Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo Anan Lertwilai và ctv, 2010; trích dẫn Lương Thị Dung, 2010), heo mắc bệnh trở lên ốm nhanh, than nhiệt tăng 40 – 41 0C, bỏ ăn, thở nhanh và một số biểu hiện đặc trưng là ho ngắn 2 – 3 cái, tím 4 chân đi lại khó khăn. Hầu hết các khớp đều sưng p...

Theo Anan Lertwilai và ctv, 2010; trích dẫn Lương Thị Dung, 2010), heo mắc bệnh trở lên ốm nhanh, than nhiệt tăng 40 – 41 0C, bỏ ăn, thở nhanh và một số biểu hiện đặc trưng là ho ngắn 2 – 3 cái, tím 4 chân đi lại khó khăn. Hầu hết các khớp đều sưng p...

Tải bản đầy đủ - 0trang

khớp đều sưng phồng, nóng và đau đớn, có thể thấy thủy thủng ở mí mắt, ở lỗ tai và

mặt. Sau từ 2 – 5 ngày, heo bệnh sẽ chết với biểu hiện đỏ đều tím xanh trên da mặt

(Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.4.2.Bệnh tích

Viêm màng phổi nhiều sợi huyết, viêm ngoại tâm mạc, viêm phúc mạc, có

thể gặp viêm phế quản phổi. Các khớp viêm, dịch khớp đục và có những cặn sợi

huyết màu vàng xanh ở xoang khớp. Trường hợp chết dưới dạng mãn tính thường

gặp kết dính sợi huyết, viêm ngoại tâm mạc có sợi huyết, cùng với biểu hiện suy tim,

lớn tim, thủy thủng phổi, lớn gan, lớn lách và xoang bụng chứa nhiều dịch (Trần

Thanh Phong, 1996).

2.2.3.4.3. Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại.

Thường xuyên bổ sung vào thức ăn đầy đủ dưỡng chất cần thiết giúp heo khỏe

mạnh, có sức đề kháng tốt.

2.2.3.5. Bệnh viêm teo xương mũi truyền nhiễm (Atrophic rhinitis)

Là bệnh truyền nhiễm của riêng loài heo, thể hiện bằng chứng viêm mũi kèm

theo teo xoang mũi hoặc cong một bên làm mặt bị méo mó và xáo trộn hơ hấp. bệnh

do nhiều ngun nhân gây ra trong đó vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò quyết định

và những yếu tố mở đường như dinh dưỡng, vệ sinh nuôi dưỡng, di truyền,…Phân

lập vi sinh vật từ heo 1 – 12 tuần tuổi trong ca bệnh viêm xoang mũi ở Pháp cho

thấy:

Vi trùng Pasteurella multocida chiếm 30 – 57 % trường hợp. Vi trùng Bordetella

bronchiseptica chiếm 3 – 15 % trường hợp.Vi trùng Streptococcus pyogenes chiếm

7-13 % trường hợp. Virus viêm xoang mũi Done chiếm 5 – 30 % trường hợp. (Virus

viêm xoang mũi Done thuộc họ Herpesviridae, không phải là căn bệnh gây viêm teo

xương mũi nhưng thường kết hợp với Bordetella hoặc Haemophilus). Bệnh thường

thấy trên heo con từ 1 – 3 tuần tuổi. Heo sau cai sữa và trưởng thành cũng nhiễm

mầm bệnh nhưng thể hiện ở dạng ẩn tính (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006).



20



2.2.3.5.1 Triệu chứng

Ngứa mũi, hắt hơi, chảy nhiều nước mũi, nước mắt. Sau đó nước mũi đặc

dần có mủ, đơi khi ho. Trên heo cai sữa thường gặp ho khan và khó thở hơn heo

trưởng thành.Xương mặt bị teo, méo mó ở những mức độ khác nhau. Hàm dưới nhô

ra do hàm trên ngắn lại, mõm nghiêng về một phía, hàm trên bị hõm sâu xuống, da

nhăn nheo. Những biến chứng thường gặp là viêm xoang mũi, trán, viêm họng,

viêm phổi, viêm màng não (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.5.2 Bệnh tích

Bên trong lỗ mũi có mủ và nhiều tế bào bị hủy hoại, vách sụn giữa mũi bị

hủy hoại hay bị uốn cong, loa mũi mất hoàn toàn hay hủy hoại từng phần, xương

hàm trên cong và ngắn lại, các hạch lâm ba vùng đầu bị sưng, phổi xẹp, viêm phổi

có bọng mủ, viêm màng phổi – phổi (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.5.3 Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng trại, ni dưỡng đủ chất, đặc biệt chú ý: tỷ lệ Ca / P hợp lý,

acid amin nhất là lysine. Heo con mua về phải cách ly theo dõi trong 2 tháng. Nếu

là heo nái nên theo dõi cho đến khi nái đẻ đựơc 2 tháng. Nếu có dịch xảy ra, nên

diệt toàn bộ, tiêu độc bằng NaOH 1 % (Trần Thanh Phong, 1996).

