Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.23: Động thái thay đổi loài và đa dạng sinh học

Bảng 4.23: Động thái thay đổi loài và đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ - 0trang

93



globularia), Sơn (Toxicodendron succedanea), Trâm vối (Cleistocalyx

operculatus), Ngát (Gironniera subequalis) và Re (Alseodaphne glaucina); ở

lần đo năm 2012 chỉ còn lại 5 loài trên tổng số 19 loài chiếm ưu thế đó là:

Chò nâu, Táu mật, Vàng anh, Máu chó lá nhỏ và Sơn; 5 loài mới được bổ

sung so với năm 2007. HL1 giảm mạnh từ 1/12 xuống 1/5; HL2 giảm từ 1/21

xuống 1/18; H tăng từ 2,29 lên 2,58.

Với TCN có 7 lồi ưu thế trong tổng số 14 lồi ở lần đo năm 2007, đó

là các lồi: Chò xanh (Terminalia myriocarpa); Cà lồ (Caryodaphnopsis

tonkinensis); Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa); Trám đen (Canarium

tramdenum); Sâng (Pometia pinata); Thị rừng (Diospyros decandra) và Kẹn

(Mischocarpus pentapetalus), ở lần đo năm 2012, số loài tăng lên 02 loài (16

loài) và bổ sung loài Táu mật vào lồi ưu thế (8 lồi). HL1 khơng đổi (1/4);

HL2 giảm từ 1/8 xuống 1/7; H tăng từ 2,39 lên 2,48.

Với TCC ở lần đo 2007 có 4 lồi ưu thế trong tổng số 82 lồi, đó là:

Vàng anh (Saraca dives), Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa), Chùm bao

(Bhesa robusta) Táu nước (Vatica odorata). Ở lần đo năm 2012, loài ưu thế

khơng thay đổi, và bổ sung 01 lồi vào thành phần loài (83 loài). HL1 =1/4;

HL2 = 1/87; H = 3,83 khơng có sự thay đổi giữa hai lần đo.

+ Ở ơ XS-3, có 8 lồi trong tổng số 12 lồi chiếm ưu thế ở lần đo năm

2007, đó là: Gội nếp (Amoora gigantea), Chò nâu (Dipterocarpus retusus),

Dẻ ấn độ (Castanopsis indica), Táu mật (Vatica tonkinensis), Mò

(Cryptocarya chingii), Máu chó lá nhỏ (Knema globularia), Sâng (Pometia

pinata) và Trâm trắng (Syzygium wightianum); đến lần đo năm 2012 còn lại 5

lồi chiếm ưu thế trong tổng số 18 loài, các loài Máu chó lá nhỏ, Sâng và

Trâm trắng đã mất vai trò ưu thế. HL1 giảm từ 1/15 xuống 1/5; HL2 giảm từ

1/22 xuống 1/18; H tăng từ 2,23 lên 2,51.

Với TCN có 6 lồi ưu thế trong tổng số 23 lồi ở lần đo năm 2007, đó

là: Máu chó lá nhỏ (Knema globularia); Gội nếp (Amoora gigantea); Trâm



94



vối (Cleistocalyx operculatus); Thừng mực mỡ (Wrightia balansae); Dẻ ấn

(Castanopsis indica); Mò lá nhỏ (Litsea monopelata), ở lần đo 2012 số loài

ưu thế là 8 loài trong tổng số 22 loài, bổ sung lồi Chò xanh (Terminalia

myriocarpa) và Trâm trắng (Syzygium wightianum) vào tổ thành. HL1 tăng từ

1/4 lên 1/5; HL2 giảm từ 1/15 xuống 1/13; H giảm từ 2,76 xuống 2,73.

Với TCC có 3 lồi ưu thế trong tổng số 103 lồi ở lần đo năm 2007, đó

là Vải rừng (Nephelium cuspidatum); Gội trắng (Aphanamixis polystachya) và

Thừng mực mỡ (Wrightia balansae), ở lần đo năm 2012 số loài tăng lên 104

loài trong đó có 4 lồi ưu thế, bổ sung thêm lồi Ngát (Gironniera subequalis)

vào tổ thành. HL1 giảm từ 1/5 xuống 1/4; HL2 giảm từ 1/158 xuống 1/107; H

giảm không đáng kể từ 4,12 xuống 4,11.

