Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tình hình bệnh da trên chó, bệnh da do ngoại ký sinh trùng và nấm

1 Tình hình bệnh da trên chó, bệnh da do ngoại ký sinh trùng và nấm

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.1.2 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm trên tổng số chó được

xét nghiệm (n = 219 con



Hình 4.1 Chó bị bệnh do Demodex canis

dạng mò tồn thân



Hình 4.2 Chó bị bệnh do Demodex

canis dạng mò cục bộ



Hình 4.3 Biểu hiện nấm da trên chó



Hình 4.4 Chó bị bệnh da do

Sarcoptes scabiei var canis



24



Dựa vào tác nhân gây bệnh và loài ký sinh gây bệnh trên da của chó, chúng

tơi chia 219 ca được xét nghiệm bệnh da trên chó thành 4 nhóm đó là Demodex var

canis, Sarcoptes scabiei, do nấm và tất cả những trường hợp bệnh do dinh dưỡng,

do nội tiết (thiểu năng tuyến giáp,...) do dị ứng ...được xếp vào nhóm bệnh da do

nguyên nhân khác.

Kết hợp các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và sự hỗ trợ chẩn đoán cận lâm

sàng như cạo da xem tươi dưới kính hiển vi, thì chúng tơi có kết quả về tỷ lệ chó bị

bệnh da do các tác nhân như sau:

Bảng 4.1 Tỷ lệ chó bị bệnh da do Demodex, Sarcoptes, nấm da, các nguyên

nhân khác trên tổng số chó xét nghiệm (n = 219)

Loại tác nhân (X)



Số chó bị bệnh (con)



Tỷ lệ (%)



Demodex var canis



59



26,94



Sarcoptes scabiei



16



7,31



Nấm



35



15,98



Khác



109



49,77



Số chó được xét nghiệm



219



100



(n = 219)



Ghi chú: n số chó bị bệnh

Qua khảo sát chúng tơi nhận thấy tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex var canis

chiếm tỷ lệ cao nhất 26,94%, thấp nhất là do Sarcoptes scabiei với tỷ lệ 7,31% và

trung bình là chó bị nhiễm nấm với tỷ lệ 15,98% (Bảng 4.1). Kết quả khảo sát này

của chúng tôi tương ứng với kết quả của Rodriguez – Vivas (2003), Trần Thị

Quỳnh Như (2010), Nguyễn Đặng Hoài An (2010) và Phạm Ngọc Mỹ Thể (2000).

Nhưng khác với Chee, 2008 (tỷ lệ chó nhiễm Sarcoptes cao hơn Demodex) (trích

dẫn bởi Lâm Thị Hưng Quốc, 2010). Có thể do địa điểm, điều kiện ngoại cảnh và sự

thích nghi của mỗi loại ký sinh và sự đáp ứng thể chất của mỗi vật chủ khác nhau

nên gây ra sự chênh lệch khác nhau này. Demodex là lồi kí sinh sẵn có một lượng



25



nhỏ trên da của chó, nếu nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể chó bị thiếu hụt, suy dinh

dưỡng, hay da chó bị tổn thương hoặc do một yếu tố nào đó làm suy giảm sức đề

kháng thì Demodex sẽ phát triển mạnh gây bệnh trên da chó. Còn Sarcoptes là lồi

sinh vật gây bệnh cần có sự tiếp xúc lâu dài gây nhiễm trên bề mặt da và với số

lượng lớn mầm bệnh. Đó là nguyên nhân lí giải thích vì sao tỷ lệ nhiễm Demodex

cao hơn tỷ lệ nhiễm Sarcoptes và nấm. Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm nấm theo kết quả khảo

sát của chúng tôi là 15,98% cao hơn Đoàn Thị Kim Chi (2001), Nguyễn Lê Thùy

Dung (2007) (3,8% và 3,37%) khảo sát tại Chi Cục Thú Y Tp.Hồ Chí Minh. Bệnh

do nấm gây ra thường phải có yếu tố mở đường, có thể do vết thương, vết loét tạo

sự nhiễm nấm. Khi điều kiện chăm sóc kém vệ sinh, ẩm ướt, chế độ dinh dưỡng

khơng hợp lý, suy giảm miễn dịch trong thời kỳ nhiễm các bệnh khác hoặc cơ thể

có vết thương, vết loét , hay việc sử dụng kháng sinh lâu dài làm giảm sức đề kháng