Vaccin phòng bệnh cho heo nái: tiêm lần 1 (6 tuần trước khi đẻ), lần 2 (2 – 3 tuần

trước khi đẻ). Heo con từ heo nái đã tiêm: lần 1 (ở khoảng 3 – 4 tuần), lần 2

(khoảng 6 tuần sau). Heo con từ heo nái không tiêm: lần 1 (ở lúc 1 tuần tuổi), lần 2

(vào khoảng 3 tuần sau) (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.6. Bệnh do Actinobacillus pleuropneumoniae (APP)

Actinobacillus pleuropneumoniae là tác nhân gây bệnh viêm màng phổi

truyền nhiễm trên heo. Bệnh thường xảy ra trên heo 1 – 6 tuần tuổi. Bệnh hiếm thấy

trên heo 3 tháng tuổi.

2.2.3.6.1 Triệu chứng

Thể quá cấp: heo đột ngột bệnh đưa đến sốt trên 400C (Nicolet, 1992), ói

mửa, tiêu chảy, ở mũi và miệng có thể có sùi bọt máu cũng như tăng nhịp tim

(Nielsen, 1985 và Nicolet, 1992; trích dẫn bởi Đỗ Thanh Vũ, 2008, ). Heo chết sau



21



24 – 36 giờ. Đôi khi con vật chết đột ngột mà khơng hề có biểu hiện bệnh nào

(Sebunya và Saunders, 1983; trích dẫn bởi Đặng Thị Thu Hường, 2008). Thể cấp

tính: thân nhiệt tăng, đi lại khó khăn, thờ ơ, ủ rũ, kém ăn, khó thở. Con vật bệnh có

thể chết hoặc hồi phục. Nếu heo có thể vượt qua 4 ngày đầu thì sẽ sống sót. Tuy

nhiên, các con vật này sẽ chuyển thành dạng mãn tính dai dẳng (Nielsen, 1985; trích

dẫn bởi Đặng Thị Thu Hường, 2008). Thể mãn tính: khơng sốt hoặc sốt nhẹ, đơi khi

ho, kém ăn đưa đến giảm trọng lượng. Trong nhiều trường hợp, dấu hiệu duy nhất

khi mổ khám bệnh tích là những tổn thương dính ở phổi. Các bệnh đường hơ hấp

khác hoặc stress có thể là yếu tố mở đường cho bệnh viêm màng phổi (Mecinnes và

Rosendal, 1988; trích dẫn bởi Đặng Thị Thu Hường, 2008).

2.2.3.6.2. Bệnh tích

Các tổn thương chủ yếu ở phần đuôi của các thùy phổi, phần lưng và giữa có

thể có tổn thương (Sebunya và Saunders, 1983; trích dẫn bởi Lương Thị Dung,

2010). Ở thể cấp, phổi có màu hồng sậm đến đỏ mận, có bọt máu ở khí quản, dịch

máu trong xoang ngực, viêm dính sợi huyết giữa phổi với thành ngực, hồnh cách

mơ và màng ngồi tim (Rogers và ctv, 1990; (trích dẫn bởi Đặng Thị Thu Hường,

2008).

Trên heo bệnh mãn tính, những tổn thương ở phổi sẽ biến đổi sau vài tuần và

khó phân biệt với những tổn thương do những bệnh đường hô hấp khác (Fenwick và

Henry, 1994; trích dẫn bởi Lương Thị Dung, 2010). Những tổn thương này rải rác

trên phổi từ đỏ đến vàng với sợi huyết.

