Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

đồng, gấp 1,6 lần so với năm 2009. Ngoài ra, ngành du lịch Nha Trang cũng đóng góp

một phần khơng nhỏ vào ngân sách Nhà nước và số tiền này cũng tăng dần qua các

năm. Từ đó có thể thấy rằng du lịch là một thế mạnh của thành phố Nha Trang nói

riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung.

4.2. Những đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách

4.2.1. Độ tuổi

Hình 4.1. Đồ Thị Phân theo Độ Tuổi của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Theo như Hình 4.1, độ tuổi phổ biến nhất của du khách trong và ngoài nước là

từ 20 – 40 tuổi, với tỷ lệ của khách trong nước là 63,5% và khách quốc tế là 50%. Điều

này cũng dễ hiểu vì đây là độ tuổi còn học tập, lao động, có sức khỏe, tài chính và chịu

nhiều áp lực nhất nên đi du lịch là một nhu cầu giải trí cần thiết. Tiếp theo là độ tuổi từ

41 – 60 tuổi (khách trong nước 24,3% và khách quốc tế 34,6%). Lứa tuổi này tuy

không còn trẻ trung nhưng họ có việc làm và thu nhập ổn định, thời gian đi du lịch chủ

yếu là nghỉ dưỡng hoặc cơng tác. Hai bộ phận còn lại có tỷ lệ thấp xấp xỉ nhau là độ

tuổi dưới 20 và trên 60 tuổi. Với đội tuổi dưới 20 thì có tỷ lệ của khách trong nước và

khách quốc tế lần lượt là 8,1% và 7,7%. Những người này đa số là học sinh - sinh

viên, mặc dù có đầy đủ về sức khỏe và thích phiêu lưu, khám phá nhưng còn phụ

thuộc vào tài chính của gia đình và việc học tập nên thường đi theo gia đình hoặc nhà

trường. Ở độ tuổi trên 60 (với tỷ lệ 4,1% của khách trong nước và 7,7% của khách

nước ngoài) thì nhu cầu về thư giãn là rất lớn nhưng tuổi cao, sức yếu nên đi du lịch là

tương đối. Ngồi ra, hình 4.1 còn cho thấy du khách quốc tế mặc dù tuổi càng cao (

42



>40 tuổi) nhưng vẫn đi du lịch và chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với du khách Việt (với tỷ lệ

24,3% với khách trong nước và 34,6% với khách nước ngoài trong độ tuổi từ 41 – 60

tuổi).

4.2.2. Giới tính

Hình 4.2. Biểu Đồ Phân theo Giới Tính của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Qua kết quả điều tra, tỷ lệ giới tính nam và nữ du khách trong nước là tương

đương nhau, lần lượt là 52,7% và 47,3%. Điều đó có nghĩa rằng cuộc sống hiện đại

bây giờ nam nữ bình đẳng và được hưởng những lợi ích như nhau. Tuy nhiên, ở du

khách quốc tế thì tỷ lệ giới tính nam (69,2%) cao hơn giới tính nữ (30,8%). Có thể

hiểu rằng vì đây là du lịch nước ngồi, đòi hỏi tiền bạc, thời gian và sức khỏe nhiều

hơn nên có thể người nam sẽ phù hợp hơn so với người nữ.

4.2.3. Trình độ học vấn

Hình 4.3. Đồ Thị Phân theo Trình Độ Học Vấn của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

43



Trình độ học vấn của du khách nói chung là tương đối cao, với tỷ lệ cao nhất

thuộc về trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học (63,5% đối với khách trong nước và

53,8% đối với khách nước ngồi). Ở trình độ này, du khách sẽ có những hiểu biết và

kiến thức nhất định về môi trường và sinh thái, điều đó sẽ giúp họ có thể đánh giá

chính xác được giá trị của một tài nguyên thiên nhiên và thôi thúc họ đi du lịch để tìm

hiểu và khám phá. Đứng thứ 2 là bậc học cấp 3 với tỷ lệ lần lượt theo khách trong

nước và khách nước ngoài là 16,2% và 26,9%. Tiếp theo là trình độ Sau đại học với tỷ

lệ 13,5% với du khách nội địa và 15,4% với du khách quốc tế. Thấp nhất là trình độ

Cấp 2 với tỷ lệ lần lượt là 6,8% và 3,8%. Khơng có du khách nào có trình độ Tiểu học.