của cơ thể như làm giảm sự thực bào, giảm khả năng tạo kháng thể tạo điều kiện

thuận lợi cho sự nhiễm nấm. Ngoài ra, nấm loài rất dễ lây nhiễm từ thú bệnh sang

thú lành bệnh. Vì vậy, do sự kết hợp các yếu tố nên bệnh da do nấm lây lan nhanh

và phát triển mạnh. Điều này đã được chứng minh qua các số liệu ở trên, và cho

thấy tỷ lệ nhiễm Sarcoptes và nấm đang có xu hướng tăng dần trong những năm gần

đây. Theo thực tế khảo sát, hầu hết các giống chó đem đến khám tại bệnh viện có

liên quan đến bệnh là những giống chó có kích thước lơng dài. Có thể đây là yếu tố

tạo điều kiện cho ngoại ký sinh, nấm phát triển. Ngồi ra, chúng tơi ghi nhận có 3

trường hợp nhiễm ghép: 2 trường hợp nhiễm ghép Demodex và nấm; 1 trường hợp

nhiễm ghép Sarcoptes và nấm. Điều này có thể giải thích khi chó nhiễm nấm thì khả

năng chống chọi lại mầm bệnh yếu, dễ bị nhiễm Demodex, Sarcoptes và ngược lại.

Qua bảng 4.1 cũng cho thấy lượng chó bị bệnh da do nguyên nhân khác

chiếm tỷ lệ 49,77%. Theo khảo sát tôi đã ghi nhận 13 trường hợp chó có biểu hiện

bệnh trên lơng da do dị ứng. Các tác nhân gây dị ứng có thể qua đường tiêu hóa, hơ

hấp hay tiếp xúc. Trong đó có 3 trường hợp chó bị dị ứng thức ăn; 5 trường hợp bị

dị ứng bởi bọ chét, ve; các trường hợp còn lại do các tác nhân như: phấn hoa trong

khơng khí (cỏ, cây, hoa dại). Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện bao gồm: da



26



nổi mẩn đỏ, ngứa, phù nề da, hạch sưng, nổi mụn mủ, rụng lông, thú hắc hơi hoặc

ho, chảy nước mắt,... Bên cạnh đó, sự phát triển của lơng da còn chịu ảnh hưởng

của hệ thần kinh và nội tiết. Hoạt động của các tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến

giáp cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến sự tăng trưởng của lông (Lê Văn Thọ, 1992) nên

có thể chó bị bệnh da do những nguyên nhân này gây ra mà chúng tôi chưa có điều

kiện làm hết các xét nghiệm cận lâm sàng.

4.1.3 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm theo lứa tuổi

Để gây bệnh được trên vật chủ thì những loại kí sinh này phải phụ thuộc

vào nhiều yếu tố. Trước tiên phải gặp được vật chủ thích hợp. Ở mỗi lứa tuổi sự

mẩn cảm và sức đề kháng của chó đối với các loại ký sinh cũng khác nhau. Kết quả

khảo sát tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da theo lứa tuổi sau khi

xét nghiệm mẫu bệnh phẩm lơng da của 219 con chó được trình bày qua bảng 4.2

Bảng 4.2 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da theo lứa tuổi

Tuổi

(năm)



Số chó

nhiễm

ký sinh

(con)



Số chó

xét

nghiệm

(con)



Tỷ lệ

(%)



Loại ký sinh

Demodex



Nấm



Sarcoptes



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



<1



49



24



48,99



18



36,73



1



2,04



5



10,20



1–2



65



38



58,46



24



36,92



3



4,62



11



16,92



>2



105



48



45,71



17



16,19



12



11,43



19



18,10



Tổng



219



110



50,23



59



26,94



16



7,31



35



15,98



P



< 0,01



> 0,05



> 0,05



Ghi chú: n là số chó bị bệnh

Qua bảng 4.2 chúng ta dễ dàng nhìn thấy tình hình chung tỷ lệ chó bị

nhiễm ngoại ký sinh chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi 1 – 2 năm là 58,46%. Trong đó chó bị

bệnh da do Demodex var canis ở 1 – 2 năm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,92% sự

khác biệt này rất có nghĩa về mặt thống kê (với P <0,01). Đồng thời, qua xử lí thống



27



kê cho thấy yếu tố lứa tuổi khơng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm Sarcoptes và nấm

(P>0,05).

