Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
10 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu

10 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Qua tham khảo một số đề tài nghiên cứu có thể thấy rằng, bệnh hô hấp luôn

là vấn đế quan tâm lớn của các nhà chăn nuôi heo và những người làm cơng tác thú

y vì bệnh hơ hấp chiếm tỷ lệ cao (> 30 %) trong các bệnh thường gặp. Chính vì vậy,

nghiên cứu này tiếp tục khảo sát bệnh hô hấp và định một số mầm bệnh thông qua

kết quả mổ khám tại Trại heo công nghiệp ở quận 9 để tìm hiểu hiện trạng bệnh hơ

hấp từ đó khuyến cáo nhà chăn ni một vài liệu pháp phòng và trị bệnh tốt hơn.



27



Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm thực hiện

3.1.1. Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện từ ngày 22/2/2013 đến ngày 30/8/2013 tại trại heo

Tiger quận 9, TP.HCM.

Phân tích kết quả PCR/ RT – PCR và đánh giá bệnh tích vi thể tại phòng thí

ngiệm Bệnh Viện Thú Y trường đại học Nông Lâm TP. HCM.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Khảo sát được thực hiện trên heo từ 56 ngày tuổi đến khi xuất chuồng tại

thời điểm khảo sát.

3.3. Nội dung nghiên cứu

(1) Khảo sát tiểu khí hậu chuồng nuôi và mật độ nuôi

(2) Khảo sát tỷ lệ bệnh hô hấp và biểu hiện lâm sàng hô hấp

(3) Xác định một số nguyên nhân chính gây bệnh trên heo mắc bệnh hô hấp

3.4. Phương pháp tiến hành

3.4.1 Bố trí khảo sát

Khảo sát được thực hiện trên heo từ 56 ngày tuổi đến khi xuất chuồng được

chia cho 2 khu chuồng khác nhau. Mỗi khu chuồng gồm 2 đợt heo liên tiếp nhau

cùng độ tuổi nhưng khác nhau về thời điểm.

Bảng 3.1. Bố trí khảo sát

Khu Đợt



A



B



Thời gian khảo sát



Số heo khảo sát(con)



1



4 tháng từ ngày 24/2/2013 – 24/6/2013



110



2



4 tháng từ ngày 01/03/2013 – 01/07/2013



135



1



4 tháng từ ngày 28/02/2013 – 28/06/2013



100



2



4 tháng từ ngày 05/03/2013 – 05/07/2013



135



Tổng



480



28



3.4.2. Khảo sát tiểu khí hậu và mật độ chuồng ni

Mục đích

Tìm hiểu được thực trạng về tiểu khí hậu tại trại, cũng như mật độ chuồng

ni trên heo thịt, từ đó đưa ra nhận xét về sự phù hợp nhiệt độ, ẩm độ, mật độ đối

với heo trong giai đoạn này.

Dụng cụ

Nhiệt độ kế, ẩm độ kế, sổ ghi chép

Phương pháp tiến hành

Nhiệt độ, ẩm độ

Việc ghi nhận nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi được thực hiện 3 lần trong ngày

lúc 6 – 7 giờ (Sáng), 13 – 14 giờ (Trưa), 17 – 18 giờ (Chiều) cùng thời điểm với

khảo sát biểu hiện hô hấp trên heo theo dõi. Nhiệt kế được đặt ở giữa dãy chuồng và

cách nên chuồng 0,6 m, đặt cố định trong chuồng heo từ khi heo 56 ngày tuổi cho

tới khi xuất chuồng.

Nhiệt độ trung bình (T0tb) được xác định thơng qua việc tính tốn thơng số

đọc trên nhiệt kế.

T0tb/ ngày (0C) = Tổng nhiệt độ đo được 3 lần trong ngày/ 3

T0tb/ tuần (0C) = Tổng nhiệt độ trung bình trong 7 ngày / 7

T0tb/ tháng (0C) = Tổng nhiệt độ trung bình trong 4 tuần / 4

Ẩm độ trung bình (RHtb) được xác định thơng qua việc tính tốn thơng số đọc trên

nhiệt kế.

RHtb/ ngày (%) = Tổng ẩm độ đo được 3 lần trong ngày/ 3

RHtb/ tuần (%) = Tổng ẩm độ trung bình trong 7 ngày / 7

RHtb/ tháng (%) = Tổng ẩm độ trung bình trong 4 tuần / 4



3.4.3. Khảo sát bệnh hô hấp và hô hấp phức hợp trên heo

Mục đích



29



Đánh giá hiện trạng bệnh hơ hấp và tổng quan trại bằng phương pháp phỏng

vấn trực tiếp người chăn nuôi tại trại chăn nuôi để nắm được các thông tin chung về

tất cả các mặt như tổng quan trại, tổng đàn, quy trình vaccine, thơng tin về thức ăn,

nước uống sử dụng trong trại. Kết hợp với theo dõi, quan sát trực tiếp để biết rõ hơn

về tình hình hơ hấp của heo tại trại.

