Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Duy trì tình trạng miễn dịch chống virus PRRS trên đàn nái sản: chăm sóc tốt cho những nái đã bị nghi nhiễm virus PRRS, hạn chế loại thải nái rạ , thực hiện cách ly phòng chống dịch, tập làm quen với hệ sinh vật của trại đối với heo hậu bị mới nhập v...

Duy trì tình trạng miễn dịch chống virus PRRS trên đàn nái sản: chăm sóc tốt cho những nái đã bị nghi nhiễm virus PRRS, hạn chế loại thải nái rạ , thực hiện cách ly phòng chống dịch, tập làm quen với hệ sinh vật của trại đối với heo hậu bị mới nhập v...

Tải bản đầy đủ - 0trang

tất cả các khu vực, dãy chuồng, bố trí hố sát trùng ở từng khu vực chăn nuôi, dãy

chuồng ... Giám sát tình trạng nhiễm virus PRRS trong đàn heo: định kỳ lấy máu

kiểm tra kháng thể chống virus PRRS trên đàn nái, nọc, loại thải ngay lập tức nọc

nhiễm virus PRRS để tránh sự bài thải, lây nhiễm virus PRRS trên đàn heo. Phòng

bệnh bằng vaccine.

2.2.3.8. Bệnh cúm heo

Virus gây bệnh thuộc họ Orthomyxoviridae, gây bệnh trên heo gồm hai giống

A và C. Vi - rút hướng phổi, đường kính 100 - 120 nm, ngưng kết hồng cầu (gà,

chuột lang, chó, vịt, người). Virus phát triển tốt trên phơi gà, trên môi trường tế bào

thận gà, thai heo. Không bền với các tác nhân lý hóa (bị tiêu diệt ở 560C trong vòng

30 phút), pH tối ưu là 7 – 7,7 (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.1 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2 – 7 ngày. Lúc đầu heo đi khập khiễng về sau nằm lì

một chỗ, sốt cao 40,5 – 41,50C trong 3 - 4 ngày, lười bú, kém ăn, lông dựng đứng,

da tái nhạt. Viêm kết mạc mắt, chảy nhiều nước mắt. Viêm cata đường hô hấp: hắt

hơi, chảy nhiều nước mũi có thể có mủ (nếu kế phát các bệnh khác), ho từng tiếng

hoặc từng hồi. Trường hợp viêm cuống phổi – phổi thì heo thở nhanh, khó thở (Trần

Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.2.Bệnh tích

Tập trung ở phổi như viêm phổi cata hay viêm phổi cata có mủ, viêm cuống

phổi – phổi, viêm phổi – màng phổi. Ở thể mãn tính bệnh gây viêm phổi xẹp có giới

hạn, hạch phổi sưng (Trần Thanh Phong, 1996).

2.2.3.8.3.Phòng bệnh

Do bệnh là virus nên dùng vaccin là chủ yếu. Tăng cường vệ sinh chuồng trại,

khô ráo vào mùa mưa, ấp áp vào mùa lạnh.

2.2.3.9. Bệnh gây ra do Circovirus (Hội chứng ốm còi trên heo sau sữa: PMWS)

Virus gây bệnh thuộc họ Circoviridae, giống Circovirus. PCV là virus ADN

một sợi, dạng vòng, kích thước rất nhỏ. Họ Circoviridae gồm virus gây bệnh thiếu

máu trên gà (CAV – Chicken anemia virus), vi - rút gây bệnh về lông và mỏ trên vịt



24



(PBFDV – Psittacine beak and feather disease virus) và vi - rút gây bệnh trên heo

(PCV – Porcine circovirus). PCV gồm 2 serotype là PCV1 và PCV2. PCV type 1

(PCV1) được phân lập năm 1974, có thể nhiễm trên mơi trường tế bào thận heo PK

– 15 nhưng heo nhiễm không thể hiện bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào của bệnh.

Trong khi đó, PCV type 2 (PCV2) được phân lập năm 1997 và được xác định có

liên quan đến hội chứng PMWS trên heo (Allan và Ellis, 2000; trích dẫn bởi Shanti

Satibai Gopani, 2008). Bệnh thường tác động trên heo 3 tuần tuổi và trở nên rõ ràng

hơn từ 4 – 6 tuần tuổi trở đi. PCV2 có thể tồn tại trên heo bệnh từ 5 – 6 tháng. Tỷ lệ

heo mắc bệnh trong đàn biến thiên từ 5 % - 50 % và tỷ lệ chết từ 5 % - 80 % (Shanti

Satibai Gopani, 2008; trích dẫn Đỗ Thanh Vũ, 2008).

