Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Kết quả về tăng trọng

1 Kết quả về tăng trọng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Kết thúc thí nghiệm, trọng lượng sơ sinh của lơ I và lô II lần lượt là 1,58 và

1,59 kg/con. Sự chênh lệch về trọng lượng của 2 lô là 0,01 kg/con. Tuy nhiên sự

khác biệt trên khơng có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Điều này cho thấy sự

lựa chọn heo con thí nghiệm ở cả 2 lô là tương đối đồng đều về trọng lượng. Theo

tiêu chuẩn của trại thì trọng lượng bình quân heo sơ sinh phải đạt 1,4 kg/con nên

trọng lượng sơ sinh ở 2 lơ thí nghiệm đều đạt u cầu. Trọng lượng bình qn sơ

sinh mà chúng tơi ghi nhận được tương đương với Huỳnh Trần Đạt (2005) tại trại

chăn nuôi heo Hưng Việt là 1,60 kg/con, thấp hơn của Đặng Thị Ngọc Thắm ở lơ

thí nghiệm và lơ đối chứng lần lượt là 1,62 kg/con và 1,64 kg/con, và cao hơn của

Nguyễn Thị Tuyết Linh (2005) tại Trại II thuộc Xí Nghiệp Chăn Ni Heo Gò Sao

là 1,51 kg/con và Võ Thị Mỹ Linh (2007) là 1,43 kg/con.

Qua bảng 4.2 và biểu đồ 4.1 ta thấy được trọng lượng bình quân cai sữa lúc

21 ngày tuổi của lô I (6,4 kg/con) cao hơn so với lô II (6,28 kg/con), chênh lệch

trọng lượng lúc 21 ngày tuổi giữa 2 lô là 0,12 kg/con. Sự khác biệt giữa 2 lơ khơng

có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Theo Nguyễn Ngọc Tuân và ctv (2000),

trọng lượng heo con ở 3 tuần tuổi được xếp hạn như sau:

Kém khi: < 4,1 kg/con.

Trung bình: 4,1 - 5,45 kg/con.

Tốt: > 5,45 kg/con.

Kết quả trọng lượng bình qn cai sữa của cả 2 lơ đều đạt loại tốt (> 5,45 kg).

Kết quả của chúng tôi cao hơn so với kết quả khảo sát của Võ Thị Mỹ Linh (2007)

là 5,99 kg/con.

Qua bảng 4.1 ta thấy được các kết quả tăng trọng của lô I đều cao hơn lơ II.

Tăng trọng tồn kỳ của lơ I cao hơn lô II là 0,07 kg/con (4,84 kg/con so với 4,77

kg/con), tăng trọng ngày bình qn của lơ I cao hơn lô II là 3,45 g/con/ngày

(230,46g/con/ngày so với 227,01 g/con/ngày). Tuy nhiên sự khác biệt này khơng có

ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Kết quả khảo sát của chúng tôi cao hơn của

Biện Tuấn Du (2007) tại trại heo Kim Long, tỉnh Đồng Nai là 220,23 g/con/ngày.

Theo chúng tôi kết quả khảo sát khác nhau là trọng lượng sơ sinh trong khảo sát của



24



Biện Tuấn Du thấp hơn trọng lượng sơ sinh của chúng tôi (1,387 kg/con), do quy

trình chăm sóc, thức ăn cho heo con, thuốc điều trị bệnh ... ở 2 trại khác nhau nên

tăng trọng khác nhau.

Qua bảng 4.1 ta thấy số heo cai sữa ở 2 lơ trong thí nghiệm đều bị giảm đi so

với số heo con nuôi ban đầu. Đó là do trong thời gian tiến hành thí nghiệm có 3 con

chết, trong đó có 1 con ở lơ I và 2 con ở lô II, heo con chết khoảng 1 - 5 ngày đầu

sau sinh và đều do bị heo mẹ đè. Nên các kết quả tính tốn tình hình tiêu chảy

chúng tơi sẽ khơng tính số heo con chết này vì khơng ảnh hưởng đến số con tiêu

chảy. Do đố số con theo dõi trong khảo sát của chúng tôi sẽ là: lô I là 53 con, lơ II là

50 con.