2.2.3.6.3. Phòng bệnh

Phát hiện sớm heo bệnh, cách ly điều trị kịp thời, khi một ơ chuồng có bệnh

thì biện pháp phòng nhiễm tốt nhất là điều trị dự phòng cho tất cả heo trong ơ

chuồng. Tiêm vacin phòng bệnh cho heo theo định kì: 6 tháng/lần ở những khu vực

có lưu hành bệnh. Thực hiện vệ sinh chuồng trại: khơ sạch, thống mát mùa hè và

kín ấm mùa đơng. Heo trước khi nhập vào đàn cần nuôi 4 tuần ở chuồng tân đáo và

kiểm tra huyết thanh để loại trừ heo bệnh và mang trùng (Phạm Sỹ Lăng và ctv,

2006).



22



2.2.3.7. Hội chứng rối loạn sinh sản – hô hấp (PRRS).

Nguyên nhân gây bệnh là một virus Arterivirus, ARN có vỏ bọc, kích thước

45 - 55 nm, mọc tốt trong tế bào chất của tế bào biểu mô phế nang heo. Virus tồn

tại lâu trong nhiệt độ lạnh ở - 700C đến – 200C sống hơn một năm. Ở 40C sống được

hơn một tháng, ở 370C sống được 48 giờ, ở 560C sống được 60 – 90 phút. Virus đề

kháng kém với pH axit và chất sát khuẩn, dễ bị hủy diệt bởi tia UV (Trần Thanh

Phong, 1996).

2.2.3.7.1. Triệu chứng

Trên heo nái: kém ăn, sốt khơng ổn định, sẩy thai có thể xảy ra ở nhiều giai

đoạn, có thể cương mạch hay sung huyết ở tai, mũi, đi, trên da có thể có vết xuất

huyết hay bị thâm tím, phổi bị sung huyết và viêm phổi thùy trước có nhiều dịch ở

phổi và quanh tim. Thối hóa các đại thực bào ở phế nang và viêm phổi liên thùy,

có những ổ hoại tử ở trên nhau thai của heo nái bệnh, tỷ lệ chết cao trên heo con

mới sinh, gây ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa và chậm lên giống ở heo nái. Trên

heo nọc: lờ đờ, tái xanh ở lỗ tai, chất lượng tinh giảm. Trên heo con theo mẹ : thủy

thủng ở mí mắt, viêm màng tiếp hợp mắt, da tái xanh, tiêu chảy phân lỏng máu đỏ

nâu hay xám, khó thở, viêm màng não. Gia tăng xáo trộn hô hấp và biến đổi màu da

trên heo cai sữa và heo nuôi thịt (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.7.2. Bệnh tích

Trên da có thể có vết xuất huyết hay bị thâm tím, phổi bị sung huyết và viêm

phổi thùy trước có nhiều dịch ở phổi và quanh tim. Thối hóa các đại thực bào ở

phế nang và viêm phổi liên thùy. Có những ổ hoại tử ở trên nhau của heo nái bệnh

(Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.7.3. Phòng bệnh

Duy trì tình trạng miễn dịch chống virus PRRS trên đàn nái sản: chăm sóc tốt

cho những nái đã bị nghi nhiễm virus PRRS, hạn chế loại thải nái rạ , thực hiện cách

ly phòng chống dịch, tập làm quen với hệ sinh vật của trại đối với heo hậu bị mới

nhập về. Kiểm tra thường xuyên chất lượng tinh, Tăng cường cơng tác vệ sinh

phòng chống dịch, phun thuốc sát trùng thường xuyên, nhiều lần hơn, đồng đều ở



23



tất cả các khu vực, dãy chuồng, bố trí hố sát trùng ở từng khu vực chăn ni, dãy

chuồng ... Giám sát tình trạng nhiễm virus PRRS trong đàn heo: định kỳ lấy máu

kiểm tra kháng thể chống virus PRRS trên đàn nái, nọc, loại thải ngay lập tức nọc

nhiễm virus PRRS để tránh sự bài thải, lây nhiễm virus PRRS trên đàn heo. Phòng

bệnh bằng vaccine.

