Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Tiêu chảy trên heo con

3 Tiêu chảy trên heo con

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con

2.3.3.1 Heo mẹ

Nguồn dinh dưỡng chủ yếu của heo con theo mẹ là sữa mẹ. Vì vậy, heo mẹ

có ảnh hưởng rất nhiều đến tiêu chảy heo con. Theo Nguyễn Như Pho (1995), do

heo mẹ không đủ dinh dưỡng trong thời gian mang thai như thiếu protein, vitamin

A, Fe, Cu, Zn v.v... làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con sinh

ra yếu ớt, đề kháng kém dễ mắc bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hóa.

Do heo mẹ khơng được tiêm phòng đúng định kỳ các vaccine như dịch tả,

TGE, E. coli v.v... nên không đủ kháng thể để truyền qua sữa đầu, heo con có nguy

cơ mắc những bệnh trên và tỉ lệ tiêu chảy tăng lên.

Do heo mẹ mắc hội chứng MMA, heo con bú sữa có nhiễm dịch viêm hoặc

liếm dịch viêm rơi vãi. Trên những nái kém sữa hay mất sữa heo con bú được ít

hoặc khơng bú được sữa đầu nên sức đề kháng kém, dễ phát sinh bệnh.

Do heo mẹ dư sữa, heo con bú q nhiều khơng tiêu hóa kịp, lượng protein

còn thừa trơi xuống ruột già bị một số vi khuẩn có hại phân hủy thành độc tố gây

tiêu chảy.

2.3.3.2 Bản thân heo con

Ở heo con mới sinh, bộ máy tiêu hóa chưa hồn chỉnh, thể hiện qua sự phân

tiết không đủ lượng axit chlorhydric và các men tiêu hóa các chất dinh dưỡng. Độ

axit trong dịch vị heo con thấp, khả năng diệt khuẩn kém. Do đó, VSV bất lợi theo

đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày và vào ruột non phát triển mạnh gây

tiêu chảy.

Sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức

tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa. Thí dụ: men tiêu hóa chất đạm

(protease) gồm pepsin, trypsin, chymotrypsin, chỉ đủ tiêu hóa protein của sữa và

protein đậu nành, khơng đủ để tiêu hóa được protein của gạo, bắp, bột cá, bánh dầu

v.v... trong tuần lễ đầu sau khi sinh. Men saccharase chỉ hoạt động sau hai tuần,

men maltase chỉ được phân tiết đầy đủ sau sáu tuần (Nguyễn Như Pho, 2001).



9



Theo Trần Thanh Phong (1996), ở heo con sơ sinh sự tái tạo tế bào nhung

mao ruột chậm, cần 7 – 10 ngày, trong khi heo trưởng thành chỉ cần 2 – 3 ngày. Do

đó sự phục hồi lại tế bào thượng bì ruột bị thương tổn sẽ rất chậm, heo con dễ cảm

thụ với mầm bệnh và điều trị bệnh lâu khỏi hơn heo lớn.

Theo Võ Văn Ninh (2007), heo con thời kỳ mọc răng dễ mắc bệnh tiêu chảy.

Hai thời điểm heo con sốt và tiêu chảy với tỉ lệ cao nhất là lúc 10 – 17 ngày tuổi và

23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 hàm dưới và răng

sữa tiền hàm số 4 hàm trên.

Ngoài ra, do đặc tính heo con hay liếm láp nước đọng nên dễ nhiễm VSV

gây bệnh hoặc heo con ăn thức ăn của mẹ, vào ruột khơng tiêu hóa được sẽ dẫn đến

tiêu chảy.

2.3.3.3 Chăm sóc ni dưỡng

Heo con khơng được bú sữa đầu đầy đủ thì sức đề kháng kém. Sữa đầu ngồi

thành phần dinh dưỡng cao còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp heo con

phòng chống bệnh trong 3 – 4 tuần lễ đầu. Heo con nếu không được tiêm sắt đầy đủ

dễ dẫn đến thiếu máu. Heo con nhận khoảng 1 mg sắt/con/ngày từ sữa mẹ trong khi

nhu cầu là 7 – 16 mg sắt/con/ngày. Thiếu sắt làm hại tiến trình hơ hấp và làm giảm

khả năng giết vật lạ của bạch cầu. Thiếu sắt làm ngưng trệ quá trình thành lập

hemoglobin hồng cầu, sự vận chuyển oxy đến mơ bào, sự bài thải khí cacbonic ra

khỏi cơ thể bị hạn chế, gây ngộ độc tế bào, sức đề kháng heo con sẽ yếu đi, hoạt

động tiêu hóa kém dẫn đến chứng khơng tiêu thức ăn và loạn khuẩn đường ruột.

