Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.5 Mối tương quan giữa ẩm độ và không khí chuồng nuôi

Bảng 2.5 Mối tương quan giữa ẩm độ và không khí chuồng nuôi

Tải bản đầy đủ - 0trang

sức đề kháng của heo giảm nếu tình trạng kéo dài dẫn đến viêm phổi và các bệnh

trên đường hô hấp. Ở mức 100 ppm có thể gây hắt hơi, chảy nước bọt, ăn không

ngon. Nồng độ NH3 cao hơn 300 ppm sẽ gây ra ngứa mũi, miệng, heo tiếp xúc lâu

ngày sẽ có hiện tượng thở gấp, thở khơng đều, co giật. Khi heo tiếp xúc liên tục với

H2S ở nồng độ 20 ppm sẽ sợ ánh sáng, ăn khơng ngon, có biểu hiện thần kinh khơng

bình thường. Ở nồng độ 200 ppm heo có thể sinh chứng thủy thủng ở phổi nên thở

khó, trở nên bất tình và chết (trích dẫn bởi Trần Thị Kim Chi, 1999).

Trong chuồng ni còn có sự hiện diện của các loại bụi mà cũng gây ảnh

hưởng tới bệnh đường hô hấp. Theo Ross và ctv 2006; trích dẫn bởi Lương Thị

Dung, 2010), những hạt bụi lớn có kích thước lớn 10 – 15 µm sẽ tác động đường hơ

hấp trên, những hạt bụi có kích thước nhỏ từ 1 – 3 µm thì tác động đường hơ hấp

dưới.

2.2.2. Đặc điểm và chức năng của đường hô hấp trên heo

2.2.2.1. Cấu tạo hệ thống hô hấp

Hệ hô hấp bao gồm hệ thống ống dẫn khí và hai lá phổi. Hệ thống ống dẫn

khí do đường dẫn khí phân nhánh tạo thành và dẫn khơng khí tới biểu mơ phế nang

để trao đổi khí. Đường dẫn khí ở heo bao gồm xoang hốc mũi, xoang miệng, vùng

hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và tiểu phế quản. Khí quản khi đi vào lồng

ngực thì chia thành hai phế quản gốc, mỗi phế quản gốc đi vào một lá phổi. Phế

quản gốc chia ống hẹp hơn gọi là tiểu phế quản. Tiếp theo tiểu phế quản là tiểu phế

nang tận cùng. Phế nang là phần chấm dứt của tiểu phế tận cùng. Ngoại trừ xoang

miệng và vùng hầu, phía trong lòng ống dẫn khí là hệ thống tế bào có lơng rung tiết

chất nhày. Tác dụng của tế bào có lơng rung là bẩy bắt và loại bỏ các vi sinh vật và

vật lạ xâm nhập theo đường hô hấp (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006).

Hai lá phổi nằm trong lồng ngực, mỗi lá phổi được chia thành các thùy: thùy

đỉnh, thùy giữa và thùy hồnh cách mơ, riêng lá phổi phải có thêm thùy phụ nằm ở

mặt bụng của thùy cách mô (Frandson và ctv, 2003).

2.2.2.2. Hoạt động của hệ thống hô hấp

Hệ hơ hấp rất cần cho sự trao đổi khí O2 và CO2 trong cơ thể. Nếu nghẹt thở



13



6 – 8 phút thì gia súc sẽ chết. Hơ hấp là sự trao đổi khí liên tục giữa cơ thể và mơi

trường xung quanh. Q trình này gồm tiếp, vận chuyển và thải các thể khí trong đó

quan trọng nhất là O2 và CO2. O2 cần cho quá trình đốt cháy các chất trong tế bào,

còn CO2 là sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất (Nguyễn Văn Phát, 2006).

Phổi đảm nhận chức năng trao đổi khí nhưng con vật thở được là do sự vận

động cơ học của lồng ngực làm biến đổi áp lực của âm lồng ngực kéo theo sự vận

động của phổi, như vậy yếu tố chủ động trong hoạt động hô hấp là hoạt động co

giãn của các cơ hơ hấp, còn gọi là yếu tố bị động.

