Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Tải bản đầy đủ - 0trang

47



Trong Vườn có một số diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất nên người dân tự đầu tư trồng rừng. Tuy nhiên, việc trồng các loài

cây nhập nội với mục tiêu kinh tế tại Vườn quốc gia là khơng phù hợp. Lồi

cây gây trồng chủ yếu là Bồ đề, Keo. Diện tích rừng trồng phân bố chủ yếu ở

vùng thấp nằm ở phía Đơng và phía Nam của Vườn. Việc phục hồi lại rừng ở

đây ngoài biện pháp khoanh nuôi bảo vệ lợi dụng tái sinh tự nhiên, có thể tiến

hành trồng rừng bằng các lồi cây bản địa như: Lát hoa, Chò chỉ, Chò nâu,

Giổi ăn quả, Giổi xanh, Mỡ, Chò xanh...

- Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác

Phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 đai độ cao, nhưng tập trung hơn

cả vẫn là ở đai rừng nhiệt đới thuộc phần đất phía Đơng của Vườn. Phần lớn

loại thảm này là các trảng cỏ như cỏ tranh, lau lách…. Dưới các trảng cỏ này,

tình hình tái sinh của các cây gỗ trở nên khó khăn. Bởi vậy, khả năng phục hồi

rừng tự nhiên trên đất chưa có rừng đòi hỏi phải có một thời gian dài.

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cư

Phân bố rải rác khắp Vườn quốc gia, nhưng tập trung thành diện tích

lớn ở phía Đơng của Vườn nơi có nhiều bản làng, bao gồm ruộng lúa nước,

nương rẫy trồng lúa, hoa màu, chè....

3.1.6. Hiện trạng tài nguyên rừng

- Rừng phục hồi (IIA, IIB):

+ Trạng thái IIA: Trạng thái này tập trung chủ yếu ở phân khu phục hồi

sinh thái, vùng ven với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và xung quanh các xóm

Lùng Mằng, Lạng, Dù, Cỏi, Lấp. Lịch sử hình thành chủ yếu do canh tác

nương rẫy nên trạng thái này cũng có phân bố rải rác trong phân khu bảo vệ

nghiêm ngặt. Thời gian phục hồi và mức độ bị tác động khác nhau nên ở trạng

thái này có sự biến động khá lớn về các chỉ tiêu điều tra. Ở phân khu phục hồi

sinh thái và ven phân khu nghiêm ngặt, hoạt động canh tác cơ bản đã chấm

dứt nhưng hoạt động khai thác gỗ củi và chăn thả gia súc vẫn diễn ra nên ảnh



48



hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi. Thành phần lồi cây ở trạng thái

này chủ yếu là các loài cây ưa sáng như: Ba gạc (Evodia lepta), Ba soi

(Macaranga denticulata), Lòng mang (Pterospermum.sp.), Mò roi (Litsea

balansae), Lá nến (Macaranga peltata),…

+ Trạng thái IIB: Phân bố của trạng thái này cũng tương tự như trạng

thái IIA, tập trung chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái, nhiều nhất ở phía

đơng và phía bắc của Vườn. Trong vùng lõi có những đám nằm rải rác và

quanh các khu dân cư. Các loài Phân mã (Archidendron balansae), Ba gạc

(Evodia lepta), Mò lá nhỏ (Litsea monopelata), Màng tang (Litsea cubeba),

Ba soi (Macaranga denticulata) là các loài phổ biến trong trạng thái này.

- Rừng nghèo (IIIA1): Phân bố thành các đám lớn thuộc phân khu phục

hồi, các dải và đám ở vùng tiếp giáp và bên trong vùng lõi. Trạng thái này,

cũng chịu ảnh hưởng của các hoạt động khai thác gỗ củi và chăn thả gia súc.

