Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Sử dụng thuốc phòng bệnh

4 Sử dụng thuốc phòng bệnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc bổ sung sắt trên heo con để phòng bệnh thiếu máu được thực hiện rất

tốt ở các trại khảo sát. Nếu khơng phòng thì heo con sẽ thiếu sắt (Fe) do mỗi ngày

heo con cần 7mg sắt, nhưng sữa heo mẹ chỉ cung cấp 1mg sắt mỗi ngày. Heo con

dự trữ sắt ít (30mg) vì màng nhau thai là hàng rào hạn chế sự vận chuyển từ mẹ

sang bào thai Nếu thiếu sắt thì heo con nhợt nhạt, giảm tăng trọng, sức đề kháng

giảm, chứng không tiêu thức ăn, dễ dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995).

Nhưng cũng cần lưu ý cũng có trường hợp tiêm sắt quá liều gây ngộ độc sắt, do cơ

thể heo con thiếu Vitamin E và Selenium vì trong thời gian mang thai heo mẹ không

được cung cấp đầy đủ.(Biopharmachemie, 2008).

Cầu trùng là một vấn đề mà hầu hết các trại đều quan tâm. Vì nó là một trong

những bệnh gây tiêu chảy cho heo con ở giai đoạn 8-15 ngày tuổi. Isospora suis là

loại gây bệnh chủ yếu trên heo con.Chúng phá hủy tế bào vi nhung mao ruột, làm tế

bào biểu mô bề mặt niêm mạc không thành thục, teo dần, chuyển từ dạng trụ cao

sang dạng trụ ngắn và bất dưỡng. Từ đó làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh

dưỡng và các chất điện giải từ thức ăn, giảm hoạt tính của enzym, đưa đến việc

Hình thành một mơi trường giàu dinh dưỡng cho VSV cơ hội phát triển.Hơn nữa

bệnh cầu trùng có thể xảy ra đồng thời với C. perfringens,E. coli ,Samonella,

Rotavirus, Adenovirus và phó thương hàn (Mundt, 2007, dẫn liệu từ Bayer).Cộng

với Việt Nam là nước nhiệt đới, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự phát triển

cầu trùng, cùng với mật độ chăn nuôi dày đặc,ý thức người dân trong việc áp dụng

các biện pháp an toàn sinh học chưa triệt để nên cầu trùng vẫn ln đe dọa sức khỏe

cho bầy heo.Do đó việc phòng cầu trùng rất cần thiết. Một số thuốc phòng cầu trùng

mà các trại sử dụng: baycox 5 %, bio-coc, navet-cox, nova–coc 5 %.Cho heo con

uống vào lúc 3 tuần tuổi (Hình 4.8).

Qua kết quả Bảng 4.5 thấy rằng các trại sử dụng kháng sinh phòng hơ hấp

cao hơn phòng tiêu chảy điều này có lẽ do bệnh hơ hấp được chú trọng nhiều hơn

bệnh tiêu chảy vì chúng kéo dài, khó điều trị, xảy ra ở mọi thời điểm từ cai sữa đến

khi xuất chuồng. Việc không chú trọng các biện pháp an tồn sinh học như khơng

kiểm sốt được phương tiện,công nhân ra vào trại,sử dụng nguồn nước chưa qua xử



46



lý,việc sát trùng chuồng trại chưa thường xuyên,không đạt hiệu quả,khơng kiểm

sốt các nguồn trung gian gây bệnh: chuột, ruồi, chó,mèo thả rơng trong trại,ni

chung các gia súc,gia cầm khác…Các yếu tố gây stress heo con như: chuyển

chuồng,xa mẹ,nhiệt độ,ẩm độ thất thường,thiếu thức ăn,vệ sinh chăm sóc kém…Vì

thế việc dùng kháng sinh để phòng bệnh và kết hợp các biện pháp an toàn sinh học

sẽ làm giảm các mầm bệnh đe dọa cuộc sống của bầy heo. Qua đó giúp các nhà

chăn ni kiểm sốt được các mầm bệnh trong trại,giảm chi phí điều trị thú

y.Nhưng cần lưu ý việc phòng bệnh bằng kháng sinh phải đúng quy trình,đúng liều

lượng,đúng đối tượng nhằm hạn chế thấp nhất khả năng đề kháng của vi sinh

vật.Một số kháng sinh phòng bệnh hơ hấp và tiêu chảy thường dùng như:

enrofloxacin, colistin,amoxicilin, tylosin, tiamulin, flophenicol, doxycycline (hình

4.8).



47



Hình 4.8Các loại thuốc sử dụng trong trại



48



4.5 Các vấn đề đang tồn tại trong trại

Bảng 4.6Kết quả các vấn đề còn tồn tại trong trại

Đối tượng



Bệnh thường



Trại từ 50 đến 100



Trại trên 100 nái



gặp



nái (n=68)



(n=46)



Số trại có



%



vấn đề



Số trại có



%



vấn đề



Sẩy thai



40



58,82a



16



34,78b



Sốt



29



42,65



26



56,52



Bỏ ăn



30



44,12



24



52,17



Nái ni



Viêm vú



23



33,82



18



39,13



con



Viêm tử cung



33



48,53



26



56,52



Nái



Phối nhiều lần



46



67,65



32



69,57



khô,hậu bị



Chậm lên giống



10



14,71



8



17,39



Heo con



Tiêu chảy



13



19,12



6



13,04



Hô hấp



12



17,65



4



8,70



cai sữa,heo Còi cọc

thịt



45



66,18



27



58,70



Nái mang

thai



theo mẹ

Heo sau



a,b: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Ở nái mang thai, bệnh sẩy thai , sốt, bỏ ăn là các bệnh thường gặp nhất.

Trong đó sẩy thai chiếm tỉ lệ cao và có sự khác biệt ở 2 nhóm trại (p<0,05). Điều

này có thể ở nhóm trên 100 nái có quy trình chăn ni, quản lý, an tồn sinh học tốt

hơn nên tỉ lệ thấp hơn so với nhóm còn lại.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Sử dụng thuốc phòng bệnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×