4.2 Kết quả về tình hình bệnh

4.2.1 Tình hình tiêu chảy

Bảng 4.2 Tình hình bệnh tiêu chảy của 2 lô

Chỉ tiêu



Lô I



Lô II



Số con khảo sát (con)



53



50



Số con tiêu chảy (con)



21



19



Tỷ lệ tiêu chảy (%)



39,62



38



Số ngày con nuôi (ngày)



1386



1308



Số ngày con tiêu chảy (ngày)



30



26



Tỷ lệ ngày con tiêu chảy (%)



2.16



1.99



P



> 0,05



> 0,05



Kết thúc thí nghiệm chúng tơi nhận thấy tỷ lệ heo con tiêu chảy của lô II

(38%) thấp hơn so với lô I (39,62%),chênh lệch về tỷ lệ tiêu chảy của 2 lô là 1,62%.

Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô II (1,99%) thấp hơn 0,17% so với lô I (2,16%).Điều

cho cho thấy khả năng của việc sử dụng chế phẩm Gentaferol đã làm giảm tỷ lệ tiêu

chảy trong giai đoạn sơ sinh đến cai sữa. Nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa về

mặt thống kê (P > 0,05). Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của chúng tôi cao hơn của

Nguyễn Nhật Trường (2012) tại một trại heo ở Bình Dương là 1,62% và thấp hơn

với kết quả khảo sát của Hồ Lê Thanh (2009) tại một trại heo ở Đồng Nai là 4,91%.



25



Tỷ lệ tiêu chảy ở lô I và lô II của chúng tôi cao hơn kết quả khảo sát của

Nguyễn Quang Thanh (2006) là 10,03 % và 11,19 % về việc so sánh hiệu quả của 2

nhóm: nhóm I là tiêm sắt cho heo con bằng 1 liều duy nhất 2ml/con vào lúc 3 ngày

tuổi, nhóm II là tiêm sắt bằng 2 liều: 1 liều vào ngày thứ 3 và 1 liều vào ngày thứ 10

sau sinh (1ml/liều/con). Tỷ lệ tiêu chảy của nhóm I thấp hơn nhóm II 1,16 %

(10,03 % so với 11,19 %). Qua các kết quả khảo sát của Nguyễn Quang Thanh

(2006) cho thấy việc tiêm sắt với 1 liều duy nhất tốt hơn việc tiêm bằng 2 liều. Điều

này cho ta thấy được việc nếu càng giảm tần số tiêm thuốc trên heo con thì có thể

làm hạn chế được bệnh tật cho heo con. Nếu cho heo con uống thay vì tiêm tức là

đã giảm được 1 mũi tiêm cho heo con và có thể sắt đường uống được hấp thu tốt

hơn đường tiêm nên sức đề kháng cơ thể cũng tốt hơn, hạn chế sự xâm nhiễm của

vi sinh vật gây bệnh, đồng thời còn giảm đau, giảm stress. Và qua tỷ lệ tiêu chảy

trên 2 lơ thí ngiệm của chúng tơi ta cũng có thể thấy được điều đó. Kết quả khảo sát

tiêu chảy của chúng tôi lại thấp hơn kết quả khảo sát của Bùi Chí Hiếu là 59,80 %,

thấp hơn của Hồ Lê Thanh (2009) tại trại Thiện Tân, tỉnh Đồng Nai là 41,48 %, cao

hơn của Đỗ Văn Vũ (2012) là 32,10 %, và Tô Nguyễn Xuân Phong (2010) là

29,71% khảo sát tại một trại ở Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

4.2.2 Tỷ lệ tiêu chảy theo giai đoạn tuổi

Bảng 4.3 Tỷ lệ tiêu chảy theo giai tuổi

Giai đoạn (ngày tuổi)

1-7



8 – 19



20 - 28



Lô I



Lô II



Lô I



Lô II



Lô I



Lô II



Số con nuôi



53



50



53



50



53



50



Số con tiêu chảy (con)



7



6



11



9



4



4



13,21



12



20,75



18



7,75



8



Chỉ tiêu



Tỷ lệ tiêu chảy (%)

P



> 0,05



> 0,05



26



> 0,05



Tỷ lệ (%)

25

20,75



20

15



18

13,21



12



10



7,75 8



Lô I

Lô II



5

0



Giai đoạn 1



Giai đoạn 2



Giai đoạn 3



Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tiêu chảy theo giai đoạn tuổi

Giai đoạn 1: 1 - 7 ngày tuổi.