Ngồi ra, thì tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó dưới 1 tuổi cũng chiếm tỷ lệ khá

cao (36,73%). Điều này phù hợp với nhận định của Phạm Sỹ Lăng (1992) chó con

từ 5 – 10 tháng tuổi rất dễ cảm nhiễm với mầm bệnh do Demodex hơn những con

chó lớn 2 năm tuổi. Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả khảo

sát của Lâm Thị Hưng Quốc (2010). Demodex truyền lây qua tiếp xúc, bệnh có thể

thấy ở gia súc vài ngày đầu tiên sau khi sinh, sau đó tỷ lệ nhiễm cao dần do gia súc

non tiếp xúc trực tiếp gia súc già (Lê Hữu Khương, 2010).

Hơn nữa trong độ tuổi này nhu cầu dinh dưỡng và mơi trường sống rất

quan trọng, chó con có bản tính nghịch ngợm nên dễ tiếp xúc với mầm bệnh nhất.

Kết hợp với việc chó con chưa trưởng thành có sức đề kháng yếu, hệ thống miễn

dịch chưa hoàn chỉnh nên rất nhạy cảm với mầm bệnh nhất. Trong khi đó chó

trưởng thành có hệ thống miễn dịch hồn chỉnh nên tỷ lệ nhiễm Demodex cũng ít

hơn. Do đó bệnh Demodex có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, điều này cũng phù hợp

với nhận xét của Phạm Sỹ Lăng (2001). Trong q trình khảo sát, tơi nhận thấy rằng

phần lớn các ca bệnh ngoại kí sinh nằm trên các giống chó ngoại, lớn con ví dụ như:

Berger, Rottweiler, Siberian Husky, ..., các chủ ni vì muốn con chó của mình

ngoan ngoãn, biết nghe lời hơn, họ thường cho chúng đi học tại các trường huấn

luyện chó (Khuâng Khiển), có thể mơi trường đó là nguồn truyền lây các mầm

bệnh. Hiện nay xu hướng nuôi nhốt mà theo Amour (1996) sự lan truyền của

Demodex muốn lan tỏa thì phải có thời gian tiếp xúc lâu dài (trích dẫn bởi Trương

Hiếu Dân, 2006).



28



4.1.4 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da theo giới tính

Trong số chó xét nghiệm có 97 chó cái, 122 chó đực. Để tìm hiểu ảnh

hưởng của yếu tố giới tính đến tỷ lệ nhiễm Demodex, Sarcoptes, và nấm trên chó,

chúng tơi tiến hành khảo sát và ghi nhận kết quả theo bảng 4.3

Bảng 4.3 Tỷ lệ chó nhiễm Demodex, Sarcoptes và nấm da theo giới tính

Giới

tính



Số chó

nhiễm

ký sinh

(con)



Số chó

xét

nghiệm

(con)



Tỷ lệ

(%)



Loại ký sinh

Demodex



Nấm



Sarcoptes



n (con)



Tỷ lệ

(%)



n (con)



Tỷ lệ

(%)



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



Cái



122



69



56,56



35



28,69



11



9,02



23



18,85



Đực



97



41



42,27



24



24,73



5



5,15



12



12,37



Tổng

cộng



219



110



50,23



59



26,94



16



7,31



35



15,98



P



>0,05



Ghi chú: n là số chó bị bệnh

Qua bảng 4.3 chúng ta thấy rằng tỷ lệ bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm

ở chó cái cao hơn chó đực. Nhưng qua xử lí thống kê sự khác biệt này là khơng có ý

nghĩa (với P > 0,05). Kết quả của chúng tơi về tỷ lệ nhiễm nấm và ngoại kí sinh ở

chó cái (56,56%) và chó đực (42,27%) đều thấp hơn kết quả của Nguyễn Lê Thùy

Dung (2007) (chó cái: 83,35% và chó đực: 51,78%). Nhưng cao hơn kết quả Lâm

Hưng Quốc (2010) (chó cái: 33,96%, chó đực: 19,42%). Qua q trình khảo sát

chúng tơi nhận thấy bệnh hầu hết bệnh da do Sarcoptes chủ yếu ở trên chó cái, điều

này phù hợp với nhận định Lâm Thị Hưng Quốc (2010).

