc điểm của bệnh. Các tế bào biểu bì vẩy của dạ cỏ, dạ tổ ong,

dạ lá sách thường bị tấn công. Ở thú non, vi-rút tấn công tế bào cơ tim gây hoại tử

và có xâm nhiễm bạch cầu đa nhân (Lê Anh Phụng, 2006).



Hình 2.6 Tế bào biểu bì thuộc lớp stratum spinosum bị thối hóa

và sự hình thành mụn nước

(Nguồn: Burnham và Suzanne, 2001)

2.6 Chẩn đốn

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng

Việc chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM có thể xác định dựa trên triệu chứng

chính của bệnh là xuất hiện các mụn nước trong xoang miệng, lưỡi, móng, vú,

quanh miệng, viền móng chân, kẽ chân và các đầu vú. Kèm theo các triệu chứng

trên là con vật bị què do bị đau chân gây khó khăn trong q trình di chuyển. Tuy

nhiên, trong việc chẩn đốn lâm sàng thường dễ hay nhầm với các bệnh tạo mụn

nước nên cần phân biệt với một số bệnh sau: bệnh bọng nước ban đỏ VE (Vesicular

Exanthema), bệnh viêm miệng bọng nước VS (Vesicular Stomatitis), bệnh bọng

nước ở heo SVD (Swine Vesicular Disease)…(Trần Thanh Phong, 1996).

Mặt khác khi chẩn đoán bệnh cần phải chú ý là không phải tất cả các bệnh

đều có biểu hiện lâm sàng rõ rệt. Do vậy cần kết hợp với thực tế, số liệu dịch tễ để

chẩn đốn. Tuy nhiên do bệnh có tầm quan trọng rất lớn nên mọi triệu chứng nghi



15



ngờ phải được coi là nghi ngờ bệnh LMLM. Nói cách khác, trước khi đưa ra kết

luận chẩn đốn khác chúng ta phải có nhiệm vụ làm rõ đó khơng phải là bệnh

LMLM (Nguyễn Tiến Dũng, 2000).

2.6.2 Chẩn đốn ở phòng thí nghiệm

2.6.2.1 Lấy mẫu bệnh phẩm

Theo Lê Anh Phụng (2002), thì loại mơ thích hợp cho chẩn đốn là biểu bì.

Tốt nhất là lấy 1 gram hoặc 2 cm2 biểu bì của mụn nước chưa vỡ hoặc mới vỡ. Để

tránh nguy hiểm cho người lấy mẫu con vật (trâu, bò) khuyến cáo nên được gây mê

trước khi lấy mẫu. Trong trường hợp không lấy được mụn nước (do thú đang ở thời

kỳ hồi phục hay thú khơng có biểu hiện lâm sàng) thì ta có thể lấy dịch hầu họng để

phân lập vi-rút và chú ý là phải có mơi trường bảo quản thích hợp. Đối với thú chết

thì có thể lấy máu, cơ tim hoặc các cơ quan khác. Tất cả các mẫu sau khi lấy xong

cần được bảo quản đúng cách để tránh làm hư bệnh phẩm cũng như lây lan mầm

bệnh trên đường vận chuyển.

2.6.2.2 Một số phương pháp được áp dụng để chẩn đốn LMLM

Gây bệnh động vật thí nghiệm: dùng dịch mụn nước hoặc bệnh phẩm đã

nghiền và pha thành huyễn dịch 20 % sau đó tiêm nội bì lưỡi bò, sau 2 giờ có mụn

đỏ; khía da bàn chân chuột lang, sau 12 giờ nổi vết đỏ, có thủy thũng, đau chỗ khía;

tiêm phúc mạc chuột bạch 7 – 10 ngày tuổi sẽ làm chết chuột sau 24 – 36 giờ

(Lê Anh Phụng, 2006).

Phân lập vi-rút: sau khi lấy mẫu nghi ngờ có vi-rút LMLM, vi-rút (nếu có)

còn sống trên mẫu mơ của thú bệnh được chuyển qua nuôi cấy trên môi trường tế

bào động vật mẫn cảm (thường là tế bào tuyến giáp). Môi trường này cần được ủ

trong 48 giờ và cần được theo dõi hàng ngày. Vi-rút LMLM sẽ tấn công tế bào gây

ra các bệnh tích đặc trưng. Tuy nhiên, bệnh tích tế bào do vi-rút LMLM gây ra có

thể nhầm lẫn với bệnh tích tế bào của vi-rút gây bệnh mụn nước ở heo, nên phương

pháp này thường dùng kết hợp với phương pháp ELISA để khẳng định lại kết quả

(Thái Thị Thủy Phượng, 2006).



