Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

2 MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1. SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT

2.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn ni Hưng Việt thuộc phường Long Tâm, thành phố Bà Rịa, tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu. Trại nằm trên đường Hùng Vương, cách trung tâm của thành

phố khoảng 3 km về hướng Đông Bắc. Trại được xây dựng trên khu đất cao, tương

đối bằng phẳng, có tường bằng xi măng kiên cố bao bọc chung quanh.

Phía Đơng giáp cánh đồng lúa.

Phía Tây và Nam giáp khu dân cư.

Phía Bắc giáp đường quốc lộ 56.

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Trại được thành lập vào ngày 11/06/1990. Xuất phát từ chăn nuôi quy mô hộ

gia đình cho đến nay quy mơ của trại mở rộng trên 2.000 con. Hiện tại, trại có 1 cán

bộ kĩ thuật trình độ thạc sĩ, 1 bác sỹ, 3 kỹ sư và gần 40 công nhân lành nghề. 23

năm hình thành và phát triển, trại vẫn đang tiếp tục đương đầu với những bấp bênh

nói chung của ngành chăn ni. Cũng chính vì lý do đó, trại rất chú trọng vào khâu

quản lý, công tác giống và đầu tư các máy móc thiết bị mới nhằm nâng cao hiệu quả

chăn nuôi.

2.1.3 Nhiệm vụ

Cung cấp heo thịt cho thị trường tiêu thụ trong tỉnh, Tp. Hồ Chí Minh và các

tỉnh lân cận.



3



Cung cấp con giống cho các hộ chăn nuôi.

Cung cấp tinh cho các hộ chăn nuôi trong tỉnh và các vùng phụ cận.

2.1.4 Cơ cấu tổ chức

BAN GIÁM ĐỐC



BỘ PHẬN TRỒNG TRỌT

Tổ

trồng

trọt



Tổ



khí



BỘ PHẬN CHĂN NI

Tổ

chăn

ni

heo



Tổ

chăn

ni



sữa



Tổ

chế

biến

thức

ăn



GIÁN TIẾP PHỤC VỤ

Kế

tốn



Bảo

vệ



Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức trại chăn nuôi Hưng Việt

2.1.5 Sơ đồ trại

Trại có tổng diện tích khoảng 7,5 ha, chia làm 3 khu riêng biệt (Sơ đồ 2.2):

Khu dành cho Ban Giám Đốc, kỹ thuật viên và công nhân

Khu trồng trọt chiếm diện tích chủ yếu (X, Y, Z)

Khu chăn ni: Chăn ni bò

Chăn ni heo:

A1, B1 - nái đẻ nuôi con

A21, A22 - heo con sau cai sữa

A51, A52, B2, B5, B6 - heo thịt

A3, B3 - nái khô và nái mang thai

A4, B4 - heo hậu bị và heo đực giống



4



Nhà

bếp



5



Sơ đồ 2.2 Sơ đồ trại chăn ni Hưng Việt



5



2.1.6 Phương thức hoạt động

Với mơ hình khép kín, kết hợp chặt chẽ giữa các loại hình hoạt động, trại đã

tận dụng triệt để nguồn lợi từ trồng trọt, đồng thời hỗ trợ có hiệu quả cho chăn ni.



Hình 2.1 Tồn cảnh khu chăn ni và trồng trọt

• Chăn nuôi heo

Là hướng sản xuất chủ lực của trại. Một năm trại có 18 đợt phối giống. Sau

mỗi đợt phối, những heo nái mang thai được đưa lên chuồng nái đẻ nuôi con và ở

đây khoảng 5 tuần. Sau thời gian chờ đẻ, đẻ và ni con, tồn bộ heo nái được dẫn

trở về chuồng nái khô chờ phối chờ đến đợt phối tiếp theo. Một ngày trước khi

chuyển nái, đàn heo con được chuyển sang chuồng heo con sau cai sữa để ni

dưỡng và chăm sóc trong vòng 5 tuần. Sau đó, heo con tiếp tục được ni ở chuồng

heo thịt trong 12 tuần.

Từ quy trình như vậy, trại xuất bán 3 loại heo. Thứ nhất, heo thịt giai đoạn

nuôi từ 12 - 15 tuần được cung cấp cho các nguồn tiêu thụ thường xuyên của trại.

Thứ hai, lượng heo dôi ra khi chuyển heo sau cai sữa sang chuồng thịt được nhốt



6



nuôi ở chuồng riêng để bán con giống. Thứ ba, những con heo nọc và nái trong kế

hoạch loại thải định kì của trại được đem bán cho thương lái.