Giai đoạn 2: 8 - 19 ngày tuổi.

Giai đoạn 3: 20 - 28 ngày tuổi.

Trong suốt quá trình theo dõi thí nghiệm, chúng tơi nhận thấy rằng heo con

tiêu chảy cao nhất ở giai đoạn 8 - 19 ngày tuổi, thấp nhất vào giai đoạn 20 - 28 ngày

tuổi ở cả 2 lô. Tuy nhiên các kết quả thống kê khác biệt khơng có ý nghĩa giữa 2 lơ

qua các giai đoạn tuổi (P > 0,05)

Giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi tỷ lệ tiêu chảy thấp do trong giai đoạn này cả heo

mẹ và heo con được chăm sóc kỹ, heo con mới sinh được giữ ấm bằng bột Mistral,

đèn ấm, được nằm bao bố, tiêm sắt và thuốc bổ, đồng thời còn cho uống các sản

phẩm ngừa tiêu chảy đầy đủ cho heo con. Mặt khác lượng kháng thể thụ động từ mẹ

truyền sang qua sữa đầu còn bảo hộ cao. Tuy nhiên, tiêu chảy vẫn xảy ra do sự thay

đổi đột ngột của môi trường mới, do giai đoạn sau khi sinh khoảng 24 giờ là giai

đoạn tranh đua giữa sự hấp thu kháng thể và sự xâm nhiễm của mầm bệnh. Nếu sự

hấp thu kháng thể nhanh và sự xâm nhiễm của mầm bệnh chậm thì heo có sức đề

kháng bệnh, ngược lại nếu sự xâm nhiễm của vi khuẩn xảy ra nhanh hơn sự hấp thu

kháng thể thì sức khỏe của heo con bị đe dọa. Tiêu chảy xảy ra trên heo con vài

ngày sau sinh có thể do thiếu sữa, heo con khơng bú hoặc bú quá no dẫn đến không



27



tiêu, heo mẹ bị viêm tử cung do sự can thiệp bằng tay đã bài thải mầm bệnh ra nền

chuồng, viêm vú, heo con bú phải sữa viêm, heo con đói khát liếm láp bậy bạ, sơ

suất trong lúc bấm răng làm nướu bị tổn thương hoặc sát trùng rốn không kỹ tạo

điều kiện cho vi trùng xâm nhập và gây bệnh. Đặc biệt heo con ở trại được tập ăn

rất sớm. Lúc 5 ngày tuổi heo được cho liếm cám để làm quen, đây cũng là nguyên

nhân gây tiêu chảy cho heo do sự xáo trộn trong hệ tiêu hóa.

Giai đoạn 8 - 19 ngày tuổi tiêu chảy cao hơn. Trong giai đoạn này, thành

phần dinh dưỡng và kháng thể trong sữa mẹ đã giảm nhiều so với sữa đầu, miễn

dịch thụ động giảm còn rất ít trong khi đó miễn dịch chủ động đến 4 tuần tuổi mới

hoạt động tích cực, kết hợp với việc bắt đầu tiêm vaccin phòng bệnh do

Mycoplasma nên gây sốt, trong q trình tiêm có thể tạo stress cho heo con, do đó

sức đề kháng heo con giảm nên dễ nhiễm bệnh dẫn đến tiêu chảy. Cũng trong giai

đoạn này do nhu cầu tăng trưởng cao nhu cầu về thức ăn cũng tăng. Sữa mẹ cung

cấp không đủ nên heo con phải ăn thêm thức ăn tập ăn, nếu ăn quá nhiều thì thức ăn

dư thừa dễ bị lên men trong ruột già và tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát

