Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong tổng số 72 BN bị gẫy kín đầu dưới xương đùi được điều trị phẫu thuật và theo dõi tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 05 năm 2009 có:

Trong tổng số 72 BN bị gẫy kín đầu dưới xương đùi được điều trị phẫu thuật và theo dõi tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 05 năm 2009 có:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

1

- Về nguyên nhân tai nạn: theo kết quả biểu đồ 3.1 thì nguyên nhân gẫy

đầu dưới xương đùi chủ yếu là do TNGT chiếm 59/72 BN (82,0%). Tiếp đó là đến

các nguyên nhân khác như TNLĐ 8/72 BN (11,1%), TNSH 5/72 BN (6,9%).

Theo Mize R.D.,(1989) [51], thì tỷ lệ gặp do TNGT là 37/63 BN (58,7%).

Siliski J.M.,(1989) [69], tỷ lệ gặp do TNGT là 38/52 BN (73,1%). Đoàn Lê

Dân và cs (1998) [5], nguyên nhân chính là do TNGT. Giang Hồi Nam (2001)

[20], 31/36 (81,6%). Lê Quốc Huy (2003) [9], 38/51 BN (74,5%).

Các số liệu thống kê trên cho thấy gẫy đầu dưới xương đùi chủ yếu gặp ở

lứa tuổi lao động và nguyên nhân chủ yếu là do TNGT. Tổn thương do TNGT

nặng nề, dễ gây tàn phế, điều trị tốn kém. TNGT làm giảm sức khỏe lao động,

gây thiệt hại lớn đến kinh tế gia đình nạn nhân và xã hội. Vì vậy, nâng cao

chất lượng điều trị nhằm phục hồi chức năng tốt nhất cho người bệnh, trả lại

khả năng lao động cho họ có ý nghĩa vơ cùng quan trọng. Trong xã hội hiện

nay, số lượng người tham gia giao thơng ngày càng tăng thì việc kiềm chế và

giảm số vụ TNGT góp phần làm giảm số BN bị gẫy kín đầu dưới xương đùi, góp

phần làm giảm những tổn thất về kinh tế cho gia đình và xã hội.

4.2. Phân bố bên chân bị gẫy xương.

Theo kết quả ở Bảng 3.2, trong tổng số 72 BN thì bị tổn thương chi bên

phải có 29/72 BN (40,3%), chi bên trái có 43/72 BN (59,7%). Điều này phù

hợp với cơ chế và nguyên nhân của gẫy đầu dưới xương đùi chủ yếu là do

TNGT, nạn nhân điều khiển xe máy hoặc ngồi sau xe máy bị va đập vùng gối

vào vật cản là các phương tiện giao thông đi ngược chiều hoặc giải phân cách.

Kết quả của chúng tôi giống kết quả của:

- Giang Hoài Nam (2001) [20]: 12/36 BN (33,3%) chi bên phải, 24/36

BN (66,7%) chi bên trái.



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

2

- Lê Quốc Huy (2003) [9]: 19/51 BN (37,3%) chi bên phải, 32/51 BN

(62,7%) chi bên trái.



4.3. Về thương tổn phối hợp

- Theo bảng 3.3, các thương tổn phối hợp chúng tôi gặp đều là cùng bên

với chân bị gẫy. Các thương tổn đó là: vỡ xương bánh chè 5 BN, gẫy mâm

chầy 4 BN, gẫy thân xương chầy 1 BN, gẫy thân xương đùi 4 BN.

- Các thương tổn khác như rách, đứt các dây chằng khớp gối, tổn thương

động mạch khoeo, chúng tôi không gặp trường hợp nào. Để chẩn đoán các

dây chằng, phải tiến hành thăm khám đánh giá và kiểm tra trong mổ. Những

trường hợp nghi ngờ tổn thương động mạch khoeo cần được kiểm tra bằng

chụp mạch có cản quang, siêu âm Dopple mầu mạch máu trước mổ hoặc tổ

chức mổ cấp cứu để thăm dò và xử trí.

Theo Ianacome W.H., (1994) [39] thì tổn thương động mạch khoeo gặp

từ 1% đến 2% ở BN gẫy đầu dưới xương đùi.

- Với những trường hợp nghi ngờ tổn thương dây chằng khớp, sụn chêm,

có thể chụp cắt lớp vi tính (CT scanner) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI)

(1992) [28]; nhưng do giá thành cao nên chỉ định còn hạn chế. Một phương

tiện chẩn đốn hiệu quả cho loại tổn thương này là nội soi khớp gối, nhưng

phương pháp này chưa được phổ cập. Tổn thương dây chằng chéo và sụn

chêm thường để lại di chứng nặng nề. Theo Mize R.D., (1989) [51], nếu nghi

ngờ có tổn thương này thì nên bộc lộ rộng để thăm dò và có thái độ xử trí.

- Các tổn thương về xương đều được xử trí đồng thời và thực hiện KHX

vững chắc. Trong 4 BN gẫy mâm chầy, 1 BN gẫy thân xương chầy và 4 BN

gẫy thân xương đùi đều được tiến hành KHX bằng nẹp vis. Trong 5 trường

hợp gẫy xương bánh chè được tiến hành buộc chỉ thép và buộc vicryl, sau đó



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

3

bó bột ĐCBC tăng cường. Cách làm như vậy không cho phép BN tập vận

động sớm khớp gối, ảnh hưởng đến kết quả PHCN sau mổ.



4.4. Về phân loại gẫy đầu dưới xương đùi

- Từ trước đến nay có rất nhiều cách phân loại gẫy đầu dưới xương đùi

(như đã trình bày trong phần tổng quan). Nhưng hiện nay, phân loại của

AO/ASIF được Müller M.E. và cs nghiên cứu, xây dựng dựa trên hình ảnh

X-quang về vị trí và hình thái tổn thương. Theo cách phân loại này thì mức độ

nghiêm trọng của tổn thương tăng dần lên từ nhóm A đến nhóm C, nhưng tiên

lượng kết quả giảm dần (1994) [29]. Theo cách phân loại này, những loại gẫy

thuộc nhóm A là gẫy ngoại khớp, gẫy thuộc nhóm B và C là gẫy phạm khớp.

Hệ thống phân loại này rất có giá trị trên lầm sàng vì:

+ Cung cấp đầy đủ thông tin các loại gẫy để thống nhất trong chẩn đoán.

+ Giúp cho PTV lựa chọn phương pháp điều trị và phương tiện KHX

phù hợp.

+ Cung cấp các thông tin để tiên lượng kết quả điều trị cho mỗi loại gẫy

trên cơ sở những phương pháp điều trị được lựa chọn.

+ Tương đối đơn giản, dễ sử dụng.

- Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của

AO/ASIF, kết quả được phân bố như sau (bảng 3.4):

+ Nhóm A: có 20/72 BN (27,7%). Trong đó; A1 là 7, A2 là 9, A3 là 4.

+ Nhóm B: có 13/72 BN (18,1%). Trong đó; B1 là 4, B2 là 7