Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.3 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt

Bảng 2.3 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3 Cơ sở lý luận

2.3.1 Một số bệnh thường gặp trên heo nái sinh sản

2.3.1.1 Viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thành (2000), viêm tử cung là hiện tượng heo nái tiết

dịch viêm nhiều sau khi sinh. Nguyên nhân là do sự can thiệp, đẻ khó, sót nhau và

sự nhiễm vật lạ vào tử cung, sự suy nhược của cơ thể thú mẹ, sự căng thẳng do sinh

đẻ.

Thông thường sau khi sinh từ 1 – 2 ngày ở âm hộ heo nái có tiết dịch chảy ra

nhưng khơng hơi, khơng đục với một lượng ít thì đó là hiện tượng bình thường của

quá trình sinh đẻ. Ngược lại nếu lượng dịch chảy ra nhiều, kéo dài, màu trắng đục

với mùi hôi khó chịu, kèm theo thú bị sốt, âm hộ khơng teo mà còn hơi sưng thì đó

là biểu hiện của quá trình viêm tử cung. Nái giảm ăn hoặc bỏ ăn, khi nằm thỉnh

thoảng co chân lên, đơi khi có những cơn rặn nhẹ. Dịch viêm dễ thấy nhất là khi nái

cho heo con bú, trong q trình kích thích tiết sữa, mủ ở âm hộ cũng rỉ ra hoặc nhìn

chỗ nằm của nái qua đêm thấy mủ đọng lại trên nền hoặc trên chất độn chuồng, ở

khấu đuôi (Lê Văn Thọ và Lê Quang Thông, 2009)

Phân loại các dạng viêm tử cung:



Hình 2.3 Heo nái bị viêm tử cung dạng nhờn

Dạng viêm nhờn: là dạng viêm nhẹ, hiện tượng viêm chỉ xuất hiện trên lớp

niêm mạc, bệnh xảy ra sau khi sinh khoảng 1 – 3 ngày với các triệu chứng: dịch

viêm lỏng, nhờn, có lợn cợn đục, mùi hơi tanh, nái sốt nhẹ. Heo nái mắc thể bệnh



12



này chỉ giảm ăn, sản lượng sữa ít giảm sút, tuy nhiên heo có khuynh hướng lười

chăm sóc con, ít chịu cho bú (Nguyễn Như Pho, 2000).

Dạng viêm mủ: tử cung tiết ra dịch nhờn có mủ rất hơi tanh kèm theo các

biểu hiện nái thường sốt 40 – 41 oC, hơ hấp tăng, nái mệt mỏi, thường nằm úp, ít

cho con bú, hay đè con, bỏ ăn, khát nước,… Lúc đầu dịch viêm màu trắng đục, sau

chuyển sang dạng nhầy đặc có màu vàng và lợn cợn. Bệnh thường kéo dài 4 – 5

ngày, sau đó mủ đặc lại dính bê bết ở âm hộ (Nguyễn Văn Thành, 2000).

Theo Smith và ctv (1995), viêm tử cung dạng mủ này có thể do hậu quả của

việc không điều trị dạng viêm nhờn, hoặc do các vi trùng sinh mủ tấn công mạnh

vào trong tử cung. Kết quả khảo sát cho thấy staphylococci, streptococci,

Diplococcus pyogenes, E.coli là các vi khuẩn chính gây bệnh (trích dẫn bởi Nguyễn

Như Pho, 2002).



Hình 2.4 Heo nái viêm tử cung dạng mủ

Dạng viêm có mủ lẫn máu: do thể viêm mủ can thiệp không kịp thời và triệt

để. Đặc điểm của dạng viêm này là dịch viêm chảy ra có mủ lẫn máu, nái sốt rất cao

40 – 41 oC, bỏ ăn nhiều ngày, sản lượng sữa giảm dần hoặc mất hẳn, tần số hô hấp

tăng, khát nước, mệt mỏi, hay nằm, kém phản ứng với tác động bên ngồi, đơi khi

đè cả con. Dạng viêm có mủ lẫn máu là viêm niêm mạc tử cung có màng giả và ở

thểviêm nặng niêm mạc tử cung bị hoại tử, vết thương ăn sâu vào tử cung, thành tử



13



cung dễ rách, các tiết vật và chất tiết có màu xám đen lẫn máu hay tế bào (Nguyễn

Văn Thành, 2000).