triển. Tại trại heo mà chúng tôi khảo sát, chuồng nái và nái đẻ được công nhân vệ

sinh bằng nước vào 8 giờ, sau đó lau khơ sàn chuồng nhưng khơng tránh được tình

trạng làm ướt heo con, heo con bị lạnh và gây tiêu chảy. Hoặc khi heo con bị bệnh

công nhân cũng chưa quản lý tốt việc hạn chế sự lây lan của mầm bệnh như heo con

đi phân vào máng uống, máng ăn làm những con ăn phải bị nhiễm bệnh, heo mẹ

uống nước, nước vấy vào máng thức ăn heo con làm thức ăn bị ẩm, dễ chua tạo điều

kiện cho vi sinh vật gây hại phát triển, và heo con ăn vào sẽ gây tiêu chảy. Máng ăn

heo mẹ bố trí thấp nên heo con có thể ăn thức ăn của heo mẹ làm xáo trộn hệ tiêu

hóa dẫn tới tiêu chảy.

Giai đoạn 20 - 28 ngày tuổi tỷ lệ heo tiêu chảy thấp do lúc này sức đề kháng

của cơ thể cũng như các cơ quan khác dần hồn thiện hơn như bộ máy tiêu hóa hồn

thiện về thể tích, khối lượng bộ máy tiêu hóa, hoạt lực của các men tiêu hóa cũng

hồn thiện hơn các giai đoạn trên. Tuy nhiên tiêu chảy vẫn xảy ra rải rác do giai

đoạn sau 21 ngày tuổi thì sản lượng sữa heo mẹ giảm đi nhiều, đây cũng là thời kỳ



28



mà heo mẹ có thể động dục lại nên sức tiết sữa giảm, chất lượng sữa kém nhưng

heo con lại có sức tăng trưởng cao trong giai đoạn này, đồng thời đây cũng là giai

đoạn heo con mọc răng tiền hàm dưới nên có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng

làm sức đề kháng giảm có thể dẫn đến tiêu chảy. Tất cả đều có thể gây tiêu chảy

trên heo con cũng là nguyên nhân làm cho heo bị tiêu chảy tái phát lại.

4.2.3 Tỷ lệ chữa khỏi và tỷ lệ tái phát.

Bảng 4.4 Tỷ lệ chữa khỏi và tái phát của 2 lô

Chỉ tiêu



Lô I



Lô II



Số con tiêu chảy (con)



21



19



Số con chữa khỏi (con)



21



19



Tỷ lệ chữa khỏi (%)



100



100



Số con tái phát (con)



2



3



Tỷ lệ tái phát (%)



9,52



15,79



P



> 0,05



Qua bảng 4.3 ta thấy tỷ lệ chữa khỏi bệnh là 100% trên cả 2 lô, tỷ lệ tái phát

của lô I và lô II lần lượt là 9,52% và 15,79%. Sự chênh lệch giữa 2 lô là 6,27%. Tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Tỷ lệ tái phát

của chúng tôi thấp hơn của Bùi Chí Hiếu (2008) là 24,09% khảo sát tại tại Darby CJ Genetics. Kết quả khảo sát khác nhau có thể do tỷ lệ ngày con tiêu chảy của Bùi

Chí Hiếu khảo sát cao hơn của chúng tơi (6,94% so với 2,09% và 1,99%). Tỷ lệ

ngày tiêu chảy cao hơn nên thời gian điều trị cũng sẽ cao hơn. Nếu điều trị trong

thời gian dài thì heo con dễ bị lờn thuốc, tiêm nhiều lần cũng làm tăng khả năng

stress hơn nên gây đau do tiêm nhiều hơn. Từ đó heo dễ bị nhiễm bệnh lại do sức đề

kháng giảm vì theo Niconxki (1983) và Nguyễn Phước Vĩnh (1977) nguyên nhân cơ

bản làm tiêu chảy dài ngày và tiêu chảy tái phát là do việc điều trị các chất kháng

sinh kéo dài gây rối loạn tạp khuẩn ruột (trích dẫn của Hồ Lê Thanh, 2009). Cũng

có thể do trong quá trình điều trị heo con chưa hết tiêu chảy hẳn đã ngừng điều trị

không tiêu diệt hết vi sinh vật gây bệnh nên khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tiếp tục

tái phát trở lại. Nhìn chung kết quả khảo sát khác nhau có thể do thuốc và liệu trình



29



điều trị tiêu chảy của 2 trại khác nhau như, do quy trình ni dưỡng và chăm sóc,

thời điểm tiến hành thí nghiệm...

