Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Quan sát và ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng sau khi công cường độc với chủng vi-rút PRRS thực địa dị chủng

1 Quan sát và ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng sau khi công cường độc với chủng vi-rút PRRS thực địa dị chủng

Tải bản đầy đủ - 0trang

điểm ở ngày thứ 7 sau khi công là 41,10C. Sau đó duy trì tình trạng sốt đến ngày thứ

10. Vì triệu chứng bệnh của heo ở lơ đối chứng chuyển biến xấu, heo xuất hiện triệu

chứng khó thở, suy kiệt nặng và có dấu hiệu sắp chết nên chúng tôi tiến hành mổ khám

vào ngày thứ 4, thứ 6, và thứ 11 sau khi cơng độc.

Trong khi đó ở lơ thí nghiệm tình trạng heo diễn biến theo chiều hướng tích

cực hơn: sau ngày thứ 2 heo cũng có triệu chứng sốt (40,20C); đạt đỉnh điểm là 40,60C

vào ngày thứ 5 nhưng thân nhiệt trung bình của heo sau đó giảm dần và sau ngày cơng

độc thứ 11 thân nhiệt luôn dưới 400C.

Đối với heo giám sát cũng ghi nhận được tình trạng thân nhiệt tương tự như đối

với heo ở lơ vắc- xin từ đây ta có thể thấy được heo vẫn bị nhiễm một lượng vi-rút từ

các heo ở lơ thí nghiệm bài thải một cách từ từ gây ra phản ứng sốt, nhưng do ban đầu

cơ thể heo đã có mức kháng thể cần thiết nên có thể lướt qua bệnh và có dấu hiệu phục

hồi tốt.

Kết quả phân tích phần mềm Minitab16.1 cho thấy nhiệt độ trung bình của của

heo lơ đối chứng là 40,40C (SD = 0,74), heo ở lô được tiêm vắc-xin là 39,880C (SD=

0,48) và sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,033).

Qua kết quả ghi nhận có thể thấy khi cơng cường độc sự tác động của vi-rút đã

làm cho heo ở lô đối chứng và lơ thí nghiệm đều bị sốt. Nhưng ban đầu cơ thể heo ở lô

đối chứng không tạo ra được miễn dịch, thêm vào đó heo bị tái nhiễm với vi-rút được

bài thải ra ngồi mơi trường đã gây ra tình trạng sốt dai dẳng trên heo. Đối với lơ thí

nghiệm ban đầu heo đã có được mức kháng thể cần thiết nên heo đã lướt qua được

bệnh và có dấu hiệu phục hồi tốt.

4.1.2 Lượng thức ăn trung bình mỗi ngày

Vào mỗi buổi sáng cân khoảng 5kg thức ăn sau đó cho một phần thức ăn vào máng ăn

tự động. Lượng ăn vào hàng ngày được xác định bằng cách lấy tổng lượng thức ăn

trước khi cho ăn trừ đi lượng thức ăn còn lại cuối ngày, kết quả ghi nhận được biểu

hiện qua biểu đồ 4.2.

Trước khi công cường độc lượng thức ăn ở lô đối chứng là 1,4 kg/ con, lượng thức ăn

ở lơ thí nghiệm là 1,1 kg/con.



22



Sau khi công độc, chỉ sau ngày đầu tiên cơng độc lượng thức ăn đã có sụt giảm

nhiều từ 1,1 kg/ con giảm xuống còn 0,1 kg/ con ở ngày đầu tiên và thấp nhất là 0,06

kg/con/ngày vào ngày thứ 10 sau khi cơng cường độc và khơng có dấu hiệu phục hồi.

Ở lơ thí nghiệm sau khi cơng vẫn duy trì được lượng thức ăn 1,1 kg/con đến ngày thứ

2 sau khi công, sụt giảm thức ăn được ghi nhận ở ngày thứ 4 đến ngày thứ 10 sau khi

cơng độc (từ 1,1 kg/con/ngày giảm còn 0,6kg/con/ngày) và lượng thấp nhất được ghi

nhận là 0,3kg/ con/ngày. Nhưng giữa những đợt sụt giảm vẫn có những đợt tăng nhẹ

và sau giai đoạn này lượng thức ăn tăng dần lên và thậm chí vượt qua thời kì bắt đầu

ni. Đây cũng là một phần của hệ quả của thân nhiệt tăng cao và sự tác động của virút huyết, nhưng cũng tương ứng với sự phục hồi của thân nhiệt, heo cũng đã vượt qua

giai đoạn này và đã ăn được trở lại.