Sự hô hấp của phổi được chia làm 2 kì : kì hít vào được thực hiện do sự co

chủ động của các cơ hít vào thơng thường như cơ hồnh, cơ liên sườn làm tăng thể

tích lồng ngực. Lúc này áp suất trong lồng ngực tăng lên làm cho phổi nở căng ra

dẫn đến áp suất trong phổi thấp hơn áp suất khơng khí bên ngồi. Do vậy, khơng khí

bên ngồi sẽ tràn vào phổi để cân bằng áp lực và tác động hít vào được thực hiện

giúp đưa O2 vào phổi. Cuối kì này là kì thở ra, khi các cơ hít vào thơng thường giãn

ra, cơ hồnh biến từ góc nhọn thành góc tù, cơ gian sườn giãn làm cho phần đầu

xương sườn khớp với xương ức hạ xuống. Đồng thời do tính đàn hồi của phổi, lực

ép của các cơ quan nội tạng ở xoang bụng, lực ép của thành lồng ngực làm cho cơ

hoành và lồng ngực trở về vị trí cũ, thể tích lồng ngực nhỏ lại. Kết quả làm cho áp

lực âm trong lồng ngực giảm xuống ép vào phổi làm cho phổi co lại, áp lực trong

phổi cao hơn áp lực khơng khí bên ngồi. Khơng khí từ phổi tràn ra ngoài thực hiện

động tác thở ra giúp đẩy CO2 từ phổi ra ngoài (Nguyễn Văn Phát, 2006).

2.2.2.3. Cơ chế sinh bệnh hô hấp

Các nguyên nhân nguyên phát như PRRSV, PCV2, MH làm suy thối hệ

thống phòng vệ hơ hấp, tạo điều kiện cho nhiễm trùng thứ phát như Pasteurella

multocida type 2, Actinobacillus pleuropneumoniae, Streptococcus spp gây viêm

phổi thứ cấp.



14



Bordetella

bronchiseptica

Pasteurella

multocida Type D



Mycoplasma

hyopneumoniae



Niêm mạc mũi



Lông rung

PRRSV

PCV2



Đại thực bào



Vi khuẩn khác:

Actinobacillus

pleuropneumoniae

Haemophilus

parasuis



Phổi



Viêm phổi phức hợp (PRDC)

Sơ đồ 2.2. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh hơ hấp

(Nguyễn Như Pho, 2011)

2.2.3. Một số bệnh có vai trò trong hội chứng hơ hấp phức hợp trên heo

2.2.3.1. Sơ lược về bệnh phức hợp hô hấp trên heo (PRDC)

Hô hấp phức hợp đang là vấn đề rối loạn hô hấp phổ biến nhất trong đàn heo

công nghiệp hiện nay, là sự nhiễm phức hợp giữa vi - rút và vi khuẩn trên heo có tỷ

lệ nhiễm và tử số cao. Bệnh tiên phát do PRRSV, MH, PCV2. Thứ phát có thể do vi

khuẩn Bordetella bronchiseptica, Pasteurella multocida, Haemophilus pneumoniae,

Actinobacillus pleuropneumoniae, Streptococcus suis, Sallmonella cholerasuis.

Những căn nguyên này làm cho phổi heo bị viêm ở nhiều dạng bệnh tích như: viêm

phổi kẽ, viêm thùy phổi, viêm màng phổi, thủy thủng, viêm phổi dính sườn, viêm

phế quản phổi. Ngồi ra mơi trường và chăm sóc quản lý cũng là yếu tố quan trọng

góp phần làm tăng tỷ lệ nhiễm và mức độ bệnh. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên nhân

thông thường nhất là MH, PRRSV, PCV2, APP, Pasteurella multocida (Dee, 1997,

Thacker và Thanawong weef, 1999; trích dẫn bởi Đỗ Thanh Vũ, 2008). Ngồi ra

mơi trường và chăm sóc quản lý cũng là yếu tố quan trọng góp phần làm tăng tỷ lệ



15



nhiễm và mức độ bệnh.

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của heo, thường tìm thấy trên heo cai sữa và heo

choai, có cách sinh bệnh rất phức tạp vì vậy rất khó kiểm sốt. Bệnh ở cả 2 thể cấp

tính và mãn tính (Eileen Thacker và Roongroje Thanawongnuwech trích dẫn bởi Đỗ

Thanh Vũ, 2008 ). Giai đoạn đầu của bệnh thường là ở thể cấp tính đồng loạt, sau

đó đến giai đoạn viêm phổi kéo dài, bệnh tích ở phổi nặng nề hơn (thể mãn). Đầu

tiên Mycoplasma hyopneumoniae tấn công gây tổn thương lông rung, niêm mạc khí

quản và suy giảm miễn dịch. Ngồi ra PRRSV làm rối loạn và suy giảm đến khả

năng hô hấp và PCV2 tấn công vào hệ thống đại thực bào của heo tạo điều kiện cho

các vi khuẩn phụ nhiễm tấn công (Sơ đồ 2.2). Bordetella bronchiseptica và

Pasteurella multocida type D gây viêm teo xương mũi truyền nhiễm. Haemophilus

pneumoniae gây viêm đa xoang, đa khớp có sợi fibrin. Actinobacillus

pleuropneumonia gây viêm phổi đốm, phổi bị tụ huyết, dính sườn. Streptococcus

suis gây viêm đa xoang, đa khớp, viêm phổi mủ.