4.2.4. Nghề nghiệp

Hình 4.4. Đồ Thị Phân theo Nghề Nghiệp của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Như được thể hiện ở Hình 4.4, hai ngành nghề của du khách chiếm tỷ lệ cao

nhất là Cán bộ - nhân viên và Học sinh – sinh viên. Tuy nhiên lại có sự hốn đổi vị trí

của hai ngành nghề này của du khách quốc tế và du khách nội địa với nhau. Ở khách

trong nước, Học sinh – sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất (35,1%), tiếp theo là Cán bộ nhân viên (29,7%). Điều này cũng dễ hiểu, vì Học sinh – sinh viên là những đối tượng

trẻ tuổi, ham khám phá và tìm tòi, có sức khỏe tốt đồng thời trong thời gian này là nghỉ

hè nên phần lớn sẽ tìm đến biển để thỏa sức vui chơi. Ngược lại ở du khách nước

ngồi thì Cán bộ - nhân viên lại chiếm tỷ lệ cao hơn (38,5%) so với Học sinh – sinh

viên (23,1%). Có thể vì đi du lịch ở một quốc gia khác thì Cán bộ - nhân viên sẽ có lợi

44



thế hơn về tiền bạc, đồng thời họ thường đi kết hợp với công tác hoặc nghiên cứu. Ở vị

trí thứ 3 là Doanh nhân với tỷ lệ tương đương nhau là 14,9% với khách trong nước và

15,4% với khách nước ngoài. Tuy nhiên ở các đối tượng khác thì có sự chênh lệch lớn

như: Cơng nhân và Nội trợ thì khách trong nước chiếm tỷ lệ lần lượt là 6,8% và 4,1%,

nhưng khách nước ngồi thì khơng có. Còn các du khách đã nghỉ hưu thì khách nước

ngồi chiếm tỷ lệ cao hơn (11,5%) so với khách nội địa (2,7%). Ngồi ra còn có các

ngành nghề tự do khác như: nhiếp ảnh, nhà báo…

4.2.5. Thu nhập

Thu nhập là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng đi du lịch của mỗi

người. Theo kì vọng thì những người có thu nhập cao sẽ có xu hướng đi du lịch nhiều

lần nhưng điều này cũng chưa chắc đúng vì thu nhập cao nhưng quá bận rộn với cơng

việc nên họ khơng có thời gian đi du lịch. Kết quả điều tra từ 100 du khách trong nước

và quốc tế như sau:

Hình 4.5. Đồ Thị Phân theo Thu Nhập của Du Khách Trong Nước



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp



45



Hình 4.6. Đồ Thị Phân theo Thu Nhập của Du Khách Nước Ngồi



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Bởi vì đơn vị tiền tệ giữa khách trong nước và khách nước ngoài khác nhau nên

đề tài tiến hành tổng hợp thành hai đồ thị riêng. Đối với khách trong nước, mức thu

nhập có tỷ lệ cao thứ nhất và thứ nhì là từ 2 đến bé hơn 4 triệu VNĐ (36,5%) và từ 4

đến bé hơn 6 triệu VNĐ (23%). Đối tượng có mức thu nhập này chủ yếu là sinh viên,

công nhân viên chức, người lao động chân tay… Họ là những người trẻ tuổi, có sức

khỏe, có thu nhập ổn định và có nhu cầu du lịch, tham quan cao. Ở vị trí thứ 3 là mức

thu nhập bé hơn 2 triệu VNĐ (18,9%). Mức này thường là các bạn học sinh – sinh viên

đi du lịch, nghỉ hè cùng gia đình. Tiếp theo là hai mức thu nhập: 8 đến bé hơn 10 triệu

VNĐ và lớn hơn hoặc bằng 10 triệu VNĐ với tỷ lệ lần lượt là 9,5% và 8,1%. Thấp

nhất là tỷ lệ 4,1% của mức thu nhập 6 đến bé hơn 8 triệu VNĐ. Ba mức này thuộc mức

thu nhập cao, thường thì họ thuộc giới doanh nhân, nhân viên cao cấp…nên cơng việc

của họ có thể sẽ rất bận rộn nên ít có thời gian đi du lịch. Điều này cũng tương tự với

khách quốc tế với tỷ lệ cao nhất (26,4%) thuộc về mức thu nhập từ 4.001 -6.000 USD.

Hai mức tiếp theo tỷ lệ cũng tương đương nhau là 23,9% ở mức thu nhập 2.001 –

4.000 USD và 20,1% ở mức thu nhập 0 – 2.000 USD. Ở vị trí thứ 4 là mức thu nhập

6.001 – 8.000 USD với tỷ lệ 15,4%. Hai vị trí cuối cùng thuộc về 2 mức thu nhập lớn

hơn 10.000 USD (7,7%) và từ 8.001 – 10.000 USD (6,5%).