2.3.1.2 Viêm vú

Theo Nguyễn Như Pho (2002), nguyên nhân gây viêm vú thông thường nhất

là trầy núm vú do sàn hay nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến sữa (hai

loại vi trùng gây bệnh chính là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae)

và viêm vú do số con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất. Nái bị viêm vú

thường lười cho con bú, heo con thiếu sữa, đồng thời do bú sữa viêm nên gây nhiễm

trùng đường ruột, heo con bị tiêu chảy toàn đàn.

Các nguyên nhân khác như kế phát bệnh viêm tử cung dạng mủ hoặc do kỹ

thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm. Trường hợp nái bị viêm

tử cung dạng có mủ lẫn máu nếu sức khỏe nái giảm sút thì vi trùng có thể vào máu

đến tuyến vú gây viêm toàn bộ các thùy vú hoặc gây nhiễm trùng máu, tạo nên thể

điển hình của hội chứng M.M.A, cần phải ghép bầy cho heo con và loại thải heo

nái.

Nái bị viêm vú có triệu chứng: vú căng cứng, nóng, đỏ, có biểu hiện đau khi

sờ nắn, khơng xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu, sau 1

– 2 ngày thấy có mủ; thân nhiệt có thể tăng và giảm tính ngon miệng; vú của nái bị

đau nên nái hay nằm úp xuống và không cho con bú.

Nếu không chữa trị kịp thời vú bị viêm sẽ teo lại, mất sữa, đơi khi còn bị xơ

hóa, mất khả năng cho sữa.

2.3.1.3 Kém sữa, mất sữa

Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), nguyên nhân gây nên hiện

tượng kém sữa, mất sữa này là do dinh dưỡng (thiếu protein, canxi), di truyền, viêm

đường sinh dục, viêm vú, trời nóng hay thú sốt.

Heo nái gặp thời tiết nóng, kích thích tố thyroxin khơng thể hoạt động mạnh

để tăng biến dưỡng trong cơ thể nhằm huy động dưỡng chất cho tuyến vú tạo sữa

nên lượng sữa giảm. Heo nái mới đẻ phải tự giảm biến dưỡng cơ thể, giảm sản



14



lượng sữa trong trường hợp say nóng, có thể gây chết cấp tính (Võ Văn Ninh,

2001).

Hội chứng kém sữa có thể xảy ra trong lúc đẻ, sau khi đẻ vài ngày hoặc sau

khi đã tiết sữa tốt trong 10 – 14 ngày đầu tiên của giai đoạn nuôi con. Phần lớn nái

có dáng vẻ bình thường nhưng vài nái có biểu hiện thở nhanh, biếng ăn, biếng uống,

sốt nhẹ, ngại di chuyển và không muốn cho con bú, vú có thể viêm hoặc khơng

(Trần Thị Dân, 2006).

Theo Nguyễn Như Pho (2002), chứng mất sữa thường đi kèm trong các bệnh

gây sốt cao như viêm tử cung dạng mủ, các trường hợp sốt cao do các nguyên nhân

gây bệnh khác như bệnh truyền nhiễm, viêm phổi,… cũng gây mất sữa hoàn toàn.

Trong bệnh viêm tử cung dạng nhờn, vài thùy vú bị viêm hoặc sự mệt nhọc do sinh

đẻ chỉ làm mất sữa trong một thời gian ngắn (2 – 3 ngày). Một số nguyên nhân khác

dẫn đến mất sữa như bệnh sốt sữa, bại liệt sau khi sinh, nái bị mập mỡ do cho ăn

quá nhiều trong giai đoạn hậu bị nên mỡ tích lũy nhiều trong tuyến vú gây chèn ép

làm tuyến vú phát triển yếu. Heo nái mắc chứng viêm tử cung dạng mủ, do sức đề

kháng yếu, sau 1 – 2 ngày vi trùng xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng máu, dẫn

đến viêm vú rồi mất sữa hoàn toàn.

Heo nái bị kém sữa, mất sữa thì vú lép, bầu vú khơng thay đổi thể tích khi đã

cho con bú. Heo con thiếu sữa mẹ tranh giành nhau bú, la hét, cắn nhau, ốm yếu, da

khơ, xù lơng, ít tiểu tiện, nằm chồng đống lên nhau vì lạnh.

2.3.1.4 Sót nhau

Theo Nguyễn Văn Thành (2000), sau thời kỳ tống thai sẽ chuyển sang thời

kỳ tống nhau thai, gồm các giai đoạn chuẩn bị, bong nhau, tống nhau và tắc mạch.