Mặt khác, sau khi sinh heo mẹ bị viêm hay kém ăn nên sản lượng sữa giảm,

nhất là viêm vú và mất sữa làm cho heo mẹ hay nằm úp hai hàng vú xuống, không

chú ý đến heo con. Heo con không bú được nhiều, cơ thể suy sụp tạo điều kiện

thuận lợi cho mầm bệnh bộc phát. Những heo có trọng lượng sơ sinh thấp, còi cọc,

sức đề kháng kém nên tỷ lệ tái phát cũng cao.

4.2.4 Tỷ lệ heo con chết do bị bệnh và do các nguyên nhân khác

Bảng 4.5 Tỷ lệ chết và mắc bệnh

Chỉ tiêu



Lô I



Lô II



Tổng số heo con chọn nuôi



54



52



Số con mắc bệnh khác (viêm khớp) (con)



1



1



Tỷ lệ mắc bệnh khác (%)



1,85



1,92



Số con chết do nguyên nhân khác (bị đè)



1



2



1,85



3,85



(con)

Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác (%)



Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy số heo con bị mắc các bệnh khác

là rất thấp. Ở đây, chúng tôi ghi nhận được ở mỗi lơ đều chỉ có 1 heo con bị bệnh

viêm khớp, các bệnh khác là khơng có. Đó là do q trình chăm sóc ni dưỡng của

trại phù hợp, khâu vệ sinh chuồng trại được đảm bảo tốt vì theo Đặng Hồng Nhung

(2000), viêm khớp là bệnh thường xuyên xảy ra trên cả heo con và heo trưởng thành.

Khớp thường mắc bệnh nhất là khớp khủy chân, viêm làm nhiễm trùng khớp và các

mô xung quanh bởi vi khuẩn. Ngồi ra còn có sự tham gia của các yếu tố khác nhau

như: mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất (tỷ lệ Ca/P không cân đối, thiếu

vitamin D), chấn thương ở chân, thối hóa xương hoặc có những thay đổi về khớp.

Tình trạng viêm khớp tăng cao có thể do khâu vệ sinh chuồng trại kém nên vi khuẩn

gây bệnh phát triển và xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hoặc qua con đường

ăn uống (trích dẫn của Hồ Lê Thanh, 2009). Khâu vệ sinh và chăm sóc ni dưỡng



30



heo chuồng nái đẻ tại trại heo chúng tôi khảo sát tương đối tốt. Hằng ngày, công

nhân rửa chuồng 2 lần: lúc 8 giờ và 14 giờ. Chuồng sau khi rửa được lau khô để

tránh nước ứ đọng làm ướt gây lạnh heo con và tránh gây trơn trợt cho heo con, hạn

chế được tình trạng heo con ngã do rượt đuổi nên hạn chế được tổn thương, từ đó

hạn chế được sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh qua vết thương.

Qua quá trình quan sát và theo dõi, chúng tơi ghi nhận được tỷ lệ chết ở heo

con do bệnh tật là khơng có. Tỷ lệ chết do ngun nhân khác ở cả 2 lô đều là do mẹ

đè. Trường hợp heo con chết do mẹ đè chủ yếu vào ban đêm và heo con bị đè từ 1-5

ngày tuổi, heo con ở độ tuổi này chưa có phản xạ nhanh nhẹn nên khi heo mẹ trở

mình thì khơng phản ứng kịp.

