Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.7 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo

Bảng 2.7 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc thay đổi thức ăn đột ngột làm bộ máy tiêu hóa của heo con chưa đáp

ứng được với thức ăn mới. Theo Trần Thị Dân (2003), hệ thống men tiêu hóa chưa

phân tiết đầy đủ nên thức ăn khơng được tiêu hóa và hấp thu một cách trọn vẹn.

Lượng thức ăn khơng tiêu hóa sẽ là mơi trường thuận lợi cho vi khuẩn đường ruột

phát triển như: E.coli, Salmonella, … phá vỡ trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật

đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và dẫn đến tiêu chảy.

Ngoài ra, thức ăn kém phẩm chất như bị lên men, thức ăn khó tiêu, hoặc lẫn

chất kích thích, các chất độc như thuốc sát trùng, thức ăn quá mặn hoặc tỷ lệ đạm

quá cao là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995). Độc tố nấm

mốc trong thức ăn do nguồn nguyên liệu thức ăn không được thu hoạch, bảo quản

và chế biến đúng tiêu chuẩn làm giảm tính ngon miệng, bào mòn niêm mạc ống tiêu

hóa, làm giảm khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn (Dương Thanh

Liêm và ctv, 2002). Theo Võ Văn Ninh (1992), nếu khẩu phần có quá nhiều chất

xơ, có thể khơng tiêu hóa xơ được, chất xơ đi qua ống tiêu hóa quá nhanh xuống

ruột già, qua trực tràng thải qua hậu môn dưới dạng phân lỏng (nhiều chất xơ cũng

làm tăng nhu động ruột).

• Nước uống

Nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước dơ, nhiễm bẩn, và các vi

sinh vật có hại đều gây bất lợi cho hoạt động của đường tiêu hóa. Theo Hồ Thị Kim

Hoa (2009), nguồn nước chứa hàm lượng Cl- cao làm tăng tiết dịch tiêu hóa, viêm

dạ dày ruột. Trên heo con cai sữa, SO42- với nồng độ 3.000 ppm có gây tiêu chảy

hay phân mềm. Gia súc uống nước cứng có thể bị tiêu chảy, giảm tiêu hóa.

• Nhiệt độ

Theo Phillips và Bickert (2000), nhiệt độ tối ưu cho heo con giai đoạn sau

cai sữa là 27 0C và giới hạn cho phép là từ 24 - 29 0C (trích dẫn bởi Nguyễn Hoa Lý

và Hồ Thị Kim Hoa, 2004). Nhiệt độ lạnh hay biến động nhiệt độ lớn trong ngày

đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên hội chứng tiêu chảy của



22



heo, khi nhiệt độ môi trường thấp sẽ làm giảm nhiệt độ cơ thể và làm giảm khả năng

thực bào các tác nhân lây nhiễm bệnh (Straw và ctv, 1996).

Nhiệt độ chuồng ni còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như thiết kế

chuồng trại, mật độ nuôi, ẩm độ và độ thơng thống. Một bầu tiểu khí hậu phù hợp

với nhu cầu của giai đoạn phát triển của heo là điều cần thiết, tức là chuồng nuôi

phải được vệ sinh sạch sẽ, khơ ráo, có nhiệt độ thích hợp, khơng bị mưa tạt gió lùa.

Đây cũng là biện pháp hữu hiệu để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại và sự

phát sinh các khí độc (CO2, NH3, H2S) gây bất lợi cho heo.

Bảng 2.8 cho thấy những heo con càng ít tuổi, càng nhẹ cân thì cần nhiệt độ

cao hơn và ổn định hơn. Vì thế, giữ ấm cho heo con nhất là vào ban đêm là việc làm

cần lưu ý.

• Ẩm độ

Theo Hồ Thị Kim Hoa (2009) thì ẩm độ giữ vai trò quan trọng trong điều

hòa thân nhiệt, ẩm độ khơng khí thích hợp cho vật nuôi dao động từ 70 - 75 %. Ẩm

độ cao chính là điều kiện thích hợp cho các loại mầm bệnh tồn tại và phát triển.