2.2.3.1.1 Triệu chứng

Heo sốt cao, suy yếu, bỏ ăn, ốm nhanh, ho, khó thở, há miệng để thở, thở

ngồi, thở bụng. Hô hấp có thể kết hợp với tiêu chảy, viêm khớp (Borchev, 2002).

2.2.3.1.2. Bệnh tích

Viêm phế quản phổi, viêm màng phổi, viêm phổi kẽ, viêm phổi dính sườn,

viêm hạch phổi, xuất huyết đốm trên phổi, tràn dịch màng phổi và xoang bụng.

Xoang bao tim tích nước, thận xuất huyết giữa vùng vỏ và vùng tủy, lách hoại tử,

viêm khớp (Borchev, 2002). Hoại tử biểu mô tiểu phế quản, viêm phế quản, tiểu phế

quản hay tiểu phế quản hô hấp, phế nang đông đặc do tích tụ nhiều bạch cầu trung

tính, bạch cầu đơn nhân ở phế nang, biến đổi hình thái, kích thước tiểu phế quản.

Phù thũng/viêm mô kẽ, vách liên kết tiểu thùy gan tăng sinh. Xuất huyết ở lách,

xuất huyết ở các tiểu thùy gan, hạch. Mô lympho ở hạch phân tán (Perry và Patrick,

2002).

2.2.3.1.3. Phòng bệnh

Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học. Tăng cường vệ sinh chuồng trại,



16



khô ráo vào mùa mưa, ấp áp vào mùa lạnh. Hạn chế tắm heo, chỉ tắm trong trường

hợp trời nắng nóng. Khơng ni nhốt với mật độ cao. Khơng ni heo ở các lứa

tuổi khác nhau trong cùng một ô chuồng. Áp dụng biện pháp cùng vào cùng ra. Với

heo nái sinh sản định kì kiểm tra huyết thanh học để phát hiện bệnh. Riêng với heo

nọc giống phải thường xuyên kiểm tra chỉ tiêu đánh giá chất lượng tinh dịch và làm

phản ứng huyết thanh học. Phòng bệnh chủ động bằng vắc – xin.

2.2.3.2. Bệnh viêm phổi địa phương

Là bệnh truyền nhiễm do Mycoplasma thường xảy ra ở thể mãn tính, lưu

hành ở một địa phương, với đặc điểm gây viêm phế quản, phổi tiến triển chậm. Tỷ

lệ mắc bệnh khá cao, tuy nhiên tỷ lệ chết thường thấp nếu không ghép với các bệnh

khác. Bệnh phát hiện vào năm 1933 ở Đức, sau đó xuất hiện lần lượt ở các quốc gia

Châu Âu, Châu Úc (1964), Châu Á, Châu Phi,… Ở nước ta, bệnh phát hiện vào

năm 1959 ở miền Bắc. Hiện nay bệnh thường gặp ở các trại chăn nuôi cả nước

(Trần Thanh Phong, 1996).

Mycoplasma hyopneumonia gây bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm

trên heo ở mọi lứa tuổi nhưng tuổi cảm thụ mạnh nhất là khoảng 2 tháng tuổi. Bệnh

làm tăng chỉ số tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng 12 – 15 %. Do đó thời gian nuôi

thịt sẽ kéo dài, tử số tăng, tốn kém kháng sinh điều trị và thuốc sát trùng (Pointons

và ctv, 1985; Muirhead, 1989; trích dẫn bởi Quách Tuyết Anh, 2003).

2.2.3.2.1 Triệu chứng

Bệnh do Mycoplasma là một bệnh mãn tính có bệnh số cao và tử số thấp.

Thời gian ủ bệnh khoảng 2 tuần. Bệnh được ghi nhận vào lúc 2 tuần tuổi (Holmgren,

1974) nhưng lan truyền rất chậm nên nhiều heo khơng có triệu chứng cho đến khi 3

– 6 tuần tuổi.

