Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Sản phẩm Enzyme hỗn hợp là p



hức hợp đa enzyme gồm β-glucanase,



mannanase, protase, xylanase, pectinase, cellulase.

- Sản phẩm Enzyme Mannanase

3.2.2.2 Lấy mẫu

Mẫu được lấy từ các nhà máy chế biến thức ăn và các công ty cung cấp chất

bổ sung . Tất cả có 05 mẫu sản phẩm enzyme



có chứa mannanase thuần hoặc



mannanase kết hợp với các enzyme tiêu hoá khác . Do tính chất tế nhị của sự cạnh

tranh thương mại trên thị trường nên các mẫu sản phẩm enzyme thu được sẽ được

mã hoá theo quy luận tự đặt bằng cá c ký tự A , B, C, … không có liên quan gì đến

tên sản phẩm và trong phần kết quả sẽ chỉ trình bày số liệu theo tên sản phẩm đã

được mã hoá.

3.2.3 Thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

Các thiết bị , dụng cụ , hoá chất cần thiết cho quy trình đánh giá hoạt lực

enzyme mannanase và quy trình chi tiết được trình bày trong phần phụ lục.

3.2.4 Phương pháp phân tích

3.2.4.1 Lập đường chuẩn và phân tích hoạt lực enzyme tinh chất

 Nguyên tắc

Mannan được thủy phânoligosaccharide và monosaccharide bởi mannanase,

cả oligosaccharide và lượng đường khử bị tác động bởi DNS (3-5 dinitrosalicylic

acid) trong nước sôi. Trong phản ứng tạo màu này, mức độ màu tỷ lệ thuận với

lượng đường được khử bởi mannanase, vì vậy có thể xác định được hoạt lực của

mannanase. Phân tích cường độ màu sắc, từ đó hoạt lực của mannanase có thể được

tính tốn.

Định nghĩa đơn vị enzyme: một đơn vị mannanase được định nghĩa là lượng

enzyme cần thiết để giải phóng 1µmol đường khử từ 3 mg/ml dung dịch Mannan

trong một phút với điều kiện pH= 5,5 và 37oC.

 Chuẩn bị hóa chất được sử dụng

 Lập đường chuẩn



11



Nồng độ



Độ hấp phụ



Hình 3.1: Đường chuẩn được lập ngày 17/06/2013 (DNS ngày 10/06/2013)

 Xác định hoạt lực enzyme tinh chất

Chuẩn bị mẫu enzyme cần phân tích

Đo hoạt lực enzyme ghi nhận kết quả

3.2.4.2 Phương pháp phân tích hoạt lực enzyme mannanase dưới ảnh hưởng

của ba mức nhiệt độ

Vì trong phạm vi phòng thí nghiệm , không thể đưa enzyme vào thức ăn sản

xuất như thực tế ở nhà máy sản xuất thức ăn nên chúng tôi sử dụng tủ sấy để tạo ra

các điều kiện nhiệt độ 70, 75 và 800C, mỗi mức nhiệt độ này sẽ kéo dài trong ba

quãng thời gian 15s, 20s và 30s (thí nghiệm hai yế u tố) là những điều kiện thường

hay diễn ra trong dây chuyền sản xuất thức ăn viên của nhà máy thức ăn (ở khâu hồ

hoá và ép viên ). Chọn 3 mẫu sản phẩm enzyme được sử dụng phổ biến trên thị

trường. Cho các mẫu enzyme vào tủ sấy sấy ở 03 mức nhiệt độ 70, 75 và 800C. Mỗi

mức nhiệt độ sấy với 03 mức thời gian khác nhau là 15s, 20s và 30s. Sau đó đem

các mẫu enzyme ra và phân tích hoạt lực giống như phân tích hoạt lực ở enzyme

thuần. Với mỗi mẫu tiến hành lặp lại 05 lần và ghi nhận kết quả.