Sự chênh lệch này có thể do chó cái có sức đề kháng thấp hơn chó đực, bởi

chó cái phải trải qua các quá trình mang thai, đẻ con, và ni dưỡng con thì nhu cầu



29



dinh dưỡng trên chó cái đóng vai trò quan trọng, nếu như khơng cung cấp đầy đủ

dinh dưỡng thì thú mẹ sẽ gầy gòm, giảm sức đề kháng, giảm khả năng miễn dịch

tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, dẫn đến tỷ lệ bệnh cao hơn thú đực.

Ngoài ra, theo Nguyễn Đặng Hoài Nam (2010) yếu tố hormone sinh dục

cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm Demodex (trích dẫn bởi Trần Nguyễn Quỳnh Như,

2010). Ảnh hưởng hormone sinh dục đực là cho thú đực có bộ da lơng săn chắc,

hormone sinh dục cái làm cho lớp mỡ da dày, làm da lông mềm, làm cho nó có tính

mẫn cảm hơn với Demodex. Còn theo Kirk (1986) số lượng chó cái nhiễm Demodex

cao trong giai đoạn động dục, hàm lượng estrogen tăng cao trong máu, làm tăng sự

tiếc bã nhờn của tuyến bã nhờn làm thay đổi pH trên da, gây ra bệnh lý trên da như

rụng lơng, ngứa ngấy, làm cho chó gãi nhiều dễ trầy xước... (trích dẫn bởi Nguyễn

Vũ Thụy Hồng Loan, 2000). Ngoài ra, đặc điểm sinh học của Demodex là ký sinh

trong tuyến bã nhờn và lấy chất bã làm thức ăn nên khi hàm lượng estrogen tăng

làm tăng tuyến bã nhờn, vơ tình nó sẽ là nguồn thức ăn dồi dào cho Demodex làm

chúng gia tăng về số lượng và gây bệnh dẫn đến tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó cái cao

hơn chó đực. Tất cả lý do trên chứng tỏ rằng chó cái dễ mắc bệnh ngoại ký sinh hơn

chó đực.

4.1.5 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da theo giống

Hiện nay, trên thành phố ngày càng ni nhiều giống chó nhập từ nhiều

nước. Thực tế khảo sát rất khó ghi nhận từng giống cụ thể do một số giống chó

(Boxer, Samoyed, Doberman Pinscher, Dalmatian,...) có số lượng ít, mặc khác có

một số chó lai (khơng thuần). Nhằm tìm hiểu khả năng thích nghi và sức đề kháng

các mầm bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da giữa các giống chó, chúng tơi tiến

hành khảo sát yếu tố giống và dựa vào hình dáng bên ngồi chúng tơi ghi nhận

thành hai nhóm giống: chó nội và chó ngoại. Trong số chó được xét nghiệm có 23

con giống nội và 196 con chó giống ngoại. Kết quả xét nghiệm được trình bày qua

bảng 4.4



30



Bảng 4.4 Tỷ lệ chó bị bệnh do Demodex, Sarcoptes và nấm da theo giống

Nhóm

giống



Số chó

xét

nghiệm

(con)



Số chó

nhiễm



sinh

(con)



Tỷ lệ

(%)



Loại ký sinh

Demodex

n

(con)



Tỷ lệ

(%)



Nấm



Sarcoptes

n

(con)



Tỷ

lệ

(%)



n



Tỷ lệ



(con)



Nội



23



9



39,13



6



26,09



2



8,69



1



4,35



Ngoại



196



101



51,53



53



27,04



14



7,14



34



17,35



Tổng



219



110



50,23



59



26,94



16



7,31



35



17,86



P



>0,05



Ghi chú: n là số chó bị bệnh

Qua ghi nhận của chúng tơi thì tỷ lệ nhiễm ngoại kí sinh, nấm giữa nhóm

giống chó nội thấp hơn nhóm giống chó ngoại, qua xử lí thống kê sự khác biệt này

là khơng có ý nghĩa về mặt thống kê (P >0,05). Sự chênh lệch này có thể do sức đề