Những ngày mưa nhiều ẩm ướt, thiết kế chuồng nuôi không đảm bảo độ thơng

thống hoặc tắm heo xịt chuồng vào thời gian này làm ngăn cản quá trình bốc hơi

nước diễn ra. Sự bốc hơi nước từ cơ thể vật nuôi và các chất trong nền chuồng như

phân, nước tiểu làm cho ẩm độ tăng.

• Stress

Một thực tế cho thấy là việc nhốt chung những con heo con sau cai sữa thuộc

những ổ khác nhau sẽ gây nên những stress về sinh lý cho heo (de Groot et al.,

2003). Theo Straw và ctv (1996), các stress như cai sữa, nhốt lẫn với heo lạ có khả

năng ngăn chặn chức năng của hệ thống miễn dịch. Một số stress khác nhau làm

tăng mức cortisol và các hormone khác trong hệ tuần hoàn của heo, cortisol làm

giảm sức đề kháng đối với các tác nhân lạ, chăm sóc heo một cách thơ bạo cũng làm



23



tăng mức cortisol trong máu. Cai sữa làm giảm đột ngột kháng thể thụ động với các

stress khác sẽ làm tăng sự mẫn cảm của heo với các bệnh đường ruột.

Theo Nguyễn Như Pho (1995), stress do tách mẹ hay chuyển chuồng có thể

gây ức chế sợi phó giao cảm, làm giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch tiêu hóa, tạo

điều kiện cho vi khuẩn có hại ở đường ruột phát triển.

Bên cạnh đó, khi stress nhiệt kéo dài glucocorticoid có tác dụng ức chế sản

xuất kháng thể, ức chế hoạt động của tế bào T giết và giảm sản xuất cytokine, còn

nhóm catecholamine (epinephrine) ức chế sự phân bào của bạch cầu lympho (Trần

Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006).

2.3.4.3 Một số nguyên nhân khác

Theo Nguyễn Như Pho (1995) các chất khống Fe, Cu, … nhất là Fe nếu

khơng cung cấp đủ heo con bị thiếu máu giảm tính thèm ăn, còi cọc, tiêu chảy và dễ

mắc bệnh khác. Hay việc thiếu một số vitamin A, PP, B12, B3…làm cho niêm mạc

ruột lở loét gây kích thích nhu động ruột mạnh và từ đó gây tiêu chảy (Nguyễn

Bạch Trà, 1998).

Thiếu dịch và enzym tiêu hóa: thiếu acid dạ dày (thường gặp trong vô toan

dạ dày) khiến thức ăn xuống ruột rất nhanh, thiếu enzym tuyến tụy (do tắc ống tụy

hay viêm tụy mãn tính), thiếu muối mật (như suy gan, tắc mật), thiếu dịch ruột (khi

viêm teo niêm mạc ruột, cắt đoạn ruột quá dài), thiếu bẩm sinh một số enzym tiêu

hóa. Tất cả, khiến thức ăn khơng tiêu (phân “sống”), kích thích sự co bóp của ruột

tống phân ra ngồi (Văn Đình Hoa, 2007).

Ngày tuổi thứ 22, 23, 24 đại đa số heo con mọc răng tiền hàm sữa thứ 3 hàm

dưới nên cai sữa ngày thứ 21 thường có ảnh hưởng đến sức khỏe heo con vì làm

tăng thêm stress. Tương tự ngày 28 và 29 đại đa số heo con mọc răng tiền hàm sữa

số 4 hàm trên nên cai sữa ngày thứ 28 có thể làm tăng stress cho heo con. Thường

khi mọc răng heo con bị sốt, tiêu chảy trước và sau khi răng nhú khỏi nướu một vài

ngày (Võ Văn Ninh, 2007).