46



4.3. Nhu cầu, hành vi của du khách

4.3.1. Nơi xuất phát

Hình 4.7. Biểu Đồ Phân theo Nơi Xuất Phát của Du Khách Trong Nước



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Hình 4.6 cho thấy đa số du khách trong nước đến từ các tỉnh Trung Bộ và Tây

Nguyên (47,3%), vì bãi biển Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm trong khu vực này

nên rất thuận lợi trong việc đi lại. Tiếp theo là khu vực Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao thứ 2

(39,2%), phần lớn là từ Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai….và cuối cùng là các tỉnh

khu vực Bắc Bộ với tỷ lệ là 13,5%.

Hình 4.8. Biểu Đồ Phân theo Nơi Xuất Phát của Du Khách Nước Ngồi



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Theo như Hình 4.7, tỷ lệ du khách đến từ các nước châu Âu chiếm tỷ lệ cao

nhất (50%), đặc biệt là du khách Nga vì bắt đầu vào tháng 04/2013, Vietnam Airlines

đã mở một đường bay thẳng từ sân bay Domodedovo thuộc Mat-xco-va, Nga đến sân

bay Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa, vì thế rất thuận tiện cho du khách Nga đi du lịch

tại đây mà không phải mất quá nhiều thời gian và chi phí. Tiếp theo là du khách đến từ

châu Mỹ với tỷ lệ 30,8% và cuối cùng là châu Á – Thái Bình Dương (19,2%).

47



4.3.2. Số lần đến Nha Trang

Hình 4.9. Đồ Thị Phân theo Số Lần đến Nha Trang



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Đồ thị Hình 4.9 cho thấy du khách trong nước và du khách quốc tế có sự khác

biệt về số lần tới Nha Trang. Phần lớn du khách nội địa được hỏi đều cho biết họ mới

tới Nha Trang chỉ từ 1 – 3 lần (81,1%) và tỷ lệ này giảm dần với nhóm du khách đến 4

– 6 lần (14,9%) và nhóm đến nhiều hơn 7 lần chỉ còn tỷ lệ 4,1%. Với du khách nước

ngồi thì ngược lại, tỷ lệ cao nhất thuộc về nhóm du khách đến Nha Trang từ 4 – 6 lần

(38,5%), tiếp theo là đến nhiều hơn 7 lần chiếm tỷ lệ 34,6% và cuối cùng là đến từ 1 –

3 lần chiếm 26,9%. Qua đây có thể thấy rằng biển Nha Trang rất có sức hút với du

khách quốc tế và vì vậy các cơ quan chính quyền địa phương cần phải khai thác một

cách hiệu quả yếu tố này.

4.3.3. Hình thức tổ chức

Hình 4.10. Đồ Thị Phân theo Hình Thức Tổ Chức Du Lịch của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

48



Hình 4.10 cho thấy hình thức du khách tự sắp xếp, tổ chức đi du lịch chiếm tỷ

lệ cao nhất với 81,6% ở khách nước ngoài và 59,5% ở khách trong nước. Điều này là

phù hợp với thực tế, bởi phần lớn du khách, đặc biệt là khách trẻ tuổi và khách nước

ngoài rất chủ động trong việc sắp xếp chuyến đi. Họ muốn được khám phá và trải

nghiệm thông qua những chuyến “phượt” mà khơng phải mất q nhiều chi phí. Hiện

tại, du lịch “phượt” như trên đang là một xu hướng của giới trẻ quốc tế và hình thức

này cũng đang dần thâm nhập vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam rất hưởng ứng.

Điều đó cũng lí giải vì sao khơng có một du khách quốc tế nào đi du lịch theo tour của

công ty lữ hành, trong khi tỷ lệ này lại chiếm 21,5% ở du khách trong nước. Những du

khách đi theo tour thường là những người trung niên, người cao tuổi hoặc là những

người có mức sống cao… Còn về hình thức Cơ quan, tập thể tổ chức thì chỉ chiếm tỷ

lệ nhỏ, với 11,4% ở khách nội địa và 11% ở khách quốc tế.