Sau khi thai được tống ra ngoài quá một khoảng thời gian mà nhau vẫn chưa ra thì

được gọi là hiện tượng sót nhau. Thời gian tống nhau trung bình của heo nái sau khi

tống thai ra ngồi là ít hơn 60 phút, thời gian sót nhau là hơn 60 phút sau khi tống

thai.

Nguyên nhân gây sót nhau:



15



Do tác động bên ngoài: thú thiếu vận động trong thời gian mang thai; thiếu

chất dinh dưỡng nhất là vitamin A, vitamin E, khoáng chất Ca, Mg hay Se; thú mẹ

bị nhiễm vi sinh vật gây các bệnh sẩy thai truyền nhiễm.

Do tác động bên trong: thú mẹ đẻ non, đẻ nhiều thai, sức rặn và co bóp tử

cung yếu, nước ối trong thai nhiều hơn bình thường.

Có 2 trường hợp sót nhau:

Sót nhau một phần: thường lá nhau bị rách, quan sát lá nhau và ráp hai mí

rách lại, nếu các mạch máu trên lá nhau không liền với nhau thì có khả năng còn tồn

tại một mảng bên trong tử cung thú mẹ. Biểu hiện triệu chứng toàn thân: nái bỏ ăn,

sốt, gây tái lạnh, sản dịch và nhau thai thối tống ra âm đạo; dẫn đến viêm tử cung,

mất sữa trong hội chứng M.M.A.

Sót nhau tồn phần: kiểm tra số con đẻ ra nhiều hơn số nhau thai được tống

ra, cần phân biệt với trường hợp heo mẹ ăn lại nhau.

2.3.1.5 Đẻ khó

Theo Nguyễn Văn Thành (2000), trong điều kiện sinh lý bình thường, thú

sinh đẻ tự nhiên khơng cần sự can thiệp của người chăm sóc, tuy nhiên trong giai

đoạn này có một số trở ngại ảnh hưởng đến quá trình sinh con của thú mẹ, triệu

chứng khơng bình thường này gọi là sinh khó hay đẻ khó.

Sự đẻ khó là biểu hiện rối loạn bệnh lý trên các gia súc cái mang thai đến giai

đoạn sinh nhưng cơ thể khơng có khả năng rặn tống thai ra ngồi.

Hai trường hợp đẻ khó thường xảy ra: nái rặn nhiều mà khơng sinh được có

thể do thai nằm ngược, thai quá lớn hay xương chậu hẹp, tử cung bị xoắn hay lọt

sâu vào lòng bụng; sau khi sinh được vài heo con, nái không rặn đẻ nữa (nái lười

đẻ). Tụ máu ở thành âm đạo và bàng quang dãn lớn cũng có thể là những nguyên

nhân làm nái khó sinh. (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000).

2.3.1.6 Sốt

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), thân nhiệt của heo lúc

bình thường ở khoảng 38,7 – 39,8 oC, heo được xem là sốt khi thân nhiệt trên 40 oC.



16



Heo sốt thường thẫn thờ, mắt không tinh nhạy, mũi mép có thể chảy nước

dãi, thở mệt, hơng bụng thóp vì khơng ăn do mệt, tiếng kêu khan khan khi vỗ trên

lưng, đánh hoặc tiêm thuốc không chạy và khơng biết đau. Heo sốt cao lòng trắng

mắt của heo đỏ ngầu, thường đi kèm theo sự tăng nhịp hô hấp thở hồng hộc, chảy

nước dãi, rất nguy hiểm đến sinh mạng. Heo bị sốt thường nằm mê ngủ, chỉ thấy

sườn ngực bụng thở nhanh, nếu sốt nặng mới thấy há hốc mõm để thở. Sốt nặng

cũng làm heo nái hư thai, ra thai hoặc bào thai không bị tống ra mà tiêu dần trong tử

cung, nái trở thành vô sinh(Võ Văn Ninh, 2001).

Heo nái sau khi sinh thường sốt do kế phát từ các bệnh viêm tử cung, viêm

vú, đẻ khó, bại liệt,…

2.3.1.7 Bỏ ăn

Heo nái rất háu ăn, ăn xong nái thường ngủ ngay, các dấu hiệu nái bất

thường:

Nái mới cai sữa con có thể nhớ con lơi ăn nhưng sau đó rất háu ăn, nhất là

sau khi phối giống xong,dưới tác dụng của progesteron cơ thể nái sẽ tích cực dự trữ

dưỡng chất, mơ mỡ dưới da bắt đầu tích lũy mỡ sau thời gian ni con; đến sau

phối giống nái bỏ ăn, lơi ăn là dấu hiệu báo bệnh hoặc tình trạng bất thường, cần

phải quan tâm tìm căn nguyên của bệnh hoặc tình trạng bất thường.