2.2.3.8. Bệnh cúm heo

Virus gây bệnh thuộc họ Orthomyxoviridae, gây bệnh trên heo gồm hai giống

A và C. Vi - rút hướng phổi, đường kính 100 - 120 nm, ngưng kết hồng cầu (gà,

chuột lang, chó, vịt, người). Virus phát triển tốt trên phôi gà, trên môi trường tế bào

thận gà, thai heo. Khơng bền với các tác nhân lý hóa (bị tiêu diệt ở 560C trong vòng

30 phút), pH tối ưu là 7 – 7,7 (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.1 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2 – 7 ngày. Lúc đầu heo đi khập khiễng về sau nằm lì

một chỗ, sốt cao 40,5 – 41,50C trong 3 - 4 ngày, lười bú, kém ăn, lông dựng đứng,

da tái nhạt. Viêm kết mạc mắt, chảy nhiều nước mắt. Viêm cata đường hô hấp: hắt

hơi, chảy nhiều nước mũi có thể có mủ (nếu kế phát các bệnh khác), ho từng tiếng

hoặc từng hồi. Trường hợp viêm cuống phổi – phổi thì heo thở nhanh, khó thở (Trần

Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.2.Bệnh tích

Tập trung ở phổi như viêm phổi cata hay viêm phổi cata có mủ, viêm cuống

phổi – phổi, viêm phổi – màng phổi. Ở thể mãn tính bệnh gây viêm phổi xẹp có giới

hạn, hạch phổi sưng (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.3.Phòng bệnh

Do bệnh là virus nên dùng vaccin là chủ yếu. Tăng cường vệ sinh chuồng trại,

khô ráo vào mùa mưa, ấp áp vào mùa lạnh.

2.2.3.9. Bệnh gây ra do Circovirus (Hội chứng ốm còi trên heo sau sữa: PMWS)

Virus gây bệnh thuộc họ Circoviridae, giống Circovirus. PCV là virus ADN

một sợi, dạng vòng, kích thước rất nhỏ. Họ Circoviridae gồm virus gây bệnh thiếu

máu trên gà (CAV – Chicken anemia virus), vi - rút gây bệnh về lông và mỏ trên vịt



24



(PBFDV – Psittacine beak and feather disease virus) và vi - rút gây bệnh trên heo

(PCV – Porcine circovirus). PCV gồm 2 serotype là PCV1 và PCV2. PCV type 1

(PCV1) được phân lập năm 1974, có thể nhiễm trên mơi trường tế bào thận heo PK

– 15 nhưng heo nhiễm không thể hiện bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào của bệnh.

Trong khi đó, PCV type 2 (PCV2) được phân lập năm 1997 và được xác định có

liên quan đến hội chứng PMWS trên heo (Allan và Ellis, 2000; trích dẫn bởi Shanti

Satibai Gopani, 2008). Bệnh thường tác động trên heo 3 tuần tuổi và trở nên rõ ràng

hơn từ 4 – 6 tuần tuổi trở đi. PCV2 có thể tồn tại trên heo bệnh từ 5 – 6 tháng. Tỷ lệ

heo mắc bệnh trong đàn biến thiên từ 5 % - 50 % và tỷ lệ chết từ 5 % - 80 % (Shanti

Satibai Gopani, 2008; trích dẫn Đỗ Thanh Vũ, 2008).

2.2.3.9.1. Triệu chứng

Heo đang phát triển bình thường sau đó gầy ốm một cách nhanh chóng

(thường xuất hiện trên heo sau cai sữa 1 – 2 tuần), khác với những heo còi do thiếu

dinh dưỡng. Nhiều heo có biểu hiện sốt cao (400C – 420C). Chúng trở nên mệt mỏi

và có khuynh hướng tìm đến những nơi mát trong chuồng như gần nơi uống nước

hay dọc theo bờ tường. Heo xanh xao gầy ốm một cách đột ngột và xuất hiện những

con còi cọc ốm nhất đàn. Một số heo có biểu hiện ho nhẹ, biếng ăn, khó thở, hoàng

đản và tiêu chảy nhẹ. Các triệu chứng thần kinh, da vùng tai tím bầm cũng được ghi

nhận. Những biểu hiện này thường liên quan với bệnh phụ nhiễm (Shanti Satibai

Gopani, 2008).

2.2.3.9.2. Bệnh tích

Xác thú gầy ốm, da xanh xao, hoàng đản. Hạch bạch huyết sưng lớn, vùng

hạch bẹn quan sát rõ nhất do kích thước sưng lớn gấp 2 - 3 lần kích thước hạch bình

thường.Người ta cũng có thể quan sát thấy các bệnh tích như viêm phổi kẽ, viêm

gan, thận sưng lớn đồng thời phù thủng. Lách sưng lớn nhưng không sung huyết.

Ruột viêm, thành ruột mỏng phù thủng tại màng treo ruột và manh tràng. Dạ dày

loét, vách sưng phù (Shanti Satibai Gopani, 2008; trích dẫn Đỗ Thanh Vũ, 2008).