Đối với heo giám sát được nuôi chung với lơ thí nghiệm nên khơng thể tính

chính xác lượng thức ăn. Nhưng theo dõi gián tiếp qua triệu chứng ghi nhận được có

sự bỏ ăn ở ngày thứ 6 sau khi công độc, nhưng đến ngày thứ 7 đã bắt đầu ăn lại được.

Từ đây ta có thể thấy được khi lượng vi-rut được đưa vào cơ thể heo một cách từ từ

làm thể trạng heo phục hồi nhanh theo chiều hướng tích cực.

Trung bình lượng ăn vào hàng ngày của heo ở lô đối chứng là 0,275kg

(SD=1,32) trong khi ở lô heo được tiêm vắc-xin là 0,967 (SD= 1,2) và sự khác biệt này

rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,000).



Biểu đồ 4.2 Trung bình thức ăn ngày giữa hai lơ thí nghiệm

Ở đây ta có thể thấy được tương ứng với tình trạng tăng cao của thân nhiệt lượng thức

ăn tiêu thụ ở lô đối chứng và vắc-xin đều có sự sụt giảm, nhưng so với lơ thí nghiệm

lượng thức ăn ở lơ đối chứng giảm đột ngột và lượng thức ăn ở mức thấp nhất chỉ bằng

20% so với lơ thí nghiệm.

23



4.1.3 Các biểu hiện lâm sàng khác

Trước khi công cường độc tất cả các heo được quan sát và ghi nhận triệu chứng

lâm sàng vào lúc 7 giờ 30, 11 giờ 30 và 5 giờ 30. Sau khi công cường độc thời gian

theo dõi triệu chứng dài và thường xuyên hơn: từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30, từ 13 giờ 30

đến 17 giờ 30, và từ 17 giờ 30 đến 19 giờ 30 nhằm nắm bắt kịp thời các biểu hiện của

heo.

Trước khi công cường độc heo ở lô đối chứng lanh lợi, ăn khỏe, khơng có triệu

chứng hơ hấp, tiêu hóa, thân nhiệt nằm ở mức bình thường, trong khi đó heo ở lơ thí

nghiệm ban đầu nhạy cảm với sự thay đổi môi trường kém lanh lợi hơn không ghi

nhận được các triệu chứng bất thường về hô hấp và tiêu hóa.

Sau khi cơng cường độc, sự tác động của vi-rút nhanh chóng làm thể trạng heo ở lơ

đối chứng nhanh chóng suy yếu, kém linh hoạt, kết hợp với nhiệt độ tăng cao heo có

những biểu hiện run từng cơn, hoặc nằm đừ, tiểu tiện tại chỗ. Ghi nhận về các biểu

hiện lâm sàng về hô hấp ngày càng nặng nề: ban đầu là chảy nước mũi trong chuyển

sang đục và xanh, nước mũi đặc, các ngày sau đó heo bắt đầu thở gấp, gắng sức, ho

khan dẫn đến nơn ói. Do thể trạng heo suy yếu nặng nề và có dấu hiệu sắp chết nên

chúng tơi đã tiến hành mổ khám 3 heo ở ngày thứ 4, ngày thứ 6 và ngày thứ 11 sau

khi công cường độc. So sánh với kết quả của Nguyễn Hữu Long (2013) “ heo xuất

hiện triệu chứng suy kiệt vào thứ 4 “triệu chứng lâm sàng của heo đối chứng nặng hơn

và sớm hơn.

Ở lơ thí nghiệm ở những ngày đầu tiên cũng ghi nhận được các triệu chứng tiêu

biểu như đối với lơ đối chứng: sốt cao, thở khó, ho làm cho thể trạng heo bị ảnh

hưởng ở những ngày đầu sau khi công cường độc. Sau ngày thứ 5 sau khi công độc

mới ghi nhận được sự suy yếu về thể trạng của heo. Nhưng sau đó 3 heo 12, 14, 87 có

thể trạng suy yếu nhất lại có sự phục hồi đáng kể vào ngày thứ 9 sau khi công độc:

heo đã trở nên lanh lợi và lượng thức ăn tăng dần lên. Từ sự phục hồi này cho ta thấy

được nhóm heo tiêm vắc-xin có biểu hiện tích cực hơn so với nhóm heo lơ đối chứng.