4.3.4. Số người đi trong nhóm

Hình 4.11. Đồ Thị Phân theo Số Người Đi Trong Nhóm



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Như đã thấy ở Hình 4.11, tỷ lệ du khách đi trong nhóm ít hơn 5 người là cao

nhất, với 45,9% ở khách trong nước và 73,1% ở khách nước ngồi. Nhóm này thường

đi một cặp hoặc một mình để có thể tự do hoạt động, trải nghiệm. Tỷ lệ cao thứ 2 có sự

khác biệt, đó là nhóm 5 – 10 người đối với khách trong nước ở tỷ lệ 32,4% và nhóm

nhiều hơn 10 người đối với khách nước ngoài ở tỷ lệ 19,2%. Sự khác biệt này có thể

hiểu rằng du khách quốc tế hoặc là đi chung với một tổ chức, tập thể ( thường là giáo

dục) hoặc đi một mình đối với những người thích độc lập và khơng muốn ràng buộc

thời gian. Và tỷ lệ thấp nhất thuộc về nhóm nhiều hơn 10 người ở khách trong nước

(21,6%) và nhóm từ 5 -10 người ở khách nước ngồi (7,7%).

49



4.3.5. Thời gian lưu trú

Thời gian lưu trú của du khách được thể hiện ở Hình 4.12. Qua đó có thể thấy

điểm chung giữa du khách trong nước và du khách quốc tế là tỷ lệ tăng đều theo thời

gian lưu trú. Tuy nhiên, ở khách nước ngồi thì họ lưu trú từ 2 ngày trở lên, bởi vì

chuyến đi của họ thường là kì nghỉ dài ngày, còn khách trong nước chỉ lưu trú trong 1

ngày thường là từ các tỉnh lân cận với Khánh Hòa như Phú Yên, Ninh Thuận…Cụ thể,

thời gian lưu trú của khách trong nước là 1 ngày với tỷ lệ 16,2%; 2 ngày là 23%; 3

ngày là 28,4% và nhiều hơn 3 ngày là 32,4%. Còn với du khách quốc tế thì tỷ lệ là

11,5% khi lưu trú 2 ngày; 26,9% khi lưu trú 3 ngày và 61,5% khi lưu trú nhiều hơn 3

ngày.

Hình 4.12. Đồ Thị Phân theo Thời Gian Lưu Trú của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp



50



4.3.6. Lý do du lịch đến Nha Trang

Hình 4.13. Đồ Thị Phân theo Lý Do của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Theo kết quả điều tra, phần lớn du khách trong nước đến Nha Trang là để tham

quan và nghỉ dưỡng, với tỷ lệ là 71,3% vì thành phố biển này là nơi hội tụ của “Thiên

thời, địa lợi, nhân hòa”, đặc biệt đối với những ai yêu thích nắng vàng – biển xanh –

cát trắng thì đây là một địa điểm lý tưởng để nghỉ ngơi và khám phá. Những lý do còn

lại chiếm tỷ lệ khơng cao, chẳng hạn như thăm bạn bè, người thân chiếm 12,6%; hội

nghị, hội thảo chiếm 4,6%; thương mại chiếm 3,4%; tham gia lễ hội chiếm 2,3%; lý do

khác như khám bệnh, xét nghiệm tại Viện Pasteur…chiếm 5,7%. Còn đối với du khách

quốc tế thì ngồi lý do tham quan, nghỉ dưỡng chiếm 33,3% thì họ còn đi du lịch đến

Nha Trang để tìm hiểu về văn hóa, lịch sử tại địa phương, và đặc biệt trong thời gian

làm đề tài thành phố Nha Trang đang diễn ra Lễ hội Tháp bà Ponagar và Festival Biển

Nha Trang 2013. Vì vậy du khách quốc tế đến Nha Trang để tham gia lễ hội chiếm tỷ

lệ cao thứ nhì là 27,8%. Ngồi ra còn có các lý do khác như thăm bạn bè, người thân

chiếm 19,4%; thương mại, hội nghị - hội thảo lần lượt chiếm tỷ lệ là 5,6% và 2,8%.

4.3.7. Phương tiện du lịch



51



Hình 4.14. Đồ Thị Phân theo Phương Tiện Du Lịch của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp

Hình 4.14 cho thấy phương tiện du lịch của khách quốc tế từ đất nước họ sang

Nha Trang chủ yếu là máy bay (77,4%), tiếp theo là tàu hỏa (16,1%) và xe khách

(6,5%). Còn đối với khách trong nước thì phương tiện đa dạng hơn. Chiếm tỷ lệ cao

nhất là xe du lịch (26,1%), tiếp theo là xe khách (21,6%). Xe máy và tàu hỏa cũng

đồng xếp hạng thứ 3với tỷ lệ 18,2%. Tiếp theo là máy bay và xe hơi cá nhân với tỷ lệ

lần lượt là 8% và 6,8%.

4.3.8. Tham gia hoạt động bãi biển

Hình 4.15. Đồ Thị Phân theo Hoạt Động Bãi Biển của Du Khách



Nguồn: Tính tốn – tổng hợp



52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×