24



2.4 BỆNH TIÊU CHẢY DO E.COLI

2.4.1 Giới thiệu

Escherichia coli được gọi tắt là E.coli, còn có tên là Bacterium coli

commune, được phát hiện năm 1883 trong trường hợp tiêu chảy ở trẻ em. Vi khuẩn

sống bình thường trong ruột người và động vật, nhiều nhất ở ruột già. Vi khuẩn

thường theo phân ra ngồi do đó ta thường thấy vi khuẩn trong đất, nước và khơng

khí (Tơ Minh Châu và Trần Thị Bích Liên, 2001)

2.4.2 Căn bệnh

• Đặc điểm hình thái và cấu trúc

E.coli là trực khuẩn Gram âm; thuộc họ Enterobacteriaceae, giống Escherichia;

có kích thước dài hay ngắn tùy thuộc vào mơi trường ni cấy, trung bình từ 0,5 x 1

- 3 µm, hai đầu tròn, khơng bào tử, tạo giáp mơ mỏng, có lơng tơ quanh cơ thể và có

khả năng di động. Trong bệnh phẩm có khi bắt màu lưỡng cực hai đầu (Tơ Minh

Châu và Trần Thị Bích Liên, 2001)

• Sức đề kháng

E.coli bị tiêu diệt ở 60 0C trong 15 - 30 phút, 95 % bị tiêu ở nhiệt độ đơng

lạnh trong 2 giờ. Chúng có thể sống ở điều kiện ngoại cảnh từ vài tuần đến 1 tháng,

chủng có độc lực có thể tồn tại 4 tháng. Các chất sát trùng như formol, acid fenic 1

%, HgCl2, NaOH 2 % có thể diệt E.coli trong 5 phút (Tơ Minh Châu và Trần Thị

Bích Liên, 2001).

• Phân loại

Dựa vào khả năng gây bệnh, E.coli được chia thành 5 nhóm. Trong đó, nhóm

E.coli gây bệnh tiêu chảy chủ yếu trong giai đoạn cai sữa phần lớn liên quan đến

ETEC.



25



Bảng 2.8 Các nhóm chính của vi khuẩn E.coli gây bệnh trên ruột

Nhóm



Người



Heo con



Thú con







VTEC (Verocytotoxigenic Escherichia coli)



-



+++



-



+++



EPEC (Enteropathogenic Escherichia coli)



+++



+



+++



+



ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli)



+++



+++



-



+++



EAEC (Enteroaggregative Escherichia coli)



+



-



-



-



EIEC (Enteroinvasive Escherichia coli)



+



-



-



-



(Nguồn: Fairbrother và Broes, 1993 - trích dẫn bởi Dư Đại Phong, 2007)



• Cấu trúc kháng ngun và độc tố

Tơ Minh Châu và Trần Thị Bích Liên (2001); Trần Thanh Phong (1996) đã

chỉ ra rằng E.coli có cấu trúc kháng nguyên bao gồm 4 loại: kháng nguyên thân (O),

kháng nguyên giáp mô (K), kháng nguyên lông (H) và kháng nguyên tiêm mao (F).

E.coli sinh ra độc tố là nội độc tố (endotoxin) và ngoại độc tố. Nội độc tố

đường ruột (enterotoxin) gây tiêu chảy gồm có 2 loại:

• Enterotoxin LT (heat labile enterotoxin): độc tố đường ruột biến nhiệt,

chia làm 2 phần LTa và LTb, có tính chất kháng ngun

• Enterotoxin ST (heat stable enterotoxin): độc tố đường ruột ổn nhiệt,

gồm STa và STb, khơng có tính chất kháng ngun.

2.4.3 Truyền nhiễm học

• Lồi mắc bệnh

Hầu hết các loại động vật đều có thể mắc bệnh. Trong phòng thí nghiệm, heo

con, thỏ, chuột bạch, chuột lang nhạy cảm với E.coli. Khi tiêm canh trùng dưới da

gây viêm cục bộ, nếu tiêm liều lớn gây hại huyết và giết chết con vật (Tơ Minh

Châu và Trần Thị Bích Liên, 2001).