12



3.2.4.3 Phương pháp phân tích hoạt lực enzyme mannanase dưới sự ảnh hưởng

của 03 mức pH

Khi sử dụng enzyme trong thức ăn chăn nuôi thì sản phẩm enzyme này sẽ

phải chịu tác động của các mức pH khác nhau trong đường tiêu hoá . Có thể là pH

khoảng 3 ở dạ dày trước khi lên đến 4 - 5 ở tá tràng là nơi mà xem như các enz yme

sẽ có tác động mạnh nhất trên cơ chất và liên quan nhiều nhất đến khả năng tiêu hoá

thức ăn. Vì vậy trong thí nghiệm nhỏ này chọn 03 mức pH tác động vào sản phẩm

enzyme để đánh giá hoạt lực là pH



= 5,5; pH = 4; và pH = 3. Chọn 03 mẫu sản



phẩm enzyme đang được dùng phổ biến ở thị trường để đưa vào thí nghiệm . Dùng

dung dịch buffer(dung dịch đệm acetate-sodium acetate) đã được chuẩn độ về các

mức pH là 3,4 và 5.5 để tạo các môi trường khác nhau, cho enzyme vào các dung

dịch buffertrên và cho tác động trong 30 phút trên máy lắc. Sau đó phân tích hoạt

lực của các mẫu enzyme này giống phương pháp phân tích hoạt lực enzyme thuần,

ghi nhận kết quả.

3.2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả số liệu thu thập được lưu trữ bằng phần mềm excel , rồi sau đó dùng

phần mềm thống kê Minitab 16 tính tốn các tham sớ thống kê , cũng như dùng trắc

nghiệm F và trắc nghiệm Tukey để so sánh các số liệu trung bình từ những thí

nghiệm nhỏ nêu trên.



13



Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Sau thời gian tiến hành và theo dõi thí nghiệm chúng tơi thu được một số kết

quả như sau:

4.1 Hồn chỉnh quy trình xác định hoạt lực enzyme mannanase tinh chất

4.1.1 Lập đường chuẩn

Nồng độ



Độ hấp phụ



Hình 4.1: Đường chuẩn được lập ngày 04/03/2013 (DNS ngày 22/02/2013)

Đường chuẩn trên được lập ngày 04/03/2013 với DNS pha ngày 22/02/2013

và được sử dụng trong quá trình hồn chỉnh quy trình xác định hoạt lực enzyme và

phân tích hoạt lực của một số enzyme tinh chất khác.

DNS là dung dịch tạo màu của phản ứng enzyme. Khi enzyme mannanase tác

động lên cơ chất mannan ở điều kiện nhiệt độ 37 oC và pH = 5,5 enzyme sẽ phân

giải mannan để tạo ra đường đơn glucose. Glucose tạo ra đó sẽ tác dụng với dung

dịch DNS làm đổi màu dung dịch DNS. Dung dịch đổi màu càng đậm thì lượng

glucose sinh ra càng nhiều. Vì vậy trong quá trình thực hiện phản ứng enzyme cần

phải có DNS. Sau khi đọc kết quả bằng máy so màu cần có phương trình hồi quy



14



của lượng đường glucose để từ đó mới có thể tính ra hoạt lực enzyme, DNS ảnh

hưởng đến kết quả enzyme nên mỗi lần pha DNS phải tiến hành làm lại đường

chuẩn để có được phương trình hồi quy của DNS đó. Khi pha DNS cần phải có

dụng cụ, máy móc và dụng cụ chứa đựng, DNS bị tác động bởi ánh sáng nên trong

quá trình sử dụng lâu dài thì sẽ có những thay đổi nhất định cho dù đã bảo quản ở

điều kiện tối và vì trong q trình làm chúng tơi khơng thể tính tốn chính xác được

phải dùng hết bao nhiêu thể tích DNS nên chúng tôi quyết định mỗi lần pha từ 2000

ml - 3500 ml để sử dụng.



Nồng độ



Độ hấp phụ



Hình 4.2: Đường chuẩn được lập ngày 12/07/2013 (DNS ngày 25/06/2013)

Với mỗi lần pha DNS đường chuẩn được lập lại 1 lần, đường chuẩn trên

được lập ngày 12/07/2013 (R=0.0998), DNS pha ngày 25/06/2013 và được sử dụng

trong quá trình xác định hoạt lực enzyme khi có tác động của pH và nhiệt độ.

Trên các biểu đồ trục hồnh chính là độ hấp phụ đo được bằng máy so màu,

trục tung là nồng độ glucose.

Các đường chuẩn glucose đều có R2 = 0,999, các phương trình có hệ số gần

gần nhau nhưng vẫn có những sai khác nhất định chứng tỏ sai sót trong q trình

pha DNS, vì vậy mỗi lần pha DNS mới đều phải làm lại đường chuẩn glucose vì



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×