2.2.3.9.1. Triệu chứng

Heo đang phát triển bình thường sau đó gầy ốm một cách nhanh chóng

(thường xuất hiện trên heo sau cai sữa 1 – 2 tuần), khác với những heo còi do thiếu

dinh dưỡng. Nhiều heo có biểu hiện sốt cao (400C – 420C). Chúng trở nên mệt mỏi

và có khuynh hướng tìm đến những nơi mát trong chuồng như gần nơi uống nước

hay dọc theo bờ tường. Heo xanh xao gầy ốm một cách đột ngột và xuất hiện những

con còi cọc ốm nhất đàn. Một số heo có biểu hiện ho nhẹ, biếng ăn, khó thở, hồng

đản và tiêu chảy nhẹ. Các triệu chứng thần kinh, da vùng tai tím bầm cũng được ghi

nhận. Những biểu hiện này thường liên quan với bệnh phụ nhiễm (Shanti Satibai

Gopani, 2008).

2.2.3.9.2. Bệnh tích

Xác thú gầy ốm, da xanh xao, hồng đản. Hạch bạch huyết sưng lớn, vùng

hạch bẹn quan sát rõ nhất do kích thước sưng lớn gấp 2 - 3 lần kích thước hạch bình

thường.Người ta cũng có thể quan sát thấy các bệnh tích như viêm phổi kẽ, viêm

gan, thận sưng lớn đồng thời phù thủng. Lách sưng lớn nhưng không sung huyết.

Ruột viêm, thành ruột mỏng phù thủng tại màng treo ruột và manh tràng. Dạ dày

loét, vách sưng phù (Shanti Satibai Gopani, 2008; trích dẫn Đỗ Thanh Vũ, 2008).

2.2.3.9.3. Phòng bệnh

Việc ngăn chặn bệnh do virus PCV2 thơng qua biện pháp an tồn sinh học là



25



rất cần thiết, bao gồm thực hiện công tác vệ sinh nghiêm ngặt và phân chia heo theo

từng nhóm tuổi riêng biệt, nhằm giảm thiểu stress và đảm bảo dinh dưỡng cho heo.

Hạn chế việc tiếp xúc giữa heo và heo, đồng thời hạn chế tối đa việc ghép

giữa các đàn heo. Nếu hệ thống miễn dịch bị kích thích thái quá, PCV2 có thể gây

bệnh. Nên duy trì những đàn heo từ cai sữa đến xuất chuồng theo nguyên tắc “cùng

vào, cùng ra”. Điều kiện chuồng nuôi phải phù hợp nhằm tránh stress cho heo. Đảm

bảo chế độ ăn uống cho phù hợp với từng độ tuổi. Thú y viên của trại phải điều trị

kịp thời các bệnh mới xuất hiện. Các heo thương tật, các heo chết, heo bệnh cần

được phát hiện kịp thời và cách ly. Heo con phải được bú sữa đầy đủ và cần nhớ

không ghép con giữa các nái mẹ sau khi sinh 24 giờ. Thực hiện tiêm phòng các

bệnh do PRRSV, Parvovirus, bệnh viêm phổi địa phương và các bệnh khác.

Dùng vắc xin phòng bệnh heo nái/nái tơ: lần tiêm thứ 2 cách lần tiêm thứ 1 từ 3 – 4

tuần, ít nhất 2 tuần trước khi heo được phối giống hay heo đẻ. Tái chủng: tiêm một

lần lúc heo đang mang thai, ít nhất là 2 – 4 tuần trước khi đẻ.

2.10 Lược duyệt một số cơng trình nghiên cứu

Theo Đỗ Thanh Vũ, kết quả “ Khảo sát biểu hiện bệnh đường hô hấp và hiệu

quả điều trị bệnh đường hô hấp trên heo sơ sinh đến 100 ngày tuổi tại một trại chăn

nuôi cơng nghiệp” như sau: Tỷ lệ ho trung bình ở giai đoạn 3 (60 – 100 ngày tuổi)

là 61,11 %, tỷ lệ thở bụng trung bình là 23,27 %, tỷ lệ ho kết hợp thở bụng trung

bình giai đoạn này là 12,85 % và tỷ lệ chết là 28,66 %.