Thay đổi khẩu phần và hương vị thức ăn đột ngột, nái không quen ăn sẽ bỏ

ăn, cần pha trộn thức ăn cũ với thức ăn mới, dần dần thay đổi loại thức ăn cũ thành

mới chứ không nên thay đổi đột ngột, nái sẽ bỏ ăn, mất sức.

Cách cho ăn thay đổi cũng làm nái lơi ăn, chẳng hạn nái đang ăn thức ăn thật

lỏng chuyển qua cho ăn khô, hoặc trái lại đang cho ăn khô chuyển sang ăn thật lỏng

nái cũng bỏ ăn.

Có thể phân biệt với nái bệnh ở chỗ nái sẽ ủi phá thức ăn vung vãi hoặc tìm

thức ăn thích hợp, còn nái bệnh chỉ ngửi thức ăn rồi bỏ đi, dáng đi mệt nhọc, uể oải

chứ không nhanh nhẩu, gặm phá kêu đòi thức ăn khác (thường là heo chê thức ăn

khơng hợp sẽ ủi phá máng, xong chạy ngóng tìm chủ hay người chăm sóc đòi ăn).



17



Trường hợp nái q, sưng khớp không đứng dậy đến máng ăn được (nhưng

nếu đút nhét thức ăn ẩm ướt heo sẽ ăn mạnh), thường nằm ì một chỗcó thể lầm

tưởng nái bỏ ăn vì một bệnh toàn diện. Trong trường hợp này nên cho nái uống đủ

nước rồi đút nhét thức ăn để cho chóng lành bệnh. Nếu khơng chăm sóc kỹ nái có

thể chết vì đói khát hoặc mất sức, dễ mắc thêm bệnh cấp tính.

Nái mới đẻ mệt, mất nhiều calo nên bắp cơ yếu, đi đứng mệt nhọc, có thể

khơng đứng dậy đến máng ăn được, dễ lầm với bỏ ăn do bệnh, tuy vậy khi đút nhét

nái vẫn ăn uống mạnh như thường.

2.3.1.8 Bại liệt sau khi sinh

Theo Nguyễn Văn Thành (2000), nguyên nhân gây bại liệt trên heo nái sau

khi sinh là do các cơn rặn đẻ kéo dài, do sự co thắt tử cung quá mãnh liệt, do sự can

thiệp không cần thiết của con người như kéo thai (nhất là kéo thai thiếu dịch ối)

hoặc do sử dụng oxytocin khơng đúng thời điểm. Ngồi ra những nái sinh đẻ nhiều

lần (trên lứa thứ 3), nái đã bị bại liệt từ lúc có mang kéo dài đến khi sinh, dây thần

kinh xương chậu của nái bị tổn thương khi sinh đẻ hay can thiệp, thai quá lớn hay

nái thiếu vận động trong thời gian mang thai, thiếu dinh dưỡng (Vitamin D, khoáng

canxium và phospho,…) cũng là nguyên nhân gây bại liệt trên nái sau khi sinh.

Bệnh thường xảy ra từ lúc nái đẻ đến 24 giờ sau, nái đứng dậy khó khăn, có

thể kéo dài trong vài giờ hoặc liệt phần chi sau trong vài ngày hay vài tuần. Nái

thường hoảng hốt, cố bật người để đứng dậy, có thể chết do đầu đập xuống nền

chuồng. Bệnh nặng nái có thể hơn mê, giảm lượng phân tiết sữa hay mất sữa.

2.3.1.9 Sa âm đạo

Theo Nguyễn Văn Thành (2000), bệnh sa âm đạo thường xảy ra vào giai

đoạn cuối của thời kỳ thú cái có mang và có thể xảy ra ngay sau khi sinh. Các biểu

hiện của bệnh sa âm đạo thường thấy là: sa âm đạo một phần, toàn phần hay vừa sa

âm đạo vừa sa tử cung, lòi trực tràng, trì kéo bàng quang,…

Ngun nhân gây bệnh bao gồm giống; sự phát triển của bào thai, sự cử động

của bào thai, số lượng bào thai nhiều hơn bình thường, sự gia tăng thể tích và khối

lượng của tử cung,… tạo áp lực chèn ép đẩy âm đạo ra ngoài; nái sinh đẻ nhiều lần;



18



nái già yếu nên trương lực các cơ, các dây treo giảm, việc định vị các tổ chức trong

xoang bụng không được chắc chắn; hệ thống dây chằng, màng treo của nái yếu

không giữ nổi khối lượng treo của âm đạo, thường thấy trên những nái mập.

