Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 4.7 Các loại vaccine sử dụng trong trại

Hình 4.7 Các loại vaccine sử dụng trong trại

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.3.2 Kết quả khảo sát phòng bệnh bằng vaccine cho heo con

Bảng4.4Kết quả khảo sát phòng bệnh bằng vaccine cho heo con

Trại từ 50 đến 100 nái (n=68)



Phòng

bệnh



Số trại



%



sử dụng



Số trại



Trại trên 100 nái (n=46)

%



sử dụng



Số trại



%



sử dụng



Số trại



%



sử dụng



đúng



đúng



khuyến



khuyến



cáo



cáo



Dịch tả



68



100



58



85,29



46



100



42



91,30



FMD



65



95,59



65



100



45



97,82



45



100



M.



60



88,24



53



88,33



43



93,48



38



88,37



PRRS



25



36,76



24



96,0



18



39,13



14



77,78



PCV2



40



58,82a



21



52,5



36



78,26b



23



50,00



hyopneum

oniae



a,b: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Nhóm bệnh bắt buộc tiêm phòng

Khi chúng tơi khảo sát tình Hình phòng bệnh trên heo con bằng vaccine thì

nhận thấy rằng tỉ lệ tiêm phòng vaccine dịch tả và FMD đạt tỉ lệ cao nhất và đa số

các trại đều thực hiện đúng với khuyến cáo vì đây là 2 chương trình vaccine bắt

buộc phải tiêm chủng theo qui định của Cục thú y.

Nhóm bệnh khuyến cáo tiêm phòng

Bệnh do M.hyopneumoniae,PRRS, PCV2là những bệnh mà Cục thú y

khuyến cáo tiêm phòng.Qua Bảng 4.4, chúng tơi ghi nhận rằng tỉ lệ tiêm phòng M.

hyopneumoniaeở cả 2 nhóm trại đều cao nhất rồi đến PCV2 và cuối cùng PRRS.



43



Điều này cho thấy họ chú trọng 2 bệnh do M.hyopneumoniaevà PCV2 gây ra hơn

PRRS có thể do tần suất 2 bệnh đó xảy ra ở vùng đó cao hơn, ảnh hưởng nghiệm

trọng đến lợi ích của nhà chăn ni.

Các loại vaccine phòng chống bệnh M.hyopneumoniaegây ra được sử dụng

tại trại như:m+pac(Intervet), suvaxyn mh-one (Fort Dodge), respisure-one(Pfizer),

mypravac suis (hipra), myco shield (Novartis), ingelvac mycoflex (Boehringer). Đa

số các hãng khuyến cáo tương đối giống nhau là thời gian chích vào 1-3 tuần tuổi .

Có 88,33 % ( nhóm trại từ 50 đến 100 nái) và 88,37 % (nhóm còn lại) tiêm phòng

đúng khuyến cáo.

Qua kết quả khảo sát, chúng tơi ghi nhận có sự khác biệt về mặt thống kê về

việc sử dụng vaccine để phòng PCV2 gây ra giữa các trại trên 100 nái so với các

trại từ 50 đến 100 nái (p<0,05).Việc tiêm phòng vaccine này đã làmgiảm những

thiệt hại do PCV2 virus gây ra, góp phần làm tăng năng suất ở đàn heo thịt được

chủng ngừa vaccine hoặc có nguồn gốc từ đàn đã được tiêm phòng. Có sự cải thiện

tăng trọng trung bình trên ngày và chuyển đổi thức ăn, giảm tỷ lệ tử vong và giảm

chi phí thuốc. Việc tiêm phòng vaccine phòng bệnh PCV2 đã giúp ngăn chặn sự

phát triển của virus trong máu, cũng như sự bài thải virus qua đường hô hấp và

phân (Fort và ctv, 2008). Các loại vaccineđược sử dụng tại trại như: circumvent pcv

(Intervet), ingelvac circo flex (Boehringer), fostera pcv(Frizer), circovac (Merial).

Các khuyến cáo của các hãng của khác nhau như: theo Intervet thì mũi thứ nhất cho

heo con từ 3 tuần tuổi, mũi thứ hai sau mũi thứ nhất 3 tuần.Theo Pfizer thì tiêm cho

heo con từ 4 tuần tuổi hoặc lớn hơn. Dựa vào khuyến cáo có khoảng 50 % các trại ở

2 nhóm trại thực hiện đúng.

Tóm lại, qua tình hình phòng bệnh bằng vaccine tại các trại chúng tơi ghi

nhận rằng tất cả các trại đều thực hiện tốt 2 chương trình tiêm phòng vaccine bắt

buộc theo qui định của Cục thú y. Ngược lại các chương trình phòng bệnh khuyến

cáo thì thực hiện chưa tốt, vẫn còn nhiều họ tiêm phòng khơng theo khuyến cáo của

hãng sản xuất về thời điểm tiêm phòng, tiêm phòng sai đối tượng. Điều này dẫn đến



44



việc giảm hiệu quả tiêm phòng, khơng kiểm sốt được dịch bệnh, làm tăng chi phí

sản xuất.