Thành phần lồi cây đã có sự thay đổi cơ bản so với hai trạng thái trên đó là,

Vàng anh (Saraca dives), Nóng (Saurauia tristyla), Lộc vừng (Barringtonia

macrocarpa), Trâm (Syzygium sp),…là các loài đặc trưng của trạng thái này.

- Rừng trung bình (IIIA2): Phân bố thành từng đám ở phân khu phục

hồi sinh thái và xen kẽ giữa các trạng thái rừng giầu thuộc vùng lõi. Chỉ một

số diện tích ở phân khu phục hồi chịu ảnh hưởng của khai thác gỗ củi và chăn

thả gia súc. Trong thành phần loài cây, các lồi ưa sáng đã giảm nhiều, thay

vào đó là các loài thuộc hệ thực vật đặc trưng của khu vực nghiên cứu như:

Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa), Trâm (Syzygium sp), Chò xanh

(Terminalia myriocarpa), Trường mật (Pavieasia annamensis), Mò lá to

(Cryptocarya impressa),..

- Rừng giầu (IIIA3 - IV):

+ Trạng thái rừng IIIA3: Phân bố của trạng thái này chủ yếu trong vùng

lõi, tạo thành từng dải rừng rộng lớn, ở phân khu phục hồi chỉ còn lại các đám

nhỏ nằm rải rác. Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa), Gội trắng



49



(Aphanamixis polystachya), Trường mật (Pavieasia annamensis), Vàng anh

(Saraca dives), Sồi (Lithocarpus sp),.. là các loài đặc trưng của trạng thái

rừng này.

+ Trạng thái IIIB: Đây là những diện tích rừng có trữ lượng giầu, phân

bố ở vùng lõi, xa khu dân cư và hầu như khơng có sự tác động từ hoạt động

khai thác, chăn thả gia súc và lấy củi. Gội trắng (Aphanamixis polystachya),

Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa), Gội nếp (Amoora gigantea), Trâm

(Syzygium sp), Chò xanh (Terminalia myriocarpa) là các lồi đặc trưng của

trạng thái này.

+ Trạng thái IV: đây là những cánh rừng ngun sinh, ít bị tác động và

hầu như khơng có hoạt động khai thác, trạng thái này có trữ lượng rất giàu.

Phân bố của trạng thái rừng này tập trung ở vùng lõi, nhiều nhất ở sườn các

núi Ten, núi Cẩn, tạo thành các dải rừng liên tục. Tác động vào trạng thái rừng

này chủ yếu là các hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ. Ở trạng thái này,

thường gặp các loài Vàng anh (Saraca dives), Sâng (Pometia pinata), Táu

(Vatica sp), (Aphanamixis polystachya), Sồi (Lithocarpus sp), Trường mật

(Pavieasia annamensis),.. và chúng thường có kích thước lớn.

3.1.6. Hiện trạng tài nguyên động thực vật

* Thành phần và số lượng các taxon thực vật:

Kết quả điều tra đã phát hiện và giám định được 1.259 lồi thực vật bậc

cao có mạch, thuộc 699 chi của 185 họ, trong 6 ngành thực vật. Tổng số lồi

cây có nguy cơ bị tuyệt chủng của VQG đã xác định nằm trong sách đỏ Việt

Nam và trong danh sách đỏ thế giới là 47 loài [16].

* Khu hệ động vật:

Kết quả đã giám định được 370 loài từ ếch nhái đến thú. Trong số các

loài động vật có tên trong danh mục đã xác định được 51 loài động vật quý

hiếm. Những nguồn gen động vật quý hiếm này có giá trị kinh tế và giá trị



50



bảo tồn cao cần được đưa vào danh mục các loài được ưu tiên bảo tồn theo

Luật đa dạng sinh học [16].

3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2.1. Dân số, lao động và dân tộc

- Vườn Quốc gia Xn Sơn và khu vực vùng đệm có 29 thơn thuộc địa

giới hành chính của 6 xã Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim

Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ. Các xóm phân bố chủ

yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với

mực nước biển, tập trung ở phía Đơng, một phần phía Bắc và Nam của Vườn

quốc gia.