kháng của giống chó nội cao hơn chó ngoại, sự thích nghi với điều kiện ngoại cảnh

của chó ngoại kém hơn chó nội mặc dù chế độ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc

giống chó ngoại tốt hơn. Tỷ lệ nhiễm Sarcoptes của chúng tôi ở nhóm chó giống nội

là 8,69 % cao hơn ở nhóm chó giống ngoại 7,14% kết quả của chúng tơi ngược với

kết quả khảo sát của Nguyễn Thị Như Ý (2008) tỷ lệ nhiễm Sarcoptes ở chó nội

0,29% thấp hơn ở chó ngoại là 1,96% (trích dẫn bởi Trần Nguyễn Quỳnh Như,

2010). Điều này do thời gian và địa điểm khảo sát khác nhau. Tỷ lệ nhiễm nấm ở

chó ngoại là 17,35% cao hơn chó nội là 4,35%. Kết quả này cao hơn kết quả khảo

sát của Nguyễn Lê Thùy Dung (2007) nhóm chó ngoại là 2,66%, giống chó nội là

6,25% tại Chi cục Thú Y Tp.Hồ Chí Minh và Huỳnh Ngọc Yến (2010) tỷ lệ nhiễm

nấm ở chó ngoại là 0,26%.

Trong số 196 con giống chó ngoại có vấn đề về da được xét nghiệm, thì

hầu hết là giống chó có lơng dài hoặc lơng xoăn và dày lơng. Ở nước ta hiện có

nhiều giống chó ngoại khác nhau, có một số giống thường đến khám và một số



31



giống có số lượng đến khám ít. Chúng tơi tiến hành so sánh kết quả xét nghiệm

nhóm những chó lơng sát hoặc những giống chó lơng ngắn và nhóm những giống

chó lơng dài hoặc lơng xoăn như Poodle.

Bảng 4.5 Tỷ lệ chó bị nhiễm Demodex, Sarcoptes và nấm theo nhóm chó lơng

ngắn và chó lơng dài

Nhóm

chó



Số chó

xét

nghiệm

(con)



Số chó

nhiễm



sinh

(con)



Tỷ lệ

(%)



Loại ký sinh

Demodex



Nấm



Sarcoptes



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



n (con)



Tỷ lệ

(%)



n

(con)



Tỷ lệ

(%)



Lơng

ngắn



53



13



24,53



2



3,77



6



11,32



5



9,43



Lơng

dài



143



88



61,54



51



35,66



8



5,59



29



20,78



Tổng

cộng



196



101



51,53



53



27,04



14



7,14



34



17,35



P



< 0,001



Ghi chú: n là số chó bị bệnh

Qua bảng 4.5 thấy rằng số lượng chó bị nhiễm các loại ký sinh ở nhóm chó

lơng dài chiếm số lượng gấp 6,67 lần nhóm chó lơng ngắn. Tỷ lệ nhóm chó lơng dài

(61,54%) và nhóm chó lơng ngắn (24,53%), qua xử lí thống kê sự khác biệt này rất

có ý nghĩa (với P < 0,001), OR = 4,92. Những chó có lơng dài có nguy cơ mắc bệnh

gấp 4,92 lần so với chó lơng ngắn, điều này phù hợp với nhận định Gram (2003)

(trích dẫn bởi Nguyễn Lê Thùy Dung, 2007).

Sự chênh lệch này có thể do độ dài lơng giữa các giống khác nhau. Những

chó có bộ lơng dài, dày thường nơi trú ngụ của rất nhiều mầm bệnh từ vi khuẩn,

nấm đến ngoại kí sinh. Hơn nữa, chó khơng có tuyến mồ hơi với bộ lơng dài và dày

nếu sống trong điều kiện nuôi dưỡng không tốt, kết hợp điều kiện khí hậu nóng ẩm

ở nước ta càng làm cho chúng dễ mắc bệnh tạo điều kiện cho các tác nhân phát



32



triển, đặc biệt là nấm nên việc chăm sóc, nhu cầu dinh dưỡng cũng đòi hỏi chủ vật

ni phải kỹ lưỡng. Ngồi ra, trong thực tế khảo sát, 6 con chó bị nhiễm Sarcoptes

đều thấy trên giống lơng ngắn và da nhăn, có 3 con giống Bulldog, 2 con giống Pug,