2.3.2. Một số bệnh thường gặp trên heo con theo mẹ

2.3.2.1 Tiêu chảy

Theo Võ Văn Ninh (2007), tiêu chảy là hiện tượng rối loạn tiêu hóa, nhu

động của ruột trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong lòng ruột non,

ruột già thải qua hậu mơn q nhanh, dưỡng chất khơng kịp tiêu hóa và ruột già

chưa kịp hấp thu được nước,… tất cả bị tống ra hậu môn với thể lỏng hoặc sền sệt.

Hậu quả nghiêm trọng là cơ thể con vật bị mất nhiều nước, mất nhiều ion điện tích

và ngộ độc các loại độc tố do vi khuẩn gây tiêu chảy sinh ra, con vật suy nhược rất

nhanh và có thể chết rất nhanh nếu thú sơ sinh nhỏ tuổi, gầy ốm, kém sức chịu

đựng.



Hình 2.5 Bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ

Các nguyên nhân gây bệnh:

Đặc điểm bộ máy tiêu hóa heo con: heo con mới sinh bộ máy tiêu hóa còn

chưa hồn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết khơng đủ lượng HCl và các men tiêu hóa

các chất dinh dưỡng (Nguyễn Như Pho, 2001).



19



Các yếu tố quản lý, chăm sóc chưa hợp lý như: khơng cho heo con bú sữa

đầu đầy đủ; không úm cho heo con hoặc úm không đúng quy cách làm heo con bị

lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu dẫn đến tình trạng không tiêu gây viêm ruột, tiêu

chảy; vệ sinh rốn không tốt; không cấp sắt cho heo con: thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu

máu, là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tiêu chảy.

Heo mẹ mắc hội chứng M.M.A: sự nhiễm trùng vú hoặc tử cung sau khi sanh

sẽ gây vấy nhiễm vi trùng vào đường tiêu hóa heo con (heo con liếm phải dịch viêm

tử cung hoặc bú sữa từ những vú bị viêm).

Heo mẹ trong thời gian mang thai không được cung cấp đầy đủ chất dinh

dưỡng như thiếu protein, thiếu vitamnin A, thiếu Cu, Zn, Fe,… làm rối loạn quá

trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con sinh ra yếu ớt, sức đề kháng kém sẽ dễ

mắc bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hóa.

Ở những đàn có heo mẹ tốt sữa, sữa mẹ nhiều và giàu chất dinh dưỡng, heo

con bú nhiều không kịp tiêu hóa và có nhiều dưỡng chất bị đẩy xuống ruột già là

môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại nhân lên nhanh gây bệnh tiêu

chảy trên heo con.

Điều kiện vệ sinh kém: không sát trùng chuồng nái trước khi sinh, cho nái ăn

thức ăn kém phẩm chất, có chứa độc tố vi trùng hoặc nấm mốc. Nguồn nước uống

không sạch cũng được xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự nhiễm trùng đường

ruột của heo con theo mẹ.

Khẩu phần quá mặn, thiếu vitamin nhóm B, khẩu phần không cân đối Ca/P,

thay đổi khẩu phần thức ăn đột ngột cũng làm heo con dễ tiêu chảy (Nguyễn Ngọc

Tuân và Trần Thị Dân, 2000).

Do điều kiện ngoại cảnh như chuồng trại ẩm ướt, khí hậu q nóng hay quá

lạnh, heo con cũng có thể bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy.

Điều kiện chăm sóc cũng có thể tạo cho heo con nhiều stress như chuyển

chuồng, cai sữa, nhập bầy, sử dụng thuốc kháng sinh kéo dài gây dị ứng,… làm heo

con bị tiêu chảy.



20



Một số mầm bệnh gây nhiễm trùng đường tiêu hóa ở heo gây nên bệnh tiêu

chảy được trình bày ở Bảng 2.4.