• Trồng trọt

Trại đầu tư hai hệ thống xử lý chất thải lớn. Nước thải từ chăn nuôi được xử

lý đạt tiêu chuẩn rồi sử dụng làm nước tưới, chất thải rắn được ủ với phần thân cứng

cỏ voi làm phân bón. Nhờ đó, trồng trọt đã tận dụng triệt để những chất thải từ chăn

nuôi. Sản phẩm từ trồng trọt (cỏ voi, cỏ đậu, bắp, ớt, rau ngót, …) vừa là nguồn thu

nhập đáng kể vừa được sử dụng để bổ sung trong thức ăn chăn ni của trại.

• Chăn ni bò

Hiện tại, trại ni 29 con bò sữa giống lai Holstein Friesian, trong đó có 11

con bò đang cho sữa. Bê cái sinh ra được giữ lại làm giống, bê đực được nuôi theo

hướng thịt. Lượng sữa thu hoạch bình quân là 150 - 200 lít/ngày. Sữa được giao cho

nhà bếp hấp tiệt trùng và chế biến để bán quán, một phần chuyển về tổ chăn nuôi

heo cho heo con theo mẹ, heo cai sữa sớm (sữa đã được tách bơ) và heo sau cai sữa

uống.

• Kinh doanh qn: Phục vụ sữa bò tươi và các sản phẩm từ sữa bò.

2.1.7 Cơ cấu đàn heo

Tính đến ngày 06/06/2013 tổng đàn là 2.020 con với cơ cấu đàn hiện diện:

Nái sinh sản: 210 con

Đực làm việc: 14 con

Nái hậu bị: 85 con

Đực hậu bị: 7 con

Heo thịt: 996 con

Heo con sau cai sữa: 502 con

Heo con theo mẹ: 208 con



7



2.1.8 Công tác giống

Hiện nay, đàn heo nái sinh sản của trại chủ yếu là giống Yorkshire và một số

nhóm giống lai. Vào đợt phối, những con nái được lên kế hoạch để phối giống. Tinh

để phối giống là tinh được khai thác từ những con nọc của trại. Khả năng cho tinh

của nọc được ghi chép lại. Những con có phẩm chất tinh xấu hay số lượng ít sẽ bị

loại. Việc ghép đơi giao phối được lên kế hoạch kĩ lưỡng để tránh tình trạng giao

phối cận huyết. Ngoài ra, cứ khoảng 2 - 3 năm, trại lại nhập tinh heo từ các nước

Mỹ, Canada và các trại ở Tp.HCM về để lai tạo.

Trại tuyển chọn hậu bị rất khắt khe. Trại sử dụng máy đo để tính các chỉ tiêu

như độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn, ... khi heo được 21 tuần tuổi. Những heo này

được kiểm tra lý lịch một cách kĩ lưỡng. Bên cạnh đó, hậu bị được tuyển chọn phải

đạt yêu cầu về ngoại hình như vú chẵn, con cái trên 12 vú, con đực trên 14 vú và

khoảng cách giữa các vú đều nhau, khoảng cách giữa hai hàng vú không quá gần

cũng không quá xa, núm vú phải lộ rõ, cơ quan sinh dục phát triển bình thường, …

2.1.9 Hệ thống chuồng trại

Hệ thống chuồng trại được xây thành hai dãy, chính giữa là lối đi, các

chuồng tách biệt nhau bởi bãi cỏ đậu rộng khoảng 10 m (Sơ đồ 2.2). Hướng chuồng

là hướng Đông Tây. Chuồng dành cho nái mang thai, heo con sau cai sữa và heo thịt

được thiết kế theo kiểu chuồng kín. Chuồng nọc, nái bầu và nái khô chờ phối là kiểu

chuồng hở. Tồn bộ các chuồng lợp bằng mái ngói nóc đơi, trần được căng tấm bạt

nhựa, nền bằng xi-măng kiên cố với hệ thống thoát nước tương ứng. Hệ thống phun

sương và thơng gió được lắp đặt ở đầu và cuối các chuồng. Tuy nhiên, tùy vào mỗi

loại heo mà các chuồng có diện tích và những đặc điểm riêng phù hợp.

2.1.10 Thức ăn - nước uống

Trại mua cám viên từ cơng ty cám Cargil. Còn lại phần lớn thức ăn cho heo

là cám hỗn hợp dạng bột do trại tự nhập nguyên liệu như mì, bắp, đậu nành, đậu

phộng, cọ, cá, sò, … về để xay xát, sau đó trộn bổ sung thêm kháng sinh, acid

amine, vitamine và các loại khoáng chất thiết yếu khác. Tỷ lệ các thành phần trong



8



cám được điều chỉnh tùy vào từng thời điểm nhưng vẫn đảm bảo hàm lượng chất

dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển trong từng giai đoạn của heo.