Đề tài “ Khảo sát các triệu chứng đường hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh này

trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi tại một trại heo công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai”

của Nguyễn Minh Tuấn (2009), ghi nhận được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp ở giai đoạn

54 – 94 ngày tuổi là 32,40 %.

Năm 2010, Lương Thị Dung tiến hành đề tài “ Khảo sát các biểu hiện hô hấp

và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên heo giai đoạn cai sữa đến xuất

chuồng”. Kết quả ghi nhận được tỷ lệ ho trung bình giai đoạn chuyển ni thịt đến

xuất chuồng là 10,15 %, thở bụng trung bình là 1,35 %, tỷ lệ ho – thở bụng trung

bình ở giai đoạn này là 0,38 %.



26



Qua tham khảo một số đề tài nghiên cứu có thể thấy rằng, bệnh hơ hấp ln

là vấn đế quan tâm lớn của các nhà chăn nuôi heo và những người làm cơng tác thú

y vì bệnh hơ hấp chiếm tỷ lệ cao (> 30 %) trong các bệnh thường gặp. Chính vì vậy,

nghiên cứu này tiếp tục khảo sát bệnh hô hấp và định một số mầm bệnh thông qua

kết quả mổ khám tại Trại heo công nghiệp ở quận 9 để tìm hiểu hiện trạng bệnh hơ

hấp từ đó khuyến cáo nhà chăn ni một vài liệu pháp phòng và trị bệnh tốt hơn.



27



Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm thực hiện

3.1.1. Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện từ ngày 22/2/2013 đến ngày 30/8/2013 tại trại heo

Tiger quận 9, TP.HCM.

Phân tích kết quả PCR/ RT – PCR và đánh giá bệnh tích vi thể tại phòng thí

ngiệm Bệnh Viện Thú Y trường đại học Nông Lâm TP. HCM.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Khảo sát được thực hiện trên heo từ 56 ngày tuổi đến khi xuất chuồng tại

thời điểm khảo sát.

3.3. Nội dung nghiên cứu

(1) Khảo sát tiểu khí hậu chuồng ni và mật độ ni

(2) Khảo sát tỷ lệ bệnh hô hấp và biểu hiện lâm sàng hơ hấp

(3) Xác định một số ngun nhân chính gây bệnh trên heo mắc bệnh hô hấp

3.4. Phương pháp tiến hành

3.4.1 Bố trí khảo sát

Khảo sát được thực hiện trên heo từ 56 ngày tuổi đến khi xuất chuồng được

chia cho 2 khu chuồng khác nhau. Mỗi khu chuồng gồm 2 đợt heo liên tiếp nhau

cùng độ tuổi nhưng khác nhau về thời điểm.

Bảng 3.1. Bố trí khảo sát

Khu Đợt



A



B



Thời gian khảo sát



Số heo khảo sát(con)



1



4 tháng từ ngày 24/2/2013 – 24/6/2013



110



2



4 tháng từ ngày 01/03/2013 – 01/07/2013



135



1



4 tháng từ ngày 28/02/2013 – 28/06/2013



100



2



4 tháng từ ngày 05/03/2013 – 05/07/2013



135



Tổng



480



28



3.4.2. Khảo sát tiểu khí hậu và mật độ chuồng ni

Mục đích

Tìm hiểu được thực trạng về tiểu khí hậu tại trại, cũng như mật độ chuồng

nuôi trên heo thịt, từ đó đưa ra nhận xét về sự phù hợp nhiệt độ, ẩm độ, mật độ đối

với heo trong giai đoạn này.

Dụng cụ

Nhiệt độ kế, ẩm độ kế, sổ ghi chép

Phương pháp tiến hành

Nhiệt độ, ẩm độ

Việc ghi nhận nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi được thực hiện 3 lần trong ngày

lúc 6 – 7 giờ (Sáng), 13 – 14 giờ (Trưa), 17 – 18 giờ (Chiều) cùng thời điểm với

khảo sát biểu hiện hô hấp trên heo theo dõi. Nhiệt kế được đặt ở giữa dãy chuồng và

cách nên chuồng 0,6 m, đặt cố định trong chuồng heo từ khi heo 56 ngày tuổi cho

tới khi xuất chuồng.