- Dân số: Theo kết quả thống kê tại các xã năm 2012, Vườn Quốc gia

Xn Sơn và khu vực vùng đệm gồm 29 thơn/xóm có 12.559 người với 2.908

hộ; trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ.

- Lao động: Tổng số lao động trong Vườn quốc gia và khu vực vùng

đệm là 7.391 người, trong đó số lao động trong vùng lõi là 1.647 người,

chiếm 22,3% tổng số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744

người, chiếm 77,7% tổng số lao động.

- Dân tộc: Vườn Quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tộc

đang sinh sống; Trong đó, dân tộc Mường có 2.324 hộ, chiếm 79,9%; dân tộc

Dao có 546 hộ, chiếm 18,7 %; dân tộc Kinh có 38 hộ, chiếm 1,4 %.

3.2.2. Đời sống và thu nhập của người dân

- Thu nhập bình quân trên đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm

Vườn quốc gia khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm. Nguồn thu nhập chính của

người dân trong khu vực chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc...

- Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn Quốc gia Xuân Sơn chiếm

(35,9%) thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn. Tỷ lệ hộ nghèo vùng

lõi cao hơn vùng đệm. Đây là thách thức cho công tác bảo tồn và phát triển

bền vững Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013-2020[50].



51



3.3. Thực trạng bảo tồn và phát triển Vườn Quốc gia Xuân Sơn

* Bảo vệ rừng: Trong những năm qua, Vườn quốc gia xác định rõ công

tác quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy, Vườn đã chủ động đưa

ra các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, đã ngăn chặn kịp thời các vụ

vi phạm về bảo vệ rừng và PCCCR, nhận thức của cộng đồng được nâng cao

thông qua các lớp tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật,

rừng được tăng cả về số lượng và chất lượng.

* Bảo tồn đa dạng sinh học: Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã phối hợp với

các đơn vị liên quan xây dựng và thực hiện các đề tài, cơng trình nghiên cứu

khoa học phục vụ cho cơng tác bảo tồn như: Bảo tồn gà Chín cựa; gà Lôi

trắng; sưu tầm và lưu giữ mẫu vật các loài thực vật quý hiếm tại Vườn quốc

gia...Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khơng những góp phần bảo tồn

nguồn gen qúy của quốc gia mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa

phương, hướng đến quản lý rừng bền vững.



52



Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

4.1.1. Cấu trúc tổ thành

Kết quả xác định xác định tổ thành lồi theo IV% cho từng ơ tiêu chuẩn

được trình bày trong phụ lục 02 (2.1-2.7) và tổng hợp theo các trạng thái rừng ở

phụ lục 03 (3.1-3.7). Tổng hợp kết quả được thể hiện ở bảng 4.1.

Bảng 4.1: Cấu trúc tổ thành loài các trạng thái rừng khu vực nghiên cứu



TTR



Số

lồi



Số lồi

ưu thế



IV%

ưu thế



IIA



47



4



39,21



IIB



61



3



34,27



IIIA1



58



5



40,84



IIIA2



70



3



17,82



IIIA3



58



5



35,96



IIIB



59



3



24,75



IV



57



3



19,38



Cơng thức tổ thành theo IV%

13,82 Mro + 10,75 Nnai + 9,11 Bga + 5,49

Lomang + 60,79 LK (43 loài)

13,45 Pma + 11,64 Bga + 9,18 Mln + 65,73

LK (58 loài)

13,74 Va + 7,96 Chv + 7,81 Lv + 6,07 No

+ 5,27 Calo + 59,16 LK (53 loài)

6,70 Lv + 6,12 Mlto + 5,00 No + 82,18 LK

(67 loài)

8,68 Va + 7,70 Soi + 7,56 Lv + 6,55 Gt +

5,47 Trm + 64,040 LK (53 loài)

10,07 Gt + 9,33 Lv + 5,35 Mlto + 75,25

LK (56 loài)

8,62 Gt + 5,58 Va + 5,18 Mro + 80,62 LK

(54 loài)



Ghi chú: TTR: Trạng thái rừng; tên loài xem phụ lục 17.