16



Phản ứng kết hợp bổ thể: từ lâu phương pháp này được chọn để phát hiện và

định týp LMLM trong các mẫu mô lấy từ thực địa. Nguyên tắc dựa trên sự hoạt hóa

và gắn kết của bổ thể khi có phản ứng đặc hiệu kháng nguyên – kháng thể, nó

khơng có tương tác với kháng ngun hoặc kháng thể riêng rẽ. Phản ứng dương tính

tức là có sự hình thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể - bổ thể thì hồng cầu

cầu sẽ lắng xuống đáy giếng, còn nếu âm tính tức là khơng có sự hình thành phức

hợp kháng nguyên – kháng thể - bổ thể thì bổ thể sẽ bám vào và phá hủy tế bào

hồng cầu gây hiện tượng dung huyết (Thái Thị Thủy Phượng, 2006).

Phản ứng trung hòa vi-rút: sử dụng dòng tế bào mẫn cảm BHK – 21, hoặc tế

bào sơ cấp của thận heo, cừu. Kháng nguyên vi-rút LMLM được chẩn bị trước sẽ

được trộn với kháng thể LMLM (nếu có), sau đó cho hỗn hợp này vào mơi trường

ni cấy. Phản ứng dương tính nếu có sự kết hợp kháng ngun – kháng thể thì sẽ

khơng có bệnh tích tế bào trên môi trường nuôi cấy. Ngược lại, nếu có bệnh tích tế

bào trện mơi trường ni cấy thì kết luận là phản ứng âm tính (Thái Thị Thủy

Phượng, 2006).

Kỹ thuật ELISA: được dùng phát hiện kháng nguyên và kháng thể vi-rút

LMLM trong vòng 3 – 4 giờ. Hiện bộ kít chẩn đốn đang được sử dụng tại Việt

Nam gồm bộ kháng thể chuẩn để phát hiện 4 týp kháng nguyên O, A, C, Asia 1; và

bộ kháng nguyên chuẩn để chẩn đoán 3 týp O, A, C. Kỹ thuật này lợi dụng đặc tính

hấp phụ tự nhiên của protein lên polyethylen để gắn kháng nguyên hay kháng thể

lên giá (đáy giếng) rồi cho kháng nguyên hay kháng thể có enzyme đánh dấu vào

tạo phản ứng. Sau khi loại bỏ chất đánh dấu không kết hợp, cho thêm hỗn hợp chất

hiện màu. Nhờ hoạt tính xúc tác của enzyme làm giải phóng các nguyên tử oxi từ

H2O2 để oxy hóa chất hiện màu làm thay đổi màu của dung dịch. Sau đó dựa vào độ

cản quang của dung dịch mà ta kết luận rằng phản ứng âm tính hay dương tính

(Thái Thị Thủy Phượng, 2006).



17



Kỹ thuật PCR: là 1 phản ứng sinh hóa phụ thuộc nhiệt độ, dùng các đoạn mồi

để tìm các đoạn gen đặc trưng của vi-rút. Nguyên tắc sử dụng các đoạn mồi để tìm

các đoạn gen đặc trưng của vi-rút, cho phép chẩn đốn chính xác căn bệnh và nguồn

gốc căn bệnh.

2.7 Phòng và kiểm sốt bệnh LMLM

2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh LMLM

Vệ sinh là biện pháp hàng đầu và rất quan trọng trong công tác phòng và

chống bệnh LMLM. Cơ sở của phương pháp này là thực hiện công tác vệ sinh tiêu

độc sát trùng chuồng trại kỹ lưỡng cho thú nuôi ở trong nước và ở xung quanh vùng

biên giới. Giết loại gia súc mắc bệnh và tiêu độc sát trùng kỹ lưỡng khu vực phát

hiện gia súc bệnh (Grubman, 2004).

2.7.2 Phòng bệnh bằng vắc-xin

Phòng bệnh bằng vắc-xin là một trong những biện pháp kết hợp cần thiết

trong việc phòng và chống bệnh LMLM ở các quốc gia có dịch LMLM hiện nay.