Bảng 2.4 Một số mầm bệnh gây nhiễm trùng đường tiêu hóa ở heo gây nên

bệnh tiêu chảy

Vi sinh vật

Virus



Vi trùng



Bệnh



Corona T.G.E virus



Viêm dạ dày – ruột truyền nhiễm



Coronavirus



Dịch tiêu chảy ở heo con



Beta virus



Tiêu chảy do Beta virus



Clostridium perfringens type A



Tràng độc huyết



Clostridium perfringens type B



Viêm ruột hoại tử



E. coli



Tiêu chảy do E. coli



Salmonella spp.



Phó thương hàn



Treponema hyodysenteriae



Hồng lỵ



Camphylobacter coli



Tiêu chảy do Camphylobacter



Nguyên sinh Isospora suis



Cầu trùng



động vật



Cryptosporidium spp.



Cầu trùng



Balantidium coli



Cầu trùng

(Nguồn: theo Nguyễn Như Pho, 2001)



2.3.2.2 Bệnh trên đường hô hấp

Theo Trần Thanh Phong (1996), bệnh đường hô hấp ở heo có thể do một

hoặc nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau gây nên như Hemophilus parasuis,

Mycoplasma hyopneumoniae, Pasteurella multocida, Swine influenza virus (virus

cúm heo),…

Mycoplasma hyopneumoniae gây kém ăn hay bỏ ăn, bỏ bú; da có phần nhợt

nhạt; thân nhiệt tăng 40 oC có khi kéo dài trong nhiều ngày; hắt hơi, khịt mũi, chảy

nhiều nước mũi; ho “mệt” thường vào lúc vận động hoặc sáng sớm lúc ăn; thở vào

và ra khó nhọc, thở há mồm, thở thể bụng, ngồi thở dốc kiểu chó ngồi; có thể xáo

trộn tiêu hóa nhẹ.



21



Haemophilus parasuis thường xảy ra trên heo 3 – 6 tuần tuổi, xuất hiện đột

ngột với sốt 40 – 41,5 oC, bỏ ăn, thở khó (vươn cổ mà thở), có thể ho.

Swine influenzavirus gây sốt 40 – 41,5 oC; heo con lười bú, kém ăn; lông

dựng; da tái nhạt; viêm kết mạc mắt, chảy nhiều nước mắt; viêm cata đường hô hấp:

hắt hơi, chảy nhiều nước mũi, ho vào buổi sáng hoặc lúc vận động; trường hợp

viêm cuống phổi – phổi, heo con thở nhanh, khó thở.

Theo Nguyễn Như Pho (2000), các yếu tố ngoại cảnh gây bệnh trên đường

hơ hấp như nhiệt độ, ẩm độ, khí độc chuồng trại (chlor, amoniac, H2S, CO2,…), sự

thơng thống của khơng khí, bụi trong thức ăn do cho ăn dạng bột, sặc thức ăn hoặc

nước uống vào đường hô hấp,… tác động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây

phản ứng tiết dịch, sau đó dẫn đến q trình viêm, làm thay đổi tổ chức của cơ quan

hô hấp đưa đến rối loạn trao đổi khí.

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), một số nguyên nhân làm

heo con bị bệnh đường hô hấp:

Vi khuẩn lây lan qua đường hô hấp do nhốt chung đàn thú mang trùng với

đàn thú khỏe, thú mẹ truyền sang con, lây lan gián tiếp do thức ăn, nước uống.

Điều kiện chăn nuôi kém vệ sinh, thiếu dinh dưỡng (khoáng đa lượng,

khoáng vi lượng, acid amin thiết yếu như lysin, methionine, threonine,…), chuồng

trại kém thơng thống, bị mưa tạt gió lùa, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm quá

cao, vận chuyển hoặc nhập đàn từ nhiều nguồn khác nhau (khác ô chuồng, khác

chuồng hoặc mới mua từ chợ về để nuôi,…), heo bị cảm lạnh, thay đổi khẩu phần

đột ngột,… tạo điều kiện phát triển bệnh.

2.3.2.3 Viêm khớp

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), viêm khớp được thừa

nhận là yếu tố chủ yếu gây què trên heo, bệnh do nhiễm trùng khớp và các mô

chung quanh bởi vi khuẩn và Mycoplasma.

Streptococcus gây viêm khớp cấp tính và mãn tính cho heo mọi lứa tuổi.

Nhưng bệnh thường xảy ra trên heo con và được coi như là một phần của hội chứng

“yếu khớp” kết hợp với viêm rốn. Triệu chứng trên heo 1 tuần tuổi: sốt và viêm



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.3 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×