1 con giống Boxer. Có thể những nếp gấp của da là điều kiện thuận lợi cho mầm

bệnh phát triển. Điều này phù hợp với nhận định Hồ Văn Nam (1996), những điều

kiện thuận lợi cho loại bệnh này phát ra rõ rệt ở nhóm chó lơng ngắn do: chế độ

chăm sóc ni dưỡng kém, bị tắm rửa bằng nước xà phòng có nhiều làm giảm sức

đề kháng của lớp ngoài của da. Hơn nữa những giống chó lớn như Boxer,

Doberman, Roweiler, Alaska... có tốc độ tăng trưởng nhanh đòi hỏi nhu cầu dinh

dưỡng rất cao, nếu vì lý do nào đó nhu cầu này khơng được đáp ứng đầy đủ chó sẽ

suy yếu dần, và giảm sức đề kháng tạo điều kiện cho Demodex, Sarcoptes có cơ hội

gây bệnh. Nước ta thuộc khu vực nhiệt đới nên độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi

cho nấm phát triển quanh năm.

4.2 Bệnh da liên quan thiểu năng tuyến giáp trên chó

4.2.1 Tỷ lệ bệnh da liên quan thiểu năng tuyến giáp trên chó

Trong tổng số 219 con chó có biểu hiện bất thường trên lơng da lấy đi xét

nghiệm, sau khi phát hiện loại trừ 110 con bị ngoại kí sinh. Trong số chó bị bệnh da

còn lại, chúng tơi tiếp tục tiến hành lấy máu xét nghiệm 51 mẫu máu của những con

chó có nghi ngờ bệnh liên quan thiểu năng tuyến giáp thấy thì có 15 con bị bệnh da

liên quan thiểu năng tuyến giáp (tỷ lệ 29,41%). Kết quả ghi nhận của chúng tôi thấp

hơn Trần Nguyễn Quỳnh Như (2010) là 38%. Nếu xét tỷ lệ chó bị bệnh da liên quan

thiểu năng tuyến giáp trên tổng số 2.347 con chó được khảo sát thì chiếm tỷ lệ là

0,64%, kết quả khảo sát của chúng tôi cao hơn Lâm Thị Hưng Quốc (2010) là

0,39%, Milne và Hayes (1981) 0,29% và Panciera (1994) thì tỷ lệ bệnh này là 0,2%

(trích dẫn Lâm Thị Hưng Quốc, 2010). Sự chênh lệch về kết quả khảo sát tỷ lệ chó

liên quan đến chứng thiểu năng tuyến giáp với các nguyên cứu của các tác giả khác

có thể do địa điểm, thời gian khảo sát, số lượng, đặc điểm dịch tể của vùng khảo sát,

nguồn gốc thú sự hợp tác của chủ vật nuôi dẫn đến sự chênh lệch này.



33



Qua xét nghiệm cận lâm sàng cũng cho thấy số lượng lớn chó có biểu hiện

bệnh trên da có nghi ngờ nhưng không phải do thiểu năng tuyến giáp chiếm tỷ lệ

70,59%, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ chiếm 29,41%. Nhìn chung, tỷ lệ chó bệnh da liên

quan thiểu năng tuyến giáp trên số ca xét nghiệm không cao cho thấy rằng việc chẩn

đoán bệnh da liên quan thiểu năng tuyến giáp mà chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng

thì rất khó chính xác. Việc kết hợp chẩn đốn lâm sàng với các chẩn đoán hỗ trợ cận

lâm sàng như xét nghiệm nội tiết tố, đặc biệt là T4 là cần thiết (Lâm Hưng Quốc,

2010).



Hình 4.5 Rụng lơng, da gấp nếp

bệnh liên quan thiểu năng tuyến giáp



Hình 4.6 Da tăng sắc tố ở vùng đùi

ở chó bị thiểu năng tuyến giáp



Ngồi ra, bệnh khơng có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng, với các biểu hiện đa

dạng và phức tạp, rất khó chẩn đốn chính xác được giai đoạn đầu của bệnh (Lâm

Thị Hưng Quốc, 2010).



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tình hình bệnh da trên chó, bệnh da do ngoại ký sinh trùng và nấm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×