Phương pháp tiến hành

Điều tra tình hình bệnh hơ hấp bằng phương pháp quan sát trực tiếp biểu hiện

hô hấp hàng ngày của heo ở từng ô chuồng. Heo được theo dõi, đánh dấu và ghi

nhận có biểu hiện hơ hấp vào lúc 6 – 7 giờ (sáng), 13 – 14 giờ (trưa) và lúc 16 – 17

giờ (chiều) dựa vào các triệu chứng lâm sàng như : hắt hơi kèm theo chảy nước mũi

có dạng lỏng, lợn cợn, mủ đặc (vàng hoặc nâu vàng), nhờn đục. Heo ho được ghi

nhận khi heo ho từ hai tiếng trở lên trong một lần ho, thở bụng (biểu hiện thở thể

bụng được ghi nhận khi heo có thành bụng hoạt động rõ, còn thành ngực hoạt động

yếu hoặc không hoạt động), ho – thở bụng (thể hiện đồng thời hai biểu hiện trên).

Ngoài ra nhằm đánh giá tổng thể hơn về tình hình bệnh trên heo khảo sát. Sau đó

tiến hành điều trị bằng các loại thuốc của trại.

Các chỉ tiêu khảo sát trên heo

Tỷ lệ ho (%) = (số con ho theo biểu hiện lâm sàng) / (tổng số con nuôi) x 100

Tỷ lệ heo thở bụng (%) = (số heo thở bụng) / (Tổng số con nuôi) x100

Tỷ lệ con ho và thở bụng (%) = (Số con có biểu hiện ho và thở bụng) / (Tổng

số con nuôi) x 100

Tỷ lệ chết (%) = (Tổng số heo chết) / (Tổng số heo nuôi) x 100

3.4.3. Xác định ngun nhân gây bệnh chính trên heo hơ hấp được mổ khám

Mục đích

Bằng cách đánh giá triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể

kết hợp với kết quả chẩn đoán PCR / RT – PCR để xác định bệnh lý hô hấp và căn

bệnh gây ra rối loạn hô hấp tại trại.

Phương pháp tiến hành

Trong quá trình khảo sát, mổ khám được thực hiện trên 3 ca bệnh khác nhau



30



(Bảng 3.2) và trên những heo có biểu hiện hơ hấp đặc trưng để quan sát bệnh tích

đại thể của các cơ quan hơ hấp như : thanh quản, khí quản, hạch phổi, màng phổi,

phổi, các chất tiết đường hô hấp, hạch bẹn, gan, lách, thận.

Bảng 3.2. Số ca bệnh khảo sát trong các đợt theo dõi

Ngày

13/03/2013

15/05/2013

17/05/2013

TỔNG



Đợt

1

2

2



Khu

B

A

B



Số heo mổ khám (n)

1

1

1

3



Lấy mẫu bệnh phẩm

Lấy mẫu phổi vi thể (0,5 x 2 cm) cho vào lọ formalin 10 % có đánh số thứ tự

để đánh giá bệnh tích vi thể. Mẫu phổi lấy là vùng có bệnh tích viêm rõ ràng (phần

tiếp giáp giữa mơ bệnh và mơ lành). Lấy mẫu ở 5 vị trí khác nhau trên mơ phổi

viêm, tại mỗi vị trí phổi cắt mẫu làm 2 phần cho xét nghiệm vi thể và PCR. Mẫu

PCR sau khi lấy được bảo quản ở nhiệt độ lạnh (thùng đá) và nhanh chóng gửi về

phòng xét nghiệm Bệnh Viện Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM tiến hành

xét nghiệm các mầm bệnh PRRSV (chủng Trung Quốc, Bắc Mỹ và Châu Âu),

PCV2, CSFV, MH và APP.

3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu

Dùng trắc nghiệm F để so sánh các số liệu trung bình, trắc nghiệm

các tỷ lệ trên phần mềm minitab 16



31



để so sánh



Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Khảo sát tiểu khí hậu chuồng ni

4.1.1. Nhiệt độ và ẩm độ chuồng ni

Qua q trình khảo sát nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi được ghi nhận và trình

bày ở Bảng 4.1a và Bảng 4.1b.