2.2.3.9.3. Phòng bệnh

Việc ngăn chặn bệnh do virus PCV2 thơng qua biện pháp an tồn sinh học là



25



rất cần thiết, bao gồm thực hiện công tác vệ sinh nghiêm ngặt và phân chia heo theo

từng nhóm tuổi riêng biệt, nhằm giảm thiểu stress và đảm bảo dinh dưỡng cho heo.

Hạn chế việc tiếp xúc giữa heo và heo, đồng thời hạn chế tối đa việc ghép

giữa các đàn heo. Nếu hệ thống miễn dịch bị kích thích thái q, PCV2 có thể gây

bệnh. Nên duy trì những đàn heo từ cai sữa đến xuất chuồng theo nguyên tắc “cùng

vào, cùng ra”. Điều kiện chuồng nuôi phải phù hợp nhằm tránh stress cho heo. Đảm

bảo chế độ ăn uống cho phù hợp với từng độ tuổi. Thú y viên của trại phải điều trị

kịp thời các bệnh mới xuất hiện. Các heo thương tật, các heo chết, heo bệnh cần

được phát hiện kịp thời và cách ly. Heo con phải được bú sữa đầy đủ và cần nhớ

không ghép con giữa các nái mẹ sau khi sinh 24 giờ. Thực hiện tiêm phòng các

bệnh do PRRSV, Parvovirus, bệnh viêm phổi địa phương và các bệnh khác.

Dùng vắc xin phòng bệnh heo nái/nái tơ: lần tiêm thứ 2 cách lần tiêm thứ 1 từ 3 – 4

tuần, ít nhất 2 tuần trước khi heo được phối giống hay heo đẻ. Tái chủng: tiêm một

lần lúc heo đang mang thai, ít nhất là 2 – 4 tuần trước khi đẻ.

2.10 Lược duyệt một số cơng trình nghiên cứu

Theo Đỗ Thanh Vũ, kết quả “ Khảo sát biểu hiện bệnh đường hô hấp và hiệu

quả điều trị bệnh đường hô hấp trên heo sơ sinh đến 100 ngày tuổi tại một trại chăn

nuôi công nghiệp” như sau: Tỷ lệ ho trung bình ở giai đoạn 3 (60 – 100 ngày tuổi)

là 61,11 %, tỷ lệ thở bụng trung bình là 23,27 %, tỷ lệ ho kết hợp thở bụng trung

bình giai đoạn này là 12,85 % và tỷ lệ chết là 28,66 %.

Đề tài “ Khảo sát các triệu chứng đường hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh này

trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi tại một trại heo công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai”

của Nguyễn Minh Tuấn (2009), ghi nhận được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp ở giai đoạn

54 – 94 ngày tuổi là 32,40 %.

Năm 2010, Lương Thị Dung tiến hành đề tài “ Khảo sát các biểu hiện hô hấp

và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên heo giai đoạn cai sữa đến xuất

chuồng”. Kết quả ghi nhận được tỷ lệ ho trung bình giai đoạn chuyển ni thịt đến

xuất chuồng là 10,15 %, thở bụng trung bình là 1,35 %, tỷ lệ ho – thở bụng trung

bình ở giai đoạn này là 0,38 %.



26



Qua tham khảo một số đề tài nghiên cứu có thể thấy rằng, bệnh hơ hấp luôn

là vấn đế quan tâm lớn của các nhà chăn ni heo và những người làm cơng tác thú

y vì bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ cao (> 30 %) trong các bệnh thường gặp. Chính vì vậy,

nghiên cứu này tiếp tục khảo sát bệnh hô hấp và định một số mầm bệnh thông qua

kết quả mổ khám tại Trại heo cơng nghiệp ở quận 9 để tìm hiểu hiện trạng bệnh hơ

hấp từ đó khuyến cáo nhà chăn ni một vài liệu pháp phòng và trị bệnh tốt hơn.



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo Anan Lertwilai và ctv, 2010; trích dẫn Lương Thị Dung, 2010), heo mắc bệnh trở lên ốm nhanh, than nhiệt tăng 40 – 41 0C, bỏ ăn, thở nhanh và một số biểu hiện đặc trưng là ho ngắn 2 – 3 cái, tím 4 chân đi lại khó khăn. Hầu hết các khớp đều sưng p...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×