4.4 Sử dụng thuốc phòng bệnh

Bảng 4.5Kết quả khảo sát việc phòng bệnh

Đối



Phòng bệnh



tượng



Trại từ 50 đến 100



Trại trên 100 nái



nái (n=68)



(n=46)



Số trại



%



sử dụng

Nái



Số trại



%



sử dụng



Tẩy giun



40



58.82



32



69.57



Thiếu sắt



68



100



46



100



Heo



Cầu trùng



57



83,82



39



84,78



con



Tiêu chảy



7



10.29



6



13.04



Hô hấp



18



26.47



16



34.78



Về vấn đề tẩy giun cho nái chúng tôi ghi nhận rằng hơn 50 % các trại đã

quan tâm và thực hiện tốt. Việt Nam là những nước nhiệt đới nên rất phù hợp điều

kiện phát triểncủa ký sinh trùngvà thiệt hại gây ra rất lớn do đó việc tẩy giun rất cần

thiết để loại bỏ các loại ký sinh trùng nhưsán lá ở ruột,sán dây,giun đũa,giun

phổi,ghẻ heo,mò bao lơng,rận….Những bệnh này làm gia súc kém tăng trọng, giảm

giá trị và năng suất các sản phẩm của gia súc. Trong trường hợp heo nhiễm sẽ tạo

tiền đề cho những bệnh truyền nhiễm kế phát. Để phòng ngừa nên sử dụng một số

thuốc để sổ lãi cho heo nái như: ivermectin, mebendazole , fenbendazole,

albendazole …(Lê Hữu Khương, 2008) trộn vào cám hoặc chích vào lúc trước khi

phối giống và trước khi đẻ 1 tuần nên được áp dụng (Hình 4.8)



45



Việc bổ sung sắt trên heo con để phòng bệnh thiếu máu được thực hiện rất

tốt ở các trại khảo sát. Nếu khơng phòng thì heo con sẽ thiếu sắt (Fe) do mỗi ngày

heo con cần 7mg sắt, nhưng sữa heo mẹ chỉ cung cấp 1mg sắt mỗi ngày. Heo con

dự trữ sắt ít (30mg) vì màng nhau thai là hàng rào hạn chế sự vận chuyển từ mẹ

sang bào thai Nếu thiếu sắt thì heo con nhợt nhạt, giảm tăng trọng, sức đề kháng

giảm, chứng không tiêu thức ăn, dễ dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995).

Nhưng cũng cần lưu ý cũng có trường hợp tiêm sắt quá liều gây ngộ độc sắt, do cơ

thể heo con thiếu Vitamin E và Selenium vì trong thời gian mang thai heo mẹ khơng

được cung cấp đầy đủ.(Biopharmachemie, 2008).

Cầu trùng là một vấn đề mà hầu hết các trại đều quan tâm. Vì nó là một trong

những bệnh gây tiêu chảy cho heo con ở giai đoạn 8-15 ngày tuổi. Isospora suis là

loại gây bệnh chủ yếu trên heo con.Chúng phá hủy tế bào vi nhung mao ruột, làm tế

bào biểu mô bề mặt niêm mạc không thành thục, teo dần, chuyển từ dạng trụ cao

sang dạng trụ ngắn và bất dưỡng. Từ đó làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh

dưỡng và các chất điện giải từ thức ăn, giảm hoạt tính của enzym, đưa đến việc

Hình thành một mơi trường giàu dinh dưỡng cho VSV cơ hội phát triển.Hơn nữa

bệnh cầu trùng có thể xảy ra đồng thời với C. perfringens,E. coli ,Samonella,

Rotavirus, Adenovirus và phó thương hàn (Mundt, 2007, dẫn liệu từ Bayer).Cộng

với Việt Nam là nước nhiệt đới, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự phát triển

cầu trùng, cùng với mật độ chăn nuôi dày đặc,ý thức người dân trong việc áp dụng

các biện pháp an toàn sinh học chưa triệt để nên cầu trùng vẫn luôn đe dọa sức khỏe

cho bầy heo.Do đó việc phòng cầu trùng rất cần thiết. Một số thuốc phòng cầu trùng

mà các trại sử dụng: baycox 5 %, bio-coc, navet-cox, nova–coc 5 %.Cho heo con

uống vào lúc 3 tuần tuổi (Hình 4.8).

Qua kết quả Bảng 4.5 thấy rằng các trại sử dụng kháng sinh phòng hơ hấp

cao hơn phòng tiêu chảy điều này có lẽ do bệnh hơ hấp được chú trọng nhiều hơn

bệnh tiêu chảy vì chúng kéo dài, khó điều trị, xảy ra ở mọi thời điểm từ cai sữa đến

khi xuất chuồng. Việc không chú trọng các biện pháp an tồn sinh học như khơng

kiểm sốt được phương tiện,cơng nhân ra vào trại,sử dụng nguồn nước chưa qua xử



46



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 4.7 Các loại vaccine sử dụng trong trại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×