Bảng 4.1a. Nhiệt độ (0C) trung bình chuồng ni qua bốn tháng theo dõi:

Sáng



Trưa



Chiều



Trung



(0C)



(0C)



(0C)



Bình (0C)



Tháng 3



27,19



33,54



32,57



31,1



Tháng 4



27,53



33,63



32,67



31,28



Tháng 5



27,32



33,51



32,54



31,12



Tháng 6



27,02



33,36



32,13



30,84



Trung bình



27,27



33,51



32,48



31,09



Tháng 3



26,43



33,23



31,56



30,41



Tháng 4



26,83



33,32



31,96



30,7



Tháng 5



26,68



32,78



31,71



30,35



Tháng 6



26,47



32,41



31,24



30,04



Trung bình



26,60



32,94



31,62



30,38



Thời điểm khảo sát



Khu A



Khu B



Nhiệt độ trung bình thấp nhất ở cả 2 khu là vào tháng 6 với Khu A là 30,840C

và khu B là 30,040C. Nhiệt độ cao nhất vào tháng 4 ở khu A là 30,840C và khu B là

30,70C. Sự khác biệt nhiệt độ trung bình theo 3 thời điểm khảo sát (sáng, trưa, chiều)

ở từng khu là rất có ý nghĩa (P <0,01).

Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), nhiệt độ phù hợp cho

heo thịt là 16 – 300C, theo kết quả ghi nhận của chúng tơi thì nhiệt độ trung bình

của cả hai khu A và B khá cao so với nhiệt độ này. Nguyên nhân dẫn đến sự khác

biệt nhiệt độ có thể do tại thời điểm khảo sát sự bắt đầu chuyển mùa (mùa nắng



32



sang mùa mưa). Ngồi ra, khu A có mái che thấp và hệ thống quạt thơng gió ít hoạt

động hơn so với khu B nên cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này.

Nhiệt độ trong ngày có sự dao động rõ rệt vào buổi sáng (6 – 7 giờ) so với

trưa (13 – 14 giờ) từ 6,24 – 6,340C. Thơng thường vào khoảng 6 – 7 giờ thì nhiệt độ

vào khoảng 26 – 270C ở khu B và 27 – 28 0C ở khu A. Nhưng vào khoảng 13 – 14

giờ thì nhiệt độ tăng lên khá cao ở cả 2 khu chuồng, khu A có nhiệt độ (33,510C)

cao hơn so với khu B (32,940C). Ở thời điểm 13 – 14 giờ trong khảo sát, ghi nhận

nhiều heo nằm tụ vào vòi nước, bỏ ăn, thở bụng. Theo Steve Prissen và ctv (2005),

trong thời tiết nắng rất nóng từ 35 0C trở lên, heo thịt rất nhạy cảm với stress nhiệt

nên cần tiến hành các biện pháp làm giảm bớt sự rối loạn nhịp hô hấp và đề phòng

chết đột ngột. Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), cũng cho rằng nhiệt

độ thích hợp nên ở khoảng 24 – 29 0C, khi nhiệt độ cao sẽ làm hóc mơn Thyroxin

được tiết ra rất ít, làm heo biếng ăn, mất mước, máu cô đặc, sự vận chuyển máu

dưới da kém, mất muối, heo thở nhanh, co giật, đau bắp cơ.

Bảng 4.1b. Ẩm độ (%) trung bình chuồng nuôi qua bốn tháng theo dõi :

Trưa



Chiều



(%)



(%)



(%)



Tháng 3



69,55



49,94



52,27



57,25



Tháng 4



69,47



49,61



51,98



57,02



Tháng 5



69,63



49,67



52,03



57,11



Tháng 6



69,81



50,02



52,86



57,56



Trung bình



69,62



49,81



52,29



57,24



Tháng 3



78,53



58,67



66,61



67,94



Tháng 4



78,27



58,53



66,34



67,71



Tháng 5



78,46



58,49



66,54



67,83



Tháng 6



78,62



58,61



66,67



67,97



Trung bình



78,47



58,58



66,54



67,86



Thời điểm khảo sát



Khu A



Khu B



Trung



Sáng



bình

(%)



Ẩm độ trung bình thấp nhất vào tháng 4, ở khu A là 57,02 % và khu B là



33



67,71 %. Nhiệt độ cao nhất ở tháng 6 với ẩm độ khu A là 57,56% và khu B là

67,97%. Sự khác biệt về ẩm độ trung bình được theo dõi vào ba thời điểm (sáng,

trưa, chiều) trong ngày là rất có ý nghĩa (P<0,01) và sự khác biệt giữa 2 khu A và B

cũng rất có ý nghĩa (P <0,01). Do kết cấu chuồng khu B có nhiều hệ thống thốt

nước, nền chuồng có độ nghiêng thấp hơn so với khu A nên sự thốt nước kém.