Heo nái khô, nái mang thai, đực làm việc cho ăn cám hỗn hợp số 10.

Heo nái nuôi con, nái hậu bị, đực hậu bị cho ăn cám hỗn hợp số 6.

Heo con sau cai sữa sử dụng cám Cargil đỏ, Cargil vàng và cám C.

Heo thịt sử dụng cám C, D, 6, 7.

Nguồn nước mà trại sử dụng là nước ngầm được bơm từ các giếng khoan qua

xử lí chlorine và được đưa lên bồn chứa lớn (20 m3) đặt trên cao 10 m so với mặt

đất. Nước được phân phối cho các dãy chuồng và đến từng van uống nước tự động

cho mỗi ơ chuồng suốt ngày đêm.

2.1.11 Quy trình vệ sinh thú y và tiêm phòng

• Vệ sinh thú y

Đối với chuồng trại:

Bố trí hố sát trùng chân, nước sát trùng tay ở cổng ra vào trại và ở đầu mỗi

chuồng. Mỗi dãy chuồng có một bộ dụng cụ chăn nuôi và thú y riêng, không sử

dụng chung với các dãy khác. Dụng cụ được làm vệ sinh hằng ngày. Công nhân

quét dọn xung quanh chuồng trại, nạo vét cống rãnh, đường mương thốt nước, định

kì sát trùng tồn trại 2 lần/tháng.

Phun thuốc sát trùng xe ra vào trại mua bán heo, xe cung cấp nguyên liệu

thức ăn. Sau mỗi đợt bán hay chuyển heo, công nhân chà chuồng bằng xà phòng và

phun xịt kĩ bằng vòi nước cao áp. Tiếp theo, phun thuốc sát trùng Farm fluid hoặc

Benkocid 1 lần/ngày trong vòng 2 ngày và thời gian để trống chuồng là 1 tuần. Khi

nhập heo mới công nhân định kì phun thuốc sát trùng 1 lần/tuần.

Đối với cơng nhân và khách tham quan:

Công nhân được khám sức khỏe định kì và trang bị đồ bảo hộ lao động như:

quần áo, ủng, găng tay, nón, … Đồ bảo hộ lao động của công nhân phải để ở trại,



9



cũng như không được mặc quần áo bên ngoài trại vào khu vực chăn nuôi. Công

nhân chỉ được di chuyển trong khu vực mình phụ trách.

Khách tham quan phải sát trùng tay chân và mặc áo blouse khi vào trại.

• Tiêm phòng

Bảng 2.1 Quy trình tiêm phòng của trại Hưng Việt

Bệnh

Lở mồm long móng

(FMD)



Qui trình tiêm phòng

Hậu bị phát dục (HBPD): 1 lần ở tuần thứ 2 sau khi chọn làm giống.

Nọc, nái: 2 lần trong năm vào tháng 3 và tháng 9.

Heo con cai sữa: 2 lần, lúc 35 - 37 ngày tuổi và 65 - 68 ngày tuổi.

HBPD: 1 lần sau chọn làm giống.

Nái sinh sản: 2 lần trong năm, sau khi đẻ 7 ngày và tiêm nhắc lại sau



Dịch tả



khi đẻ 7 ngày lứa sau.

Nọc: 2 lần trong năm vào tháng 3 và tháng 9.

Heo cai sữa: 2 lần, lúc 28 - 30 ngày tuổi và 49 - 50 ngày tuổi.

HBPD: 2 lần, sau khi chọn làm giống được 3 tuần và tiêm nhắc lại sau



Giả dại



4 tuần.



(Aujeszky)



Nái sinh sản: 2 lần, lúc 7 tuần trước khi đẻ và 3 tuần trước khi đẻ.

Nọc: 2 lần trong năm.

HBPD: 2 lần, sau khi tuyển làm giống được 4 tuần và tiêm nhắc lại sau

4 tuần.



Bệnh do Parvovirus



Nái sinh sản: 1 lần, sau khi đẻ 15 - 17 ngày.

Nọc: 2 lần trong năm.



Bệnh do E.coli



Nái sinh sản: 2 lần, 1 lần trước khi đẻ 6 tuần, lần 2 trước khi đẻ 2 tuần.



Tụ huyết trùng



HBPD, nọc, nái: 2 lần trong năm.