Với heo giám sát được ni chung với nhóm vắc- xin chỉ xuất hiện triệu chứng

ho, chảy nước mũi đặc và nổi mẩn đỏ ở mức độ nhẹ hơn với lơ thí nghiệm, và heo có

sự phục hồi tích cực ở ngày thứ 12 sau khi công cường độc. Từ đây có thể thấy heo có

những phục hồi tích cực trước tác động của vi-rút.

24



Từ những kết quả ghi nhận được từ triệu chứng, thân nhiệt, lượng thức ăn tiêu

thụ ta thấy được ban đầu ở hai lơ đều có sự gia tăng về thân nhiệt, lượng thức ăn sụt

giảm và xuất hiện những triệu chứng của bệnh. Ở lô đối chứng những triệu chứng này

không phục hồi và làm heo suy kiệt nhanh chóng. Đối với lơ thí nghiệm ghi nhận

được tình trạng phục hồi tích cực. Heo giám sát có biểu hiện nhẹ hơn so với lơ thí

nghiệm và sự phục hồi tốt.



Heo bỏ ăn



Heo phục hồi sau thời gian bệnh



Hình 4.3 Biểu hiện heo sau khi cơng cường độc

Bảng 4.1 Tổng hợp các biểu hiện lâm sàng xuất hiện ở hai lơ thí nghiệm và heo giám

sát

Lơ đối chứng



Lơ được tiêm



Giám sát



(%)



vắc-xin(%)



(%)



Sốt cao (>410C)



+++



+



-



Khó thở



+++



++



-



Ho



+++



++



+



Chảy nước mũi



++



++



+++



Nổi mẩn đỏ



+



+++



++



Xuất huyết da



++



+



-



Các biểu hiện lâm sàng



+ ++, ++, + mức độ biểu hiện nặng nhẹ tự đánh giá; - Không biểu hiện

4.2 Đáp ứng kháng thể kháng bệnh PRRS sau cơng cường độc



25



Heo thí nghiệm được lấy máu vào các thời điểm trước khi công và 3 ngày, 7 ngày, 10

ngày, 28 ngày sau khi cơng. Sau đó được kiểm tra kháng thể để theo dõi đáp ứng miễn

dịch. Kết quả ghi nhận được được thể hiện ở phụ lục 3 và biểu đồ 4.4



Biểu đồ 4.4 Chỉ số S/P trước và sau khi công độc

Ở lô đối chứng từ trước khi công cường độc đến ngày thứ 3 sau khi công cường

độc không phát hiện mức kháng thể tăng trong cơ thể, từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7

mức kháng thể tăng từ S/P=0 đến S/P=0,5, và tăng nhẹ đến ngày thứ 10 là 0,729. Từ

mức kháng thể trên ta thấy heo có đáp ứng kháng thể với với vi-rút được công cường

độc. Và mức kháng thể được phát hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 10 phù hợp với giả

thiết của Murtaugh và cs, 2002:” kháng thể chỉ xuất hiện từ ngày 7 đến ngày 14 sau

khi nhiễm bệnh”. Từ đây ta có thể thấy phản ứng ELISA chỉ có thể phát hiện được

lượng kháng thể tổng, do điều kiện không cho phép và cơ thể heo suy kiệt nhanh

chóng nên khơng thể tiến hành các phương pháp để xác định mức kháng thể trung

hòa.

Trước khi bắt đầu cơng tất cả heo được tiêm vắc-xin trong cơ thể heo có mức

kháng thể tổng S/P= 2,44 cho thấy được ban đầu heo được tiêm vắc-xin, đã hình thành

miễn dịch trước khi cơng, tạo ra miễn dịch nhớ, khi tiếp xúc với vi- rút đã tăng đáp

ứng miễn dịch, làm cho mức kháng thể tổng tăng cao là S/P =3,71 và tăng nhẹ đến

S/P= 3.89 ở ngày thứ 10. Nhưng từ ngày thứ 10 đến ngày 28 mức kháng thể giảm từ

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Quan sát và ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng sau khi công cường độc với chủng vi-rút PRRS thực địa dị chủng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×