Nhiệt độ trung bình (T0tb) được xác định thơng qua việc tính tốn thông số

đọc trên nhiệt kế.

T0tb/ ngày (0C) = Tổng nhiệt độ đo được 3 lần trong ngày/ 3

T0tb/ tuần (0C) = Tổng nhiệt độ trung bình trong 7 ngày / 7

T0tb/ tháng (0C) = Tổng nhiệt độ trung bình trong 4 tuần / 4

Ẩm độ trung bình (RHtb) được xác định thơng qua việc tính tốn thơng số đọc trên

nhiệt kế.

RHtb/ ngày (%) = Tổng ẩm độ đo được 3 lần trong ngày/ 3

RHtb/ tuần (%) = Tổng ẩm độ trung bình trong 7 ngày / 7

RHtb/ tháng (%) = Tổng ẩm độ trung bình trong 4 tuần / 4



3.4.3. Khảo sát bệnh hô hấp và hô hấp phức hợp trên heo

Mục đích



29



Đánh giá hiện trạng bệnh hơ hấp và tổng quan trại bằng phương pháp phỏng

vấn trực tiếp người chăn nuôi tại trại chăn nuôi để nắm được các thông tin chung về

tất cả các mặt như tổng quan trại, tổng đàn, quy trình vaccine, thơng tin về thức ăn,

nước uống sử dụng trong trại. Kết hợp với theo dõi, quan sát trực tiếp để biết rõ hơn

về tình hình hơ hấp của heo tại trại.

Phương pháp tiến hành

Điều tra tình hình bệnh hơ hấp bằng phương pháp quan sát trực tiếp biểu hiện

hô hấp hàng ngày của heo ở từng ô chuồng. Heo được theo dõi, đánh dấu và ghi

nhận có biểu hiện hơ hấp vào lúc 6 – 7 giờ (sáng), 13 – 14 giờ (trưa) và lúc 16 – 17

giờ (chiều) dựa vào các triệu chứng lâm sàng như : hắt hơi kèm theo chảy nước mũi

có dạng lỏng, lợn cợn, mủ đặc (vàng hoặc nâu vàng), nhờn đục. Heo ho được ghi

nhận khi heo ho từ hai tiếng trở lên trong một lần ho, thở bụng (biểu hiện thở thể

bụng được ghi nhận khi heo có thành bụng hoạt động rõ, còn thành ngực hoạt động

yếu hoặc không hoạt động), ho – thở bụng (thể hiện đồng thời hai biểu hiện trên).

Ngoài ra nhằm đánh giá tổng thể hơn về tình hình bệnh trên heo khảo sát. Sau đó

tiến hành điều trị bằng các loại thuốc của trại.

Các chỉ tiêu khảo sát trên heo

Tỷ lệ ho (%) = (số con ho theo biểu hiện lâm sàng) / (tổng số con nuôi) x 100

Tỷ lệ heo thở bụng (%) = (số heo thở bụng) / (Tổng số con nuôi) x100

Tỷ lệ con ho và thở bụng (%) = (Số con có biểu hiện ho và thở bụng) / (Tổng

số con nuôi) x 100

Tỷ lệ chết (%) = (Tổng số heo chết) / (Tổng số heo nuôi) x 100

3.4.3. Xác định nguyên nhân gây bệnh chính trên heo hơ hấp được mổ khám

Mục đích

Bằng cách đánh giá triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể

kết hợp với kết quả chẩn đoán PCR / RT – PCR để xác định bệnh lý hô hấp và căn

bệnh gây ra rối loạn hô hấp tại trại.

Phương pháp tiến hành

Trong quá trình khảo sát, mổ khám được thực hiện trên 3 ca bệnh khác nhau



30



(Bảng 3.2) và trên những heo có biểu hiện hơ hấp đặc trưng để quan sát bệnh tích

đại thể của các cơ quan hơ hấp như : thanh quản, khí quản, hạch phổi, màng phổi,

phổi, các chất tiết đường hô hấp, hạch bẹn, gan, lách, thận.