(Pasteurellosis)



Heo cai sữa: 1 lần lúc 42 - 47 ngày tuổi.



(Nguồn: Phòng kĩ thuật trại chăn nuôi Hưng Việt)



10



2.1.12 Thuốc thú y

Mỗi chuồng heo đều có một tủ thuốc thú y riêng. Những heo còi cọc, ốm

yếu, có dấu hiệu bệnh hoặc đang mắc bệnh được ngăn ngừa và điều trị kịp thời. Trại

sử dụng:

Kháng sinh: Ampi-colistin, Novalinco-spectin, Tylo-DC, Baycox,

Shotapen L.A, Prozil, Oxytetra, Amphoprim, …

Sát trùng vết thương: Xanh Methylen 0,5 %, cồn Iode.

Hạ sốt, giảm đau, kháng viêm: Analgine + C, MD-Dexa.

Thuốc trợ lực và vitamine: Vitamine C 5 %, B.complex, Vitamine AD3E,

Calcifort-B12.



Hình 2.2 Các loại thuốc trại đang sử dụng



11



2.2 ĐIỀU KIỆN CHĂM SĨC - NI DƯỠNG HEO SAU CAI SỮA

2.2.1 Chuồng ni

Là kiểu chuồng kín, có kích thước 12 x 40 m, được chia thành 2 dãy. Tuy

nhiên, hai dãy này hoàn toàn cách biệt nhau bởi bức tường ngăn cách với 2 cửa ra

vào riêng biệt (Hình 2.3). Hệ thống phun sương được lắp ở đầu chuồng. Lối đi bên

hơng chuồng thuận tiện cho cơng nhân chăm sóc, nuôi dưỡng đàn heo. Nền chuồng

bằng xi-măng, được xây nghiêng từ đầu ơ chuồng về phía cuối ơ. Chất thải dễ dàng

chảy xuống đường dẫn chất thải ở cuối chuồng và cuối cùng tập trung ra ngồi

đường dẫn lớn.



Hình 2.3 Dãy chuồng heo sau cai sữa (A21)



Hình 2.4 Một ơ chuồng của chuồng heo

sau cai sữa

12



Bên trong mỗi dãy chuồng chia làm 11 ô với sức chứa 20 - 28 con/ô; sàn

chuồng được làm bằng vỉ sắt cách nền chuồng 0,25 - 0,5 m; mỗi ơ có chiều dài 4 m,

chiều rộng 2,5 m, chiều cao 0,8 m. Máng ăn bán tự động được lắp vào đầu mỗi ô

chuồng với một bệ sắt được hàn vào bên cạnh. Một van uống nước đặt ở đầu mỗi ơ.

Cuối mỗi ơ có treo 2 đèn úm hồng ngoại. Đặc điểm của 1 ơ chuồng như ở Hình 2.4.

Ngồi ra, ở cuối dãy chuồng có một ơ cách ly với kích thước 1,8 x 1 m để tách nuôi

heo mắc bệnh hoặc heo còi.

2.2.2 Chăm sóc - ni dưỡng

Ngày nhập heo, tách riêng những bầy cai sữa sớm vào những ô chuồng cuối.

Trước đó, cơng nhân chuẩn bị lồng bao bố vào khung sắt và đặt ở cuối chuồng rồi

cố định lại bằng dây thép cho heo nằm. Trong 2 tuần đầu hạn chế tắm, xịt chuồng

và đèn úm được bật thường xuyên. Khi đàn heo đã cứng cáp, sức chống chịu tốt hơn

công nhân tháo bỏ những tấm vỉ bao bố ra để vệ sinh sát trùng dưới vòi cao áp rồi

đem phơi nắng để sử dụng cho đợt heo sau. Những ngày nhiệt độ cao, công nhân

mở hệ thống phun sương ở đầu chuồng kết hợp với xịt sàn và tắm heo từ tuần nuôi

thứ 3 trở đi.

Thức ăn trong giai đoạn này sử dụng cám Cargil đỏ, Cargil vàng và cám C

và thay đổi theo ngày:

4 ngày đầu: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil đỏ/Cargil vàng là 2:1

2 ngày tiếp: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil đỏ/cám Cargil vàng là 1:1

2 ngày tiếp: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil đỏ/cám Cargil vàng là 1:2

7 ngày tiếp: cám Cargil vàng

2 ngày tiếp: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil vàng/cám C là 2:1

2 ngày tiếp: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil vàng/cám C là 1:1

2 ngày tiếp: pha trộn với tỷ lệ cám Cargil vàng/cám C là 1:2

14 ngày còn lại: cám C



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×