4.3 So sánh cảm quan và chi phí đối với 2 phương pháp cấp thuốc.

4.3.1 So sánh cảm quan

Hiện nay việc cung cấp sắt cho heo con theo đường tiêm được dùng phổ biến

hơn việc cung cấp sắt bằng đường uống. Vì trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản

phẩm chỉ cần 1 liều tiêm duy nhất là cung cấp 200 mg/con sắt dextran có tác dụng

chống thiếu máu thiếu sắt, điều này giảm được công lao động. Mặt khác, sắt tiêm sẽ

được sử dụng từ từ nhờ quá trình hấp thu, chuyển hóa và được dự trữ ở gan, lách.

Ngộ độc chỉ xảy ra khi cơ thể thiếu các chất như vitamin E, Se. Tuy nhiên việc tiêm

sắt cũng có những mặt hạn chế như: tiêm dễ gây căng thẳng cho heo con. Nếu tiêm

với liều lượng lớn 200 mg/ml sẽ gây đau cho cơ, đồng thời nếu kỹ thuật tiêm kém

dễ gây chấn thương cho cơ bắp. Nếu tiêm ở sau gốc tai thì thuốc hay trào ngược ra

làm hao hụt thuốc. Ngoài ra, sắt dễ tồn trữ trong cơ tại vị trí tiêm gây mất tính thẩm

mỹ khi đem bán ra thị trường.

Đối với việc cung cấp sắt bằng đường uống thì chúng ta sẽ tránh khỏi được

những hạn chế do việc tiêm sắt gây ra, từ đó giảm được tỷ lệ bệnh cho heo con. Tuy

nhiên, nếu cung cấp sắt bằng đường uống thì chúng ta phải thực hiện 2 lần cho uống,

điều này làm tốn cơng sức hơn. Vì nếu cho uống 1 lần với liều 100 mg/con thì sẽ

khơng cung cấp đủ sắt cho heo con tới lúc cai sữa, nếu cho uống 1 liều duy nhất 200

mg/con thì heo con sẽ hấp thu khơng hết (vì việc hấp thu sắt còn phụ thuộc vào nhu



31



cầu sắt của cơ thể), phần dư thừa sẽ được thải qua phân. Điều này sẽ làm hao phí sắt.

Tuy nhiên, việc tốn công sức này cũng không đáng kể, đối với những trại bổ sung

sắt bằng cách tiêm 2 mũi vào ngày thứ 3 và thứ 10 thì công lao động cũng không

khác lắm. Mặt khác, sắt cung cấp theo đường uống ở dạng lỏng nên trong quá trình

cho uống dễ hao hụt do heo con khơng chịu uống làm thuốc tràn ra ngồi. Song điều

này có thể khắc phục được bằng cách chú ý hơn trong quá trình cho uống.

Trong quá trình tiến hành thử nghiệm, chúng tôi đã rút ra được cách cho

uống để hạn chế tối đa lượng chế phẩm hao hụt khi cho heo con uống sắt: 1 tay đặt

phía sau cổ của heo con, vừa nắm chặt 1 tai vừa nâng cổ heo con lên để cố định

phần đầu và để heo con há miệng ra. Sau đó bơm thuốc đã được định lượng vào cho

heo con uống. Trường hợp heo con không chịu nuốt thuốc xuống thì chúng ta dùng

tay còn lại tiếp tục mở rộng miệng của heo con và giữ tới khi heo con nuốt hết sắt.

Và thời điểm cho heo con uống thuốc cũng ảnh hưởng đến lượng sắt hấp thu vào.

Vì trong sữa có casein - một chất ngăn cản sự hấp thu sắt nên ta tránh cho uống sắt

khi heo con đang bú. Có thể cho uống trước hoặc khi heo con bú khoảng 30 phút 1 giờ hạn chế sự kết hợp giữa sắt và casein và tốt nhất nên cho uống trong vòng 12

giờ đầu sau khi sinh vì trong thời gian này sắt dextran được hấp thu tốt nhất.

4.3.2 Sơ lược lợi ích của việc cung cấp sắt bằng đường uống và hiệu quả kinh tế

Sắt được bổ sung và hấp thu theo cơ chế tự nhiên nên cũng góp phần vào

việc phòng chống bệnh tật.

Giảm được một mũi tiêm cho heo con đồng nghĩa với việc giảm đau, giảm

stress. Nếu kỹ thuật tiêm kém hoặc dụng cụ tiêm khơng đảm bảo có thể gây chấn

thương, abcess, tăng khả năng viêm nhiễm, tỷ lệ bệnh cao và tăng trọng giảm.