Bảng 3.2. Số ca bệnh khảo sát trong các đợt theo dõi

Ngày

13/03/2013

15/05/2013

17/05/2013

TỔNG



Đợt

1

2

2



Khu

B

A

B



Số heo mổ khám (n)

1

1

1

3



Lấy mẫu bệnh phẩm

Lấy mẫu phổi vi thể (0,5 x 2 cm) cho vào lọ formalin 10 % có đánh số thứ tự

để đánh giá bệnh tích vi thể. Mẫu phổi lấy là vùng có bệnh tích viêm rõ ràng (phần

tiếp giáp giữa mô bệnh và mô lành). Lấy mẫu ở 5 vị trí khác nhau trên mơ phổi

viêm, tại mỗi vị trí phổi cắt mẫu làm 2 phần cho xét nghiệm vi thể và PCR. Mẫu

PCR sau khi lấy được bảo quản ở nhiệt độ lạnh (thùng đá) và nhanh chóng gửi về

phòng xét nghiệm Bệnh Viện Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM tiến hành

xét nghiệm các mầm bệnh PRRSV (chủng Trung Quốc, Bắc Mỹ và Châu Âu),

PCV2, CSFV, MH và APP.

3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu

Dùng trắc nghiệm F để so sánh các số liệu trung bình, trắc nghiệm

các tỷ lệ trên phần mềm minitab 16



31



để so sánh



Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Khảo sát tiểu khí hậu chuồng nuôi

4.1.1. Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi

Qua quá trình khảo sát nhiệt độ, ẩm độ chuồng ni được ghi nhận và trình

bày ở Bảng 4.1a và Bảng 4.1b.

Bảng 4.1a. Nhiệt độ (0C) trung bình chuồng ni qua bốn tháng theo dõi:

Sáng



Trưa



Chiều



Trung



(0C)



(0C)



(0C)



Bình (0C)



Tháng 3



27,19



33,54



32,57



31,1



Tháng 4



27,53



33,63



32,67



31,28



Tháng 5



27,32



33,51



32,54



31,12



Tháng 6



27,02



33,36



32,13



30,84



Trung bình



27,27



33,51



32,48



31,09



Tháng 3



26,43



33,23



31,56



30,41



Tháng 4



26,83



33,32



31,96



30,7



Tháng 5



26,68



32,78



31,71



30,35



Tháng 6



26,47



32,41



31,24



30,04



Trung bình



26,60



32,94



31,62



30,38



Thời điểm khảo sát



Khu A



Khu B



Nhiệt độ trung bình thấp nhất ở cả 2 khu là vào tháng 6 với Khu A là 30,840C

và khu B là 30,040C. Nhiệt độ cao nhất vào tháng 4 ở khu A là 30,840C và khu B là

30,70C. Sự khác biệt nhiệt độ trung bình theo 3 thời điểm khảo sát (sáng, trưa, chiều)

ở từng khu là rất có ý nghĩa (P <0,01).

Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), nhiệt độ phù hợp cho

heo thịt là 16 – 300C, theo kết quả ghi nhận của chúng tôi thì nhiệt độ trung bình

của cả hai khu A và B khá cao so với nhiệt độ này. Nguyên nhân dẫn đến sự khác

biệt nhiệt độ có thể do tại thời điểm khảo sát sự bắt đầu chuyển mùa (mùa nắng



32



sang mùa mưa). Ngồi ra, khu A có mái che thấp và hệ thống quạt thơng gió ít hoạt

động hơn so với khu B nên cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này.

Nhiệt độ trong ngày có sự dao động rõ rệt vào buổi sáng (6 – 7 giờ) so với

trưa (13 – 14 giờ) từ 6,24 – 6,340C. Thông thường vào khoảng 6 – 7 giờ thì nhiệt độ

vào khoảng 26 – 270C ở khu B và 27 – 28 0C ở khu A. Nhưng vào khoảng 13 – 14

giờ thì nhiệt độ tăng lên khá cao ở cả 2 khu chuồng, khu A có nhiệt độ (33,510C)

cao hơn so với khu B (32,940C). Ở thời điểm 13 – 14 giờ trong khảo sát, ghi nhận

nhiều heo nằm tụ vào vòi nước, bỏ ăn, thở bụng. Theo Steve Prissen và ctv (2005),

trong thời tiết nắng rất nóng từ 35 0C trở lên, heo thịt rất nhạy cảm với stress nhiệt

nên cần tiến hành các biện pháp làm giảm bớt sự rối loạn nhịp hô hấp và đề phòng

chết đột ngột. Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), cũng cho rằng nhiệt

độ thích hợp nên ở khoảng 24 – 29 0C, khi nhiệt độ cao sẽ làm hóc mơn Thyroxin

được tiết ra rất ít, làm heo biếng ăn, mất mước, máu cô đặc, sự vận chuyển máu

dưới da kém, mất muối, heo thở nhanh, co giật, đau bắp cơ.