Heo nhiễm Mycoplasma có triệu chứng chính là ho kinh niên và chậm lớn.

Khi bệnh bắt đầu thì heo ho kéo dài và liên tục vài tuần cho đến cả tháng, mặc dù

vài heo không ho hoặc ho chút ít. Cường độ ho lớn nhất được nhận thấy trên heo vỗ

béo. Triệu chứng ho thường xuất hiện cùng lúc với sự biến đổi của huyết thanh

(Leon và ctv, 2000). Phổ biến là ho trong lúc di chuyển trừ khi bệnh tích lan rộng



17



trên phổi, đặc biệt là các trường hợp nhiễm vi khuẩn kế phát. Thú có thể chết do

nhiễm các vi khuẩn kế phát và stress xảy ra lúc heo 4 - 6 tháng (Ross, 1992), (trích

dẫn bởi Đặng Thị Thu Hường, 2008).

2.2.3.2.2. Bệnh tích

Bệnh tích trên phổi đặc trưng là viêm phổi nhục hóa và thường có tính đối

xứng giữa các thùy hai bên phổi (Kwon và ctv trích dẫn bởi Đỗ Thanh Vũ, 2008)

mơ tả bệnh tích đại thể trên heo bệnh viêm phổi địa phương gồm những vùng rắn

chắc màu đỏ sậm đến tím. Bệnh tích thường xuất hiện ở phần bụng của thùy giữa và

thùy đỉnh, thùy phụ và thùy đỉnh của thùy hồnh cách mơ. Các vùng tổn thương có

ranh giới rất rõ với các vùng khác (Robert trích dẫn bởi Đỗ Thanh Vũ, 2008). Trên

những heo khác nhau mức độ và phạm vi tổn thương ở phổi cũng khác nhau. Dịch

nhày trắng được tìm thấy ở khí quản, phế quản và tiểu phế quản. Hạch lympho

quanh phế quản, tiểu phế quản và quanh mạch máu triển dưỡng.

2.2.3.2.3 Phòng bệnh

Chuồng trại thơng thoáng, sạch sẽ. Sát trùng chuồng, máng ăn, máng uống

thật kỷ lưỡng. Hạn chế tắm heo, chỉ tắm trong trường hợp trời nắng nóng. Khơng

ni nhốt với mật độ cao. Không nuôi heo ở các lứa tuổi khác nhau trong cùng một

ô chuồng. Áp dụng biện pháp cùng vào cùng ra.

2.2.3.3. Bệnh tụ huyết trùng heo (Pasteurellosis)

Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Pasteurella multocida, thường được tìm

thấy trong những bệnh đường hô hấp trên heo và chúng bao gồm những chủng có

khả năng sản xuất độc tố và khơng sản xuất độc tố.

Ở Việt Nam bệnh thường xảy ra vào lúc giao mùa (tháng 4 – 5, tháng 10 – 11)

và thường ghép với bệnh dịch tả heo, dịch viêm phổi địa phương, phó thương

hàn…(Trần Thanh Phong, 1996)

2.2.3.3.1. Triệu chứng

Thể quá cấp tính: bệnh diễn biến rất nhanh 12 – 24 giờ, vật sốt 410C, nằm

yên một chỗ, bỏ ăn, thở khó, có thể thủy thủng ở hầu.

Thể cấp tính: vật có thể chết sau vài ngày, sốt cao 40,5 – 410C, chảy nhiều



18



nước mũi, lúc đầu loãng sau đặc dần, có thể có mủ hoặc đơi khi có máu, hầu sưng,

da có thể thấy xuất huyết hoặc tụ huyết sưng to đỏ sậm ở vùng bụng, ngực, con vật

lúc đầu bón, sau đó có thể tiêu chảy.

Thể mãn tính: bệnh kéo dài từ 3 – 6 tuần. Vật gầy còm, khó thở, ho nhiều có

thể tiêu chảy liên miên, có khi thấy viêm khớp, da bong vảy, đi đứng khơng vững

(trích dẫn bởi Trần Quang Lý, 2005).

2.2.3.3.2. Bệnh tích

Thể q cấp: thường khơng điển hình. Thấy tụ huyết, xuất huyết và thấm

dịch ở mô liên kết. Đôi khi có thể thấy tim xuất huyết điểm.