Kết quả bảng 4.1 cho thấy, thành phần loài tầng cây cao của khu vực

nghiên cứu rất đa dạng, trạng thái IIIA2 có số lồi cao nhất (70 loài), tiếp đến

là trạng thái IIB (61 loài) và thấp nhất là trạng thái IIA (47 loài). Tuy thành

phần loài trong các trạng thái khá phong phú nhưng số loài tham gia tổ thành

ở các trạng thái rất thấp, biến động từ 3 đến 5 loài và IV% của chúng biến

động từ 17,82% (IIIA2) đến 40,84% (IIIA1). Tổ thành lồi có sự biến đổi rõ

rệt theo trạng thái rừng. Đối với các trạng thái rừng IIA, IIB chủ yếu là cây

ưa sáng: Mò roi (Litsea balansae), Núi nái (Maesa acuminatissima), Ba gạc



53



(Evodia lepta), Lòng mang (Pterospermum truncatolobatum), Phân mã

(Archidendron balansae). Đối với các trạng thái rừng III và IV là các loài:

Gội trắng (Aphanamixis polystachya), Lộc vừng (Barringtonia macrocarpa)

và Mò lá to (Lisea balansae), Vàng anh (Saraca dives), Trường mật (Pometia

pinnata), Sồi (Lithocarpus tubulosus), đây là những loài có kích thước lớn

tạo nên đặc trưng của thảm thực vật rừng của khu vực. Tuy nhiên trong

thành phần loài cây của các trạng thái rừng IIA, IIB cũng xuất hiện các loài

ưu thế của các trạng thái rừng III và IV với IV% thấp (xem phụ lục 02, 03).

4.1.2. Cấu trúc mật độ, độ tàn che và LAI

Trong nghiên cứu này, độ tàn che được xác gián tiếp thông qua lượng

ánh sáng lọt qua tán từ việc phân tích các bức ảnh chụp tán rừng. Kết quả xử

lý và phân tích các bức ảnh xác định độ tàn che ở từng ô tiêu chuẩn được thể

hiện ở phụ lục 03. Tại khu vực nghiên cứu, mật độ, độ tàn che và LAI của các

trạng thái rừng được tổng hợp trong bảng 4.2.

Bảng 4.2: Mật độ, độ tàn che và LAI của các trạng thái rừng

TTR

IIA

IIB

IIIA1

IIIA2

IIIA3

IIIB

IV



Mật độ ± SD

(cây/ha)

569±98a

676±153a

417±137a

504±190a

537±116a

635±182a

502±160a



Độ tàn che ± SD

0,52±0,04a

0,66±0,13b

0,70±0,06bc

0,74±0,02c

0,81±0,05c

0,82±0,04c

0,90±0,05d



LAI ± SD

(m2/m2)

0,99±0,14a

1,71±0,52b

1,73±0,30b

1,95±0,09bc

2,31±0,51c

2,34±0,36c

3,10±0,66d



Ghi chú: a,b,c,d là các chỉ số biểu thị mức độ đồng nhất và sai khác sau khi kiểm

tra bằng tiêu chuẩn U Mann-Whitney (p0,05); ), SD là sai tiêu chuẩn của các đại lượng

quan sát.



Kết quả bảng 4.2 cho thấy, trạng thái IIB có mật độ cao nhất (676 cây/ha),

tiếp đến là trạng thái IIIB (635 cây/ha) và trạng thái IIIA1 có mật độ thấp nhất

(417 cây/ha). Biến động của trị số quan sát từ 98 đến 190 cây/ha. Căn cứ kết quả



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×