Qua kết thu thập được ở hai lần đo trong thời gian 5 năm (2007-2012)

cho thấy về số lồi có sự tăng dần từ lớp CTS < TCN
thấy có một sự tích tụ loài theo thời gian, nghĩa là số loài mới tái sinh trong

một thời gian nhất định thì ít hơn số lồi đã được tích tụ về thời gian ở các lớp

cây có trước đó. Số lồi ưu thế ở lần đo năm 2007 có xu hướng

CTS>TCN>TCC, nhưng đến lần đo 2012 có sự thay đổi giữa các ơ định vị

XS-2 và XS-3. Tỷ số hỗn loài (HL1) ở lớp CTS cao gấp 2-3 lần ở TCN và

TCC, tỷ số hỗn loài ưu thế (HL2) biến động theo xu hướng TCC>CTS>TCN.

Độ đa dạng (H) có xu hướng TCC>TCN>CTS. Nếu xét trên cùng ơ tiêu

chuẩn thì sự biến động về HL1, HL2, H giữa năm 2007 và 2012 khơng có sự

chênh lệch lớn (trừ TCC ở XS-3).

Sự chênh lệch về các chỉ số giữa ba lớp cây cũng có thể là do kích

thước của các ơ tiêu chuẩn cấp A (cho TCC) cấp B (cho TCN) và cấp C (cho

CTS) là khác nhau; TCN và CTS chỉ được thu thập trong diện tích 707 m 2, có

thể là chưa bao gồm được số loài CTS và TCN và số lượng loài có thể bị ước

lượng thấp hơn so với thực tế; điều này cũng thấy được trong kết quả của mục



95



tái sinh dưới tán và lỗ trống được trình bày ở các phần trên với số lượng loài

tái sinh cao hơn do ơ tiêu chuẩn lớn hơn.

Ngồi các chỉ tiêu đánh giá về mức độ phong phú thành phần lồi thì

chỉ tiêu độ đồng đều của các loài trong quần xã có ý nghĩa quan trọng. Trong

nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng dãy hệ số Rényi. Kết quả xác định chỉ số

Rényi của lớp CTS, TCN, TCC ở các ô tiêu chuẩn định vị được trình bày ở

phụ lục 13 và hình 4.14 biểu diễn kết quả lớp CTS, cho thấy biến động đa

dạng loài của CTS theo thời gian ở cả 3 ô tiêu chuẩn đa dạng đã tăng từ năm

2007 đến năm 2012.



Hình 4.11: Dãy chỉ số đa dạng Rényi của CTS năm 2007 và 2012

Khi xem xét độ đa dạng giữa các lớp cây bằng chỉ số Rényi trên từng ô

tiêu chuẩn được thể hiện ở hình 4.12. Kết quả cho thấy đa dạng lồi trong các

lớp cây ở các ô tiêu chuẩn không đồng nhất. Ở cả 3 ô tiêu chuẩn độ đa dạng

của TCC>CTN>CTS, tầng CTS cao nhất ở ô XS-2, kế đến là ô XS-3 và thấp

nhất là ô XS-1.Trong khi đó ở TCN, đa dạng lồi cao nhất là ơ XS-3, kế đến

là ô XS-1 và thấp nhất là ô XS-2. Ở TCC, đa dạng lồi cao nhất là ơ XS-3, kế

đến là ô XS-2 và thấp nhất là ô XS-1. Xét theo thời gian, độ đa dạng của CTS



96



tăng ở cả 3 ô tiêu chuẩn; CTN tăng ở XS-2, giảm ở XS-2 và XS-3; TCC giảm

ở XS-1, không đổi ở XS-2 và XS-3.



Hình 4.12: So sánh đa dạng lồi các lớp cây ở 3 ô định vị

So sánh chỉ số tương đồng về loài (SI) giữa 3 lớp cây ở các ô tiêu

chuẩn được thể hiện ở bảng 4.24.

Bảng 4.24: Chỉ số tương đồng loài giữa các lớp cây

OTC



2007



2012



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.23: Động thái thay đổi loài và đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×