Heo con không được cắt và buộc rốn cẩn thận sẽ dẫn đến chảy máu cuốn rốn

hoặc nhiễm trùng cuốn rốn cũng dễ bị tiêu chảy. Nếu bấm răng không kỹ, khi bú

heo con làm trầy vú gây viêm vú heo mẹ và heo con bú sữa của vú viêm sẽ rất dễ bị

tiêu chảy. Do điều kiện vệ sinh kém bao gồm không sát trùng chuồng nái trước khi

sanh, cho nái ăn thức ăn kém phẩm chất, có chứa vi trùng hoặc nấm mốc. Nguồn

nước uống khơng sạch cũng được xem là ngun nhân chính dẫn đến sự nhiễm

trùng ruột.



10



2.3.3.4 Điều kiện ngoại cảnh

Khi mới sinh ra khả năng thích nghi và bảo vệ của heo con rất kém, vì vậy

heo con nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của điều kiện ngoại cảnh. Theo Đào

Trọng Đạt và ctv (1995), trong những yếu tố tiểu khí hậu thì nhiệt độ và ẩm độ là

quan trọng nhất. Độ ẩm thích hợp cho heo con vào khoảng 75 – 85%. Do đó, trong

những tháng mưa nhiều số heo con tiêu chảy tăng rõ rệt, bệnh số có thể lên đến 90 –

100% tồn đàn.

Ẩm độ cao tạo điều kiện cho các phản ứng phân hủy các chất hữu cơ trên

nền chuồng xảy ra nhanh, giải phóng các khí độc như NH3, H2S và các khí độc khác

vào khơng khí làm vật ni khó chịu, mất cảm giác ngon miệng và giảm khả năng

tiêu hóa.

Nhiệt độ thích hợp cho heo con theo mẹ là 330C. Trong khi đó, lượng mỡ ở

heo sơ sinh rất thấp (1% - 2%) và thiếu mỡ nâu để làm ấm cơ thể. Ở giai đoạn đầu,

heo con duy trì được thân nhiệt chủ yếu nhờ nước trong cơ thể và nhờ hoạt động rất

mạnh của hệ tuần hồn. Do đó nếu nhiệt độ chuồng nuôi thấp (< 250C) heo con bị

lạnh, nhu động ruột giảm, kháng thể qua ruột chậm lại và số lượng VSV gây bệnh

trong đường tiêu hóa tăng cao dẫn đến tiêu chảy.

2.3.3.5 Vi sinh vật

Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1999), bệnh đường tiêu hóa chiếm vị trí ưu tiên

trong thời kỳ sơ sinh của tất cả các lồi gia súc và q trình bệnh lý này chủ yếu là

do sự mất cân bằng của hệ VSV đường ruột gây ra. Mặc dù mơi trường ruột có độ

ẩm, chất dinh dưỡng thuận lợi để các VSV lên men thối phát triển nhưng sự sinh

sản của chúng vẫn có giới hạn vì những yếu tố kìm hãm: độ axit của dạ dày, dịch

mật, dịch tụy, sự cạnh tranh đối kháng của các VSV khác. Khi sức đề kháng của

con vật bị giảm sút do stress, dinh dưỡng kém hay do thay đổi của mơi trường thì

các VSV có hại lên men thối sẽ chiếm ưu thế, trở thành nguyên nhân chính gây

bệnh đường ruột.



11



Theo Vũ Văn Ngũ và Nguyễn Hữu Nhạ (1997 – trích dẫn Nguyễn Như Pho,

1995) thì tiêu chảy ở heo con là do hiện tượng loạn khuẩn. Bình thường các vi

khuẩn đường ruột ln ở thế qn bình, bảo đảm sự tiêu hóa bình thường cho vật

chủ. Thế quân bình dựa vào 2 cơ chế: Tranh giành nhau một chất chuyển hóa cân

bằng cho sự phát triển và tiết ra chất bacteriocin có tính chất kháng sinh đối với vi

khuẩn khác nhưng khơng có tác dụng đối với vi khuẩn tiết ra nó. Một khi loạn

khuẩn xảy ra, số lượng vi khuẩn có lợi giảm thấp còn vi khuẩn có hại tăng cao, gây

ra tiêu chảy.