26



• Chất chứa căn bệnh

Wilson (1986) đã nhận thấy rằng vi khuẩn có nhiều nhất trong phân, ruột già,

ruột non. Ngoài ra, vi khuẩn còn có trong máu, trong các cơ quan phủ tạng như gan,

lách, hạch, tủy xương của con vật bị nhiễm trùng huyết (trích dẫn bởi Nguyễn Thị

Huyền Thi, 2011).

Trong tự nhiên, vi khuẩn tồn tại khắp nơi, chúng có thể được phân lập từ nền

chuồng, thức ăn, nước uống.

• Đường xâm nhập

Vi khuẩn E.coli xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa. Vi khuẩn xâm nhập

vào cơ thể do heo con ăn phải thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh, liếm láp phân

và các chất dơ bẩn

2.4.4 Triệu chứng - Bệnh tích (Nguyễn Như Pho, 2001)

Trên 70% trường hợp tiêu chảy heo con là do E.coli với 3 thể bệnh:

• Tiêu chảy phân trắng do nhiễm E.coli.

• Tiêu chảy phân vàng khi kết hợp với virus trên heo con theo mẹ.

• Tiêu chảy nhiều nước, phân xanh lá cây nhạt trên heo con sau cau sữa.

Tiêu chảy phân trắng: heo con khơng có triệu chứng ói, sốt và không bỏ

bú. Mức độ mất nước không nhiều như tiêu chảy do virus. Bệnh lây lan chậm trong

bầy, một số heo tiêu chảy nhưng một số khác lại bình thường. Niêm mạc ruột không

xuất huyết hoặc loét.

Tiêu chảy phân vàng: do kết hợp với virus. Bệnh xảy ra trên heo con trong

2 tuần sau khi sinh. Phân có màu vàng, nhiều nước. Tốc độ lây lan trong bầy nhanh.

Tiêu chảy thường kèm theo ói mửa, heo con bỏ bú. Tình trạng mất nước rất nặng,

heo con gầy sút đi nhanh chóng. Mổ khám thấy thành ruột rất mỏng, ruột chứa

nhiều hơi căng bóng.



27



Tiêu chảy phân xanh lá cây nhạt: chủ yếu xảy ra trên heo con giai đoạn

sau cai sữa hoặc ni thịt. Phân có màu xanh lá cây nhạt, nhiều nước. Bệnh rất ít lây

lan trong bầy. Mặc dù heo con tiêu chảy nhưng vẫn ăn uống được. Trường hợp tiêu

chảy kéo dài nhiều ngày mới dẫn đến tình trạng mất nước còn thơng thường khơng

thấy dấu hiệu này.



28



2.5 LƯỢC DUYỆT CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Phạm Thị Hạnh (2010) khảo sát tình hình tiêu chảy ở heo con sau cai sữa đến

75 ngày tuổi trong 3 đợt heo tại trại Darby - CJ Genetics (Bến Cát - Bình Dương) đã

thu được kết quả: nhiệt độ trung bình đợt I: 31,35 0C, đợt II: 30,83 0C, đợt III: 30,3

0



C; ẩm độ trung bình đợt I: 69,83 %, đợt II: 69,33 %, đợt III: 68,74 % (từ 28/05 -



18/09). Tỷ lệ heo con tiêu chảy 67,32 %; tỷ lệ ngày con tiêu chảy 3,37 %; tỷ lệ tiêu

chảy ở giai đoạn 25 - 32 ngày tuổi với tỷ lệ 5,79 %; tỷ lệ tiêu chảy ở giai đoạn 33 40 ngày tuổi với tỷ lệ 7,58 %. Trại sử dụng kháng sinh Baytril 5 % (enrofloxacin)

điều trị tiêu chảy; tỷ lệ chữa khỏi trung bình đạt 93,39 %; thời gian điều trị trung

bình là 2,09 ngày; tỷ lệ tái phát trung bình 13,01 %; tỷ lệ chết do tiêu chảy trung

bình là 4,48 %.