Ngồi ra, khu B nằm xen kẽ cùng với dãy chuồng heo nái nên sự thơng gió, sự thốt

hơi nước thấp hơn so với khu A, vì vậy có thể đã dẫn đến ẩm độ của khu B cao hơn

khu A. Theo Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), ẩm độ khơng khí nên từ

50 % đến 70 %, tốt nhất là 60 % dành cho heo thịt. Nếu ẩm độ khơng khí cao hơn

90 % sẽ làm gia súc khó chịu, mất cảm giác ngon miệng, giảm khả năng tiêu hóa và

sức đề kháng. Khi ẩm độ dưới 50%, da và niêm mạc sẽ bị khô, nứt và gia súc dễ bị

nhiễm trùng. Gonyou và ctv (1999) cũng cho rằng các tác nhân gây bệnh được kiểm

soát tốt nhất là ở ẩm độ 60 – 80 %. Khơng khí có ẩm độ cao hơn hay thấp hơn mức

này đều có thể tạo điều kiện tồn tại lượng tác nhân gây bệnh cao.

4.1.2. Mật độ chuồng nuôi

Mật độ heo tại trại khảo sát ở giai đoạn từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuống là

0,912 m2 / con ở khu A và 1,15 m2 / con ở khu B. Mật độ thích hợp cho sự phát triển

của heo cho tới xuất chuồng là từ 1 – 1,2 m2 / con (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị

Dân, 1997). Do đó, mật độ trong khảo sát cho thấy trại bố trí heo vào các ô chuồng

của khu A khá dày và thật sự chưa phù hợp cho sự phát triển của heo.

4.2.Kết quả khảo sát các biểu hiện bệnh hô hấp trên heo

4.2.1. Tỷ lệ con ho

Qua quá trình khảo sát tỷ lệ ho trên heo từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng

được ghi nhận và trình bày ở Bảng 4.2.



34



Bảng 4.2.Tỷ lệ con ho trên heo 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng



Đợt



Khu



A



B

Tổng



Số heo

theo dõi



Tỷ lệ con

Số con ho



ho trung

bình (%)



1



110



10



9,09



2



135



15



11,11



1



100



14



14,00



2



135



18



13,33



480



57



11,88



Tỷ lệ con

ho trung



P



bình 2



Ptb

Khu



khu (%)

10,2



> 0,05

< 0,05



13,62



> 0,05



11,88



Qua bảng 4.2 cho thấy ở khu A, tỷ lệ heo ho của đợt 1(9,09 %) thấp hơn đợt 2

(11,11 %). Tuy nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Ở khu

B, tỷ lệ ho của đợt 1(14,00%) cao hơn so với tỷ lệ ho của đợt 2 (13,33 %) và sự khác

biệt này cũng khơng có ý nghĩa với P >0,05.

Tuy nhiên tỷ lệ ho trên heo khảo sát giữa khu A và khu B lại có khác biệt có

ý nghĩa (P<0,05). Sự khác biệt về tỷ lệ ho trên heo giữa 2 khu chuồng nuôi có thể

do heo khảo sát đợt 1 của khu B khi chuyển xuống chuồng ni thịt đã có biểu hiện

hơ hấp ở giai đoạn cai sữa. Mặt khác, khu B thực hiện phương pháp chăn nuôi với

việc rửa chuồng heo 5 lần trong ngày so với 4 lần ở khu A, nền chuồng lúc nào cũng

ẩm ướt, làm cho ẩm độ của khu B luôn cao hơn so với khu A. Ngoài ra, trong thời

gian khảo sát, heo ở khu B có biểu hiện tiêu chảy nặng nên phần nào đã làm sức

khỏe heo suy yếu tạo tiền đề gia tăng biểu hiện trên đường hô hấp.

4.2.2. Tỷ lệ thở bụng

Qua khảo sát tỷ lệ heo thở bụng từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng được ghi

nhận và trình bày trong Bảng 4.3.