2.5 Hoạt động tiêu hóa trên heo con giai đoạn cai sữa

2.5.1 pH dạ dày và tầm quan trọng đối với heo con cai sữa

Cai sữa là một q trình khơng thể tránh khỏi nhiều yếu tố gây stress cho

heo con, trong đó có thức ăn bị chuyển từ sữa mẹ dễ tiêu sang thức ăn khẩu phần

khó tiêu hóa hơn. Hơn nữa, vì lúc này hệ tiêu hóa phát triển chưa hồn chỉnh nên

heo con thường khơng sản xuất đủ HCl trong dạ dày để hỗ trợ tiêu hóa thức ăn.

Theo Easter (1988), heo con theo mẹ có một số phương pháp tự nhiên để vượt qua

những khó khăn khi phân tiết không đủ axit. Cách chủ yếu là chuyển lactose trong

sữa mẹ thành axit lactic nhờ có vi khuẩn Lactobacilli thường trú trong dạ dày. Bởi

vì heo con đột ngột bị giảm nguồn cơ chất để sản xuất axit lactic sau khi cai sữa nên

dẫn đến mức pH tăng cao trong dạ dày. Kết quả là pH cao này khơng thích hợp cho

hoạt động của một số enzyme tiêu hóa như pepsin. Taylor (1959) đã báo cáo rằng,

pepsin có hai mức pH tối ưu là 2 và 3,5, hoạt tính của nó giảm khi pH > 3,6 và mất

hoạt tính ở pH > 6.

Ravidran và Kornegay (1993) đã chứng minh một số ảnh hưởng bắt nguồn

từ pH cao trong dạ dày. Thứ nhất, pH cao khơng thích hợp cho hoạt động của

pepsin trong dạ dày nên protein thức ăn có thể xuống ruột non mà chưa được tiêu

hóa hồn tồn, cuối cùng làm giảm hiệu quả tiêu hóa protein. Thứ hai, các sản phẩm

từ sự tiêu hóa bằng pepsin cũng kích thích tuyến tụy tiết enzyme phân giải protein

và axit dạ dày là nguyên nhân chủ yếu kích thích sự phân tiết bicarbonate từ tuyến



12



tụy. Cuối cùng, thức ăn khơng được lưu lại dạ dày lâu để tiêu hóa mà đi vào ruột

non nhanh hơn, vì độ axit trong dạ dày đóng một vai trò trong cơ chế phản hồi để

điều hòa tốc độ làm trống dạ dày. Như vậy, thức ăn xuống phần sau của đường tiêu

hóa mà chưa được tiêu hóa hồn tồn, vi khuẩn gây bệnh có thể sử dụng để phát

triển. Hậu quả cuối cùng là gây tiêu chảy và tăng trưởng kém.

Hơn nữa, môi trường pH cao có thể tạo thuận lợi cho một số loại vi khuẩn,

đặc biệt là Coliform (Sissons, 1989). Độ pH dạ dày cao có thể cho phép vi khuẩn có

hại sống sót đi qua dạ dày, xâm nhập và phát triển trong ruột, mà đã thấy có liên

quan đến tiêu chảy và tăng tỷ lệ chết (Smith và Jones, 1963).

2.5.2 Hoạt động của enzyme tiêu hóa khi cai sữa

Hệ tiêu hóa của heo con trước khi cai sữa đã thích ứng để tiết các enzyme

tiêu hóa cần thiết cho sự tiêu hóa sữa chứ khơng phải cho các loại thức ăn khác, đặc

biệt là thức ăn nguồn gốc thực vật. Do đó, hoạt lực của lactase mạnh trong khi

lipase và protease chỉ đủ để tiêu hóa chất béo và protein trong sữa. Ngay sau khi cai

sữa, hệ tiêu hóa của heo phải thích nghi với một chế độ ăn mới gây ra nhiều khó

khăn cho sự phân tiết enzyme tiêu hóa. Theo Cranwell và Moughan (1989), hệ tiêu

hóa của heo con phát triển chưa hồn chỉnh, thậm chí đến 4 tuần tuổi, do đó chúng

cần phải trải qua một giai đoạn để phát triển khả năng thích ứng với thức ăn mới.

Jensen và ctv (1997) đã thấy có sự giảm hoạt động của enzyme tuyến tụy trên heo

cai sữa so với heo con đang theo mẹ. Tại thời điểm cai sữa 28 ngày tuổi, hoạt lực

của trypsin giảm đột ngột nhưng sau đó tăng trở lại, 4 tuần sau đó cao gấp 9 lần so

với khi cai sữa, chymotrypsin và amylase cũng được thấy có khuynh hướng tương

tự (Bảng 2.2).



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Tiêu chảy trên heo con

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×