Bảng 4.1b. Ẩm độ (%) trung bình chuồng ni qua bốn tháng theo dõi :

Trưa



Chiều



(%)



(%)



(%)



Tháng 3



69,55



49,94



52,27



57,25



Tháng 4



69,47



49,61



51,98



57,02



Tháng 5



69,63



49,67



52,03



57,11



Tháng 6



69,81



50,02



52,86



57,56



Trung bình



69,62



49,81



52,29



57,24



Tháng 3



78,53



58,67



66,61



67,94



Tháng 4



78,27



58,53



66,34



67,71



Tháng 5



78,46



58,49



66,54



67,83



Tháng 6



78,62



58,61



66,67



67,97



Trung bình



78,47



58,58



66,54



67,86



Thời điểm khảo sát



Khu A



Khu B



Trung



Sáng



bình

(%)



Ẩm độ trung bình thấp nhất vào tháng 4, ở khu A là 57,02 % và khu B là



33



67,71 %. Nhiệt độ cao nhất ở tháng 6 với ẩm độ khu A là 57,56% và khu B là

67,97%. Sự khác biệt về ẩm độ trung bình được theo dõi vào ba thời điểm (sáng,

trưa, chiều) trong ngày là rất có ý nghĩa (P<0,01) và sự khác biệt giữa 2 khu A và B

cũng rất có ý nghĩa (P <0,01). Do kết cấu chuồng khu B có nhiều hệ thống thốt

nước, nền chuồng có độ nghiêng thấp hơn so với khu A nên sự thốt nước kém.

Ngồi ra, khu B nằm xen kẽ cùng với dãy chuồng heo nái nên sự thơng gió, sự thốt

hơi nước thấp hơn so với khu A, vì vậy có thể đã dẫn đến ẩm độ của khu B cao hơn

khu A. Theo Nguyễn Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), ẩm độ khơng khí nên từ

50 % đến 70 %, tốt nhất là 60 % dành cho heo thịt. Nếu ẩm độ khơng khí cao hơn

90 % sẽ làm gia súc khó chịu, mất cảm giác ngon miệng, giảm khả năng tiêu hóa và

sức đề kháng. Khi ẩm độ dưới 50%, da và niêm mạc sẽ bị khô, nứt và gia súc dễ bị

nhiễm trùng. Gonyou và ctv (1999) cũng cho rằng các tác nhân gây bệnh được kiểm

soát tốt nhất là ở ẩm độ 60 – 80 %. Không khí có ẩm độ cao hơn hay thấp hơn mức

này đều có thể tạo điều kiện tồn tại lượng tác nhân gây bệnh cao.

4.1.2. Mật độ chuồng nuôi

Mật độ heo tại trại khảo sát ở giai đoạn từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuống là

0,912 m2 / con ở khu A và 1,15 m2 / con ở khu B. Mật độ thích hợp cho sự phát triển

của heo cho tới xuất chuồng là từ 1 – 1,2 m2 / con (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị

Dân, 1997). Do đó, mật độ trong khảo sát cho thấy trại bố trí heo vào các ô chuồng

của khu A khá dày và thật sự chưa phù hợp cho sự phát triển của heo.

4.2.Kết quả khảo sát các biểu hiện bệnh hô hấp trên heo

4.2.1. Tỷ lệ con ho

Qua quá trình khảo sát tỷ lệ ho trên heo từ 56 ngày tuổi tới khi xuất chuồng

được ghi nhận và trình bày ở Bảng 4.2.



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Duy trì tình trạng miễn dịch chống virus PRRS trên đàn nái sản: chăm sóc tốt cho những nái đã bị nghi nhiễm virus PRRS, hạn chế loại thải nái rạ , thực hiện cách ly phòng chống dịch, tập làm quen với hệ sinh vật của trại đối với heo hậu bị mới nhập v...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×