Trần Minh Tấn (2011) khảo sát tình hình bệnh và hiệu quả điều trị trên heo

sau cai sữa đến 56 ngày tại xí nghiệp chăn ni heo Đồng Hiệp (Củ Chi - Tp.

HCM). Kết quả như sau: nhiệt độ buổi sáng 24,19 - 25,76 0C, buổi trưa 32,07 34,12 0C, buổi chiều 30,39 - 33,19 0C. Ẩm độ trung bình buổi sáng 79,01 - 86,31 %,

buổi trưa 58,82 - 66,38 %, buổi chiều 64,06 - 72,69 % (vào tháng 2, 3, 4). Tỷ lệ heo

tiêu chảy 80,30 %; tỷ lệ ngày con tiêu chảy là 5,48 %; tỷ lệ điều trị khỏi bệnh tiêu

chảy là 94,72 %; thời gian điều trị khỏi bệnh tiêu chảy trung bình là 3,07 ngày. Kết

quả thử kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn E.coli còn nhạy cảm với norfloxacin,

colistin, gentamycin (60 %).

Tạ Thế Thôi (2009) đã ghi nhận một số kết quả trên 294 con heo từ 24 đến

60 ngày tuổi tại trại chăn nuôi thuộc huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai. Tỷ lệ tiêu

chảy là 53,40 %; tỷ lệ ngày con tiêu chảy là 8,14 %; tỷ lệ tái phát là 38,85 %. Trại

sử dụng kháng sinh Baytril 5 %, Multibio (ampicilline, colistin, dexamethasone) để

điều trị tiêu chảy.

Lương Thu Hoài (2010) khảo sát tiêu chảy và hiệu quả điều trị trên heo từ sơ

sinh đến 60 ngày tại một trại chăn nuôi heo công nghiệp ở Đồng Nai. Tác giả khảo

sát trên 389 heo cai sữa. Nhiệt độ trung bình 27,63 0C; ẩm độ trung bình 75,18 %



29



(trong tháng 3, 4, 5, 6). Tỷ lệ tiêu chảy trên heo cai sữa là 23,91 %; tỷ lệ ngày con

tiêu chảy trên heo cai sữa là 1,78 %; tỷ lệ chữa khỏi là 76,19 %; thời gian điều trị

khỏi trung bình là 3,93 ngày; tỷ lệ tái phát 24,54 %; tỷ lệ chết do tiêu chảy là 2,96

%; tỷ lệ loại thải do tiêu chảy là 2,8 %. Kết quả phân lập 8 mẫu có 8 mẫu nhiễm

E.coli (80 %). Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy E.coli ở heo cai sữa nhạy

amoxicillin là 75 %.

Nguyễn Quốc Huy (2012) đã khảo sát tình hình bệnh tiêu chảy và hiệu quả

điều trị trên heo con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi tại Đồng Nai. Nhiệt độ trung

bình chuồng ni từ 21,45 - 34,27 0C, ẩm độ trung bình từ 62,29 - 86,53 %; tỷ lệ

heo tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy là 52,62 % và 6,15 %; tỷ lệ ngày con tiêu

chảy cao nhất ở giai đoạn 25 - 32 ngày (9,87 %); tỷ lệ tái phát là 25,92 %; tỷ lệ điều

trị khỏi là 97,14 %; thời gian điều trị khỏi trung bình là 3,02 ngày/ca bệnh; tỷ lệ chết

là 2,01 % và tỷ lệ còi cọc (1,46 %). Tỷ lệ nhiễm E.coli (73,33 %), Salmonella

(13,33 %). Vi khuẩn E.coli chỉ còn nhạy cảm với cephalexin (45,45 %); colistin,

tetracyclin là những kháng sinh đã bị đề kháng hoàn toàn, kế đến là amoxicillin

(81,82 %), gentamicin (72,73 %).