Vắc-xin phòng bệnh LMLM phải chứa thành phần kháng nguyên bất hoạt sao cho

đại diện được chủng vi-rút đang lưu hành điển hình trong khu vực (Doel, 2003).

Vi-rút LMLM ln có sự biến đổi và xuất hiện các týp vi-rút mới làm hiệu quả của

vắc-xin bị giới hạn, các nghiên cứu dịch tễ học và các nghiên cứu phòng thí nghiệm

được tiến hành nhằm đảm bảo kháng nguyện của vắc-xin khi sử dụng bảo vệ được

đàn gia súc chống lại vi-rút đang lưu hành. Do đó, cần giám sát và xác định đúng

týp ở các địa phương có dịch để có quy trình tiêm phòng bệnh LMLM đạt hiệu quả

phòng bệnh. Hai loại vắc-xin có hiệu lực phòng bệnh và vắc-xin dạng nước và

vắc-xin dạng nhũ dầu (Doel, 2003). Trên thú nhai lại sử dụng được cả 2 loại này,

trong khi heo chỉ đáp ứng được với vắc-xin dạng nhũ dầu. Các loại vắc-xin được

Cục Thú y cho phép sử dụng tại Việt Nam là Aftopor (vắc-xin LMLM týp O và

týp A dùng cho heo), Aftovax (vắc-xin đa giá týp O, A và Asia 1 cho trâu, bò) của

Merial, và Decivac do Intervet sản xuất. Ngồi ra, còn một số loại vắc-xin được sử

dụng ở Việt Nam (xem phụ lục).



18



Theo quyết định số 38/2006/QĐ – BNN ngày 16/05/2006 của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy định phòng chống bệnh

LMLM trên gia súc, ở chương 2 điều 7 quy định về thời gian tiêm phòng vắc-xin

LMLM: tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai sáu tháng;

lần thứ nhất tiêm vào tháng 3 – 4, lần thứ 2 tiêm vào tháng 9 – 10.

2.7.3 Kiểm soát dịch bệnh

Theo Lê Anh Phụng (2006), ở các nước khơng có bệnh phải đảm bảo yêu

cầu kiểm dịch nhập thú sản nghiêm ngặt, chú ý việc di chuyển dê, cừu, thú rừng và

thú sản, thú nhập ni cách ly ít nhất 2 tuần, khi dịch bệnh xảy ra khơng tiêm

vắc-xin mà phải diệt tồn đàn, tiêu độc. Đối với nước có bệnh cần tuân thủ các

nguyên tắc về kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu, kiểm sốt giết mổ, thú mẫn cảm

phải được tiêm phòng vắc-xin 2 – 3 lần/năm, tùy tình hình dịch tễ, dịch xảy ra phải

khoanh vùng (3 km đường kính ở khu vực ổ dịch), xử lý con bệnh, nghiêm cấm

mua bán, giết mổ tùy tiện, tiêu độc chuồng trại, tiêm vắc-xin.

2.8 Lược duyệt một số cơng trình nghiên cứu về bệnh LMLM ở TP.HCM

Phan Minh Trung (2005) khảo sát tình hình nhiễm vi-rút DTH, LMLM (bò,

heo) và khả năng đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vắc-xin đối với 2 bệnh trên tại

các khu vực xây dựng ATD ở Quận 12 và huyện Củ Chi, TP.HCM. Kết quả: tỷ lệ

nhiễm chung của vi-rút LMLM là 0,86 %, trong đó vùng ATD khơng có trường hợp

nhiễm vi-rút nào, cơ sở ATD có tỷ lệ nhiễm vi-rút LMLM là 5 %. Tỷ lệ đáp ứng

miễn dịch chung là 86,24 %, trong đó vùng ATD bệnh là 80,13 % và cơ sở ATD

là 89,32 %.

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005) tình hình LMLM trên trâu, bò, heo giết mổ và

ni tại TP.HCM và đánh giá khả năng bảo hộ của quy trình tiêm phòng Chi cục

thú y TP.HCM đang áp dụng. Kết quả: không phát hiện bệnh LMLM tại các cơ sở

giết mổ trâu bò mà chỉ phát hiện tại các cơ sở giết mổ heo. Sử dụng vắc-xin Aftopor

thì đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo thí nghiệm và đủ khả năng bảo hộ trên heo thịt,

nhưng không đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo giống với qui định tiêm phòng

6 tháng/lần.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×