Thể cấp tính: viêm phổi thùy lớn, phổi bị gan hóa, viêm bao tim tích nước, có

khi xuất huyết điểm ở tim. Hạch sưng to thủy thủng, đơi khi có thể gặp thận tụ máu,

dạ dày ruột viêm cata, lách bình thường hoặc bị tụ máu.

Thể mãn tính: viêm phổi, màng phổi, viêm màng phổi dính lồng ngực. Hạch

phổi có hoại tử bã đậu, có thể viêm khớp, có bọc mủ trong tủy sống (trích dẫn bởi

Trần Quang Lý, 2005).

2.2.3.3.3. Phòng bệnh

Chuồng trại thơng thoáng, sạch sẽ, sát trùng chuồng, máng ăn, máng uống,

hạn chế tắm heo, không nuôi nhốt ở mật độ cao và không nuôi nhiều lức tuổi heo

cùng nhau.

2.2.3.4. Bệnh do Haemophilus parasuis (bệnh Glasser)

Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Haemophilus parasuis. Bệnh xảy ra với

đặc điểm là viêm đa khớp, viêm tràn dịch, viêm màng não, có thể dẫn đến chết. Căn

bệnh được Glasser quan sát vào năm 1910, trên những heo viêm đa khớp – viêm

thanh dịch. Năm 1943, Hiarre và Wramby nghiên cứu kỹ về căn bệnh và đặt tên

Hemophilus suis.

2.2.3.4.1. Triệu chứng

Theo Anan Lertwilai và ctv, 2010; trích dẫn Lương Thị Dung, 2010), heo

mắc bệnh trở lên ốm nhanh, than nhiệt tăng 40 – 41 0C, bỏ ăn, thở nhanh và một số

biểu hiện đặc trưng là ho ngắn 2 – 3 cái, tím 4 chân đi lại khó khăn. Hầu hết các



19



khớp đều sưng phồng, nóng và đau đớn, có thể thấy thủy thủng ở mí mắt, ở lỗ tai và

mặt. Sau từ 2 – 5 ngày, heo bệnh sẽ chết với biểu hiện đỏ đều tím xanh trên da mặt

(Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.4.2.Bệnh tích

Viêm màng phổi nhiều sợi huyết, viêm ngoại tâm mạc, viêm phúc mạc, có

thể gặp viêm phế quản phổi. Các khớp viêm, dịch khớp đục và có những cặn sợi

huyết màu vàng xanh ở xoang khớp. Trường hợp chết dưới dạng mãn tính thường

gặp kết dính sợi huyết, viêm ngoại tâm mạc có sợi huyết, cùng với biểu hiện suy tim,

lớn tim, thủy thủng phổi, lớn gan, lớn lách và xoang bụng chứa nhiều dịch (Trần

Thanh Phong, 1996).

2.2.3.4.3. Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại.

Thường xuyên bổ sung vào thức ăn đầy đủ dưỡng chất cần thiết giúp heo khỏe

mạnh, có sức đề kháng tốt.

2.2.3.5. Bệnh viêm teo xương mũi truyền nhiễm (Atrophic rhinitis)

Là bệnh truyền nhiễm của riêng loài heo, thể hiện bằng chứng viêm mũi kèm

theo teo xoang mũi hoặc cong một bên làm mặt bị méo mó và xáo trộn hơ hấp. bệnh

do nhiều ngun nhân gây ra trong đó vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò quyết định

và những yếu tố mở đường như dinh dưỡng, vệ sinh nuôi dưỡng, di truyền,…Phân

lập vi sinh vật từ heo 1 – 12 tuần tuổi trong ca bệnh viêm xoang mũi ở Pháp cho

thấy:

Vi trùng Pasteurella multocida chiếm 30 – 57 % trường hợp. Vi trùng Bordetella

bronchiseptica chiếm 3 – 15 % trường hợp.Vi trùng Streptococcus pyogenes chiếm

7-13 % trường hợp. Virus viêm xoang mũi Done chiếm 5 – 30 % trường hợp. (Virus

viêm xoang mũi Done thuộc họ Herpesviridae, không phải là căn bệnh gây viêm teo

xương mũi nhưng thường kết hợp với Bordetella hoặc Haemophilus). Bệnh thường

thấy trên heo con từ 1 – 3 tuần tuổi. Heo sau cai sữa và trưởng thành cũng nhiễm

mầm bệnh nhưng thể hiện ở dạng ẩn tính (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2006).



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.5 Mối tương quan giữa ẩm độ và không khí chuồng nuôi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×