Dương Đức Thái (2012) đã ghi nhận trên heo từ 30 ngày tuổi đến 60 ngày

tuổi tại trại tư nhân huyện Tân Uyên với tỷ lệ heo tiêu chảy là 25,78 %, tỷ lệ ngày

con tiêu chảy là 3,18 %, tỷ lệ tái phát là 14,03%, tỷ lệ điều trị khỏi là 97,10 %.

Nguyễn Thị Bích Liên (2002) khảo sát tại xí nghiệp chăn ni heo Đồng

Hiệp (Thủ Đức - TP. HCM) có tỷ lệ heo tiêu chảy là 44,76 %; tỷ lệ ngày con tiêu

chảy cao từ 28 - 42 ngày tuổi, nhất là giai đoạn 28 - 35 ngày (9,74 %); tỷ lệ tái phát

là 33,03 %.

Phạm Cơng Trạng (2008) đã khảo sát tình hình bệnh trên heo con sau cai sữa

từ 28 ngày đến 65 ngày tuổi tại trại chăn nuôi heo giống cao sản Kim Long thuộc

tỉnh Bình Dương. Với ghi nhận: tỷ lệ heo tiêu chảy là 38,10 %, tỷ lệ ngày con tiêu

chảy trung bình là 3,02 %, tỷ lệ tái phát là 15,29 %, với thời gian điều trị khỏi trung

bình (2,48 ngày), tỷ lệ chết do tiêu chảy (1,05 %).



30



Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM

3.1.1 Thời gian: từ tháng 02/13 - tháng 05/13

3.1.2 Địa điểm: trại chăn nuôi heo Hưng Việt, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

Heo từ cai sữa đến 63 ngày tuổi

Đợt I: 296 (con)

Đợt II: 303 (con)

Đợt III: 248 (con)

3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT

(1) Khảo sát tiểu khí hậu chuồng ni

(2) Khảo sát bệnh tiêu chảy

(3) Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ

(4) Khảo sát liệu pháp và hiệu quả điều trị tại trại

(5) Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng

3.4 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.4.1 Khảo sát tiểu khí hậu chuồng ni

3.4.1.1 Phương pháp tiến hành



31



Dùng nhiệt kế và ẩm kế đặt cách nền chuồng khoảng 0,5 m. Nhiệt độ và ẩm

độ trong chuồng được ghi nhận tại 3 thời điểm trong ngày: Sáng (7h - 7h30), trưa

(14h - 14h30), chiều (17h - 17h30).

3.4.1.2 Các chỉ tiêu khảo sát và cơng thức tính

Nhiệt độ trung bình (0C) = Tổng nhiệt độ đo được / Tổng số lần đo

Ẩm độ trung bình (%) = Tổng ẩm độ đo được / Tổng số lần đo

3.4.2 Khảo sát bệnh tiêu chảy

3.4.2.1 Phương pháp tiến hành

Chúng tôi tiến hành kiểm tra sức khỏe đàn heo vào đầu giờ mỗi buổi sáng tại

thời điểm ghi nhận nhiệt độ, ẩm độ. Đầu tiên, chúng tơi quan sát tồn đàn, sau đó

quan sát từng con có các dấu hiệu như đi phân lỏng trên nền chuồng và hậu môn,

heo uể oải, bỏ ăn, kém vận động, lông xù, niêm mạc mắt mũi trắng bệch, gầy còm,

giảm tăng trọng, rồi đánh dấu để ghi nhận lại.

3.4.2.2 Chỉ tiêu khảo sát và công thức tính

Chỉ tiêu khảo sát

− Tỷ lệ heo tiêu chảy (TLTC)

− Tỷ lệ ngày con tiêu chảy (TLNCTC)

− Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi (TLNCTCNT)

− Tỷ lệ chết do tiêu chảy (TLCTC)

− Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác (TLCNNK)

− Tỷ lệ loại thải do tiêu chảy (TLLTTC)

Công thức tính

TLTC (%) = (Tổng số con bệnh tiêu chảy / Tống số con khảo sát) * 100

TLNCTC (%) = (Tổng số ngày con bệnh tiêu chảy / Tổng số ngày con nuôi) * 100



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.7 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×