Khơng có hiện tượng tụ sắt trên cơ về sau nên hình ảnh sản phẩm không bị

ảnh hưởng.

Hiệu quả kinh tế của 2 lô trong thí nghiệm được chúng tơi tính tốn sơ lược ở

bảng 4.6. Vì heo con theo mẹ được chăm sóc ni dưỡng trong điều kiện như nhau:

cùng loại thức ăn, lịch tiêm phòng vaccin như nhau... trên cả 2 lơ thí nghiệm nên chi

phí chỉ được tính theo chi phí điều trị heo tiêu chảy và chi phí các chế phẩm sắt sử



32



dụng trong thí nghiệm. Heo con tiêu chảy từ 1 đến 7 ngày tuổi thì sử dụng Baytril

0.5% để điều trị, heo tiêu chảy sau 7 ngày thì dùng Biotec với liều là 1ml/con và

điều trị cho tới khi hết bệnh.

Bảng 4.6 Bảng đơn giá và chi phí thuốc

Tên thuốc



Đơn giá



Số con



Lô I sử dụng



Lô II sử dụng



54



52



Ferrohipra



190.000 đ/ 100 ml



54 ml = 102.600 đ



0



Gentaferol



160.000 đ/ 200 ml



0



104 ml = 86.400 đ



Baytril



170.000 đ/100 ml



7 ml =11.900 đ



11ml = 18.7000 đ



Biotec



200.000 đ/ 100 ml



24 ml = 48.000 đ



22 ml = 44.000 đ



Chi phí

Chi phí điều trị/con



162.500 đ



149.100 đ



3.090 đ



2.867 đ



(Nguồn :phòng kỹ thuật của trại, 2013)

Qua bảng 4.6 thấy chi phí thuốc sử dụng cho việc bổ sung sắt và điều trị

bệnh cho 1 heo con ở lô II thấp hơn lô I (2.867 đ/con so với 3.090 đ/con).

Theo chúng tơi vì chế phẩm Gentaferol có chứa kháng sinh gentamicin nên

nếu dùng chế phẩm cung cấp sắt cho heo con thì chúng tơi đề nghị khơng cần sử

dụng Baytril để giảm bớt chi phí thuốc điều trị, từ đó có thể tăng lợi nhuận cho nhà

chăn ni.



Hình 4.1: Cách cho heo con uống thuốc



33



Chương 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1 Kết luận

Qua thời gian thực hiện đề tài ʻʻThử nghiệm chế phẩm cung cấp sắt theo

đường uống Gentaferol trên heo con theo mẹ ” rút ra một số kết luận sau:

Sự khác biệt về tăng trọng bình quân, tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ ngày con tiêu chảy

ở cả 2 lô là khơng có ý nghĩa về mặt thống kê. Chi phí điều trị ở lơ sử dụng chế

phẩm Gentaferol thấp hơn lô I (2.867 đ/con so với 3.090 đ/con). Nên ta có thể thay

thế sắt tiêm bằng chế phẩm sắt dạng uống Gentaferol trên heo con theo mẹ để giảm

chi phí chăn ni, giảm stress cho heo do tiêm và cũng hạn chế được các mầm bệnh

lây truyền cho heo con qua đường tiêm.

5.2 Đề nghị

Trong giới hạn của đề tài và thời gian tiến hành thí nghiệm chúng tơi chỉ có

thể khảo sát một số chỉ tiêu đối với 2 lơ thí nghiệm và đã mang lại một số kết quả

nhất định. Nhưng muốn để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm Gentaferol

chính xác hơn nữa thì chúng tơi có những đề nghị sau:

Tiến hành thí nghiệm ở nhiều trại khác nhau với những điều kiện chăn nuôi

khác nhau tại những thời điểm khác nhau để có kết quả chính xác hơn.

Cần tiến hành lấy máu heo con ở hai lô để đánh giá số lượng hồng cầu trong

máu.



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Kết quả về tăng trọng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×