35



Bảng 4.3. Tỷ lệ thở bụng trên heo 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng



Khu



A



B



Đợt



Số heo

theo dõi



Số con

thở

bụng



Tỷ lệ con

thở bụng



Tỷ lệ thở bụng trung



trung bình



bình khu (%)



Ptb

Khu



(%)



1



110



4



3,63



2



135



10



7,41



1



100



12



12,00



2



135



14



10,37



480



40



8,33



Tổng



P



5,52



> 0,05

<0,05



11.18



> 0,05



8,33



Qua bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ thở bụng của đợt 1 (3,63 %) thấp hơn đợt 2

(7,41%) ở khu A. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).

Ở khu B, tỷ lệ thở bụng của đợt 1 (12,00 %) cao hơn so với tỷ lệ thở bụng của đợt 2

(10,37%) và sự khác biệt này cũng khơng có ý nghĩa (P >0,05).

Tuy nhiên tỷ lệ thở bụng trên heo khảo sát giữa khu A và khu B có ý nghĩa về

mặt thống kê (P < 0,05) . Sự khác biệt về tỷ lệ thở bụng trên heo giữa 2 khu chuồng

ni có thể do sự chuyển mùa từ mùa nắng qua mùa mưa. Sự chuyển mùa thường

vào tháng 5, thời tiết thay đổi thất thường nên heo bị thở bụng nhiều hơn so với các

tháng khảo sát. Tỷ lệ thở bụng khảo sát rất tương đồng với kết quả tỷ lệ ho ở phần

trên giữa 2 khu. Điều này cũng phù hợp với nhận định của Nguyễn Đức Nho (2007),

heo rất nhạy cảm với stress nhiệt, heo chịu nhiệt độ quá cao quá mức cho phép sẽ

dẫn đến bị stress nhiệt, triệu chứng đầu tiên là thở bụng và nếu nhiệt độ tiếp tục tăng

cao hơn kết hợp với tình trạng đang bị sốt nếu không điều trị kịp thời heo sẽ suy sụp

và có thể chết.

4.2.3. Tỷ lệ con ho kết hợp với thở bụng

Trong một số trường hợp bị bệnh trên đường hơ hấp, heo có biểu hiện ho kết

hợp với thở bụng. Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ ho kết hợp thở bụng giữa hai khu A và

khu B (Bảng 4.4).



36



Bảng 4.4. Tỷ lệ ho kết hợp thở bụng trên heo 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng

Số con

Khu



Đợt



Số heo



ho +



theo dõi



thở

bụng



A



B



Tỷ lệ con ho +



Tỷ lệ con ho + thở



thở bụng trung



bụng trung bình



bình (%)



khu (%)



1



110



4



3,64



2



135



6



4,44



1



100



10



10



2



135



10



7,41



480



27



5,63



Tổng



4,04



P



Ptb

Khu



>

0,05

<0,05



8,75



>

0,05



5,63



Qua bảng 4.4 cho thấy tỷ lệ ho kết hợp thở bụng của đợt 1 (3.64 %) thấp hơn

so với đợt 2 của khu A (4,44 %). Tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa về mặt

thống kê (P > 0,05). Ở khu B, tỷ lệ ho kết hợp thở bụng của đợt 2 khu B (7,41 %)

thấp hơn đợt 1 của khu B (10 %) và sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê

(P > 0,05).

Tuy nhiên, tỷ lệ ho kết hợp thở bụng giữa 2 khu A và B có ý nghĩa thống kê

(P<0,05). Sự khác biệt về tỷ lệ ho kết hợp thở bụng có thể do tiểu khí hậu chuồng

ni của 2 khu chuồng khác nhau. Nhiệt độ, ẩm độ và qui trình chăm sóc của khu B

thật sự chưa phù hợp cho sự phát triển của heo. So với Lương Thị Dung (2010) thì

kết quả này cao hơn nhiều, ghi nhận ở giai đoạn 60 ngày tuổi đến xuất chuồng

(0,38%). Sự khác biệt này là do tiểu khí hậu chuồng ni của trại chúng tơi khơng

phù hợp như tiểu khí hậu tại trại chăn nuôi Tuyết Trung.

4.2.4. Tỷ lệ heo chết

Kết quả khảo sát tỷ lệ chết trên heo từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng cho

thấy những heo chết do bệnh hơ hấp có một số biểu hiện như ho, thở bụng, ho kết

hợp thở bụng, sau đó dẫn đến kiệt sức rồi chết. Bệnh tích quan sát chính trên heo

bệnh được ghi nhận là tràn dịch màng phổi, viêm phổi dính sườn, phổi xuất huyết,

hoại tử, nhục hóa phổi. Tỷ lệ heo chết được trình bày ở Bảng 4.5.

Bảng 4.5. Tỷ lệ heo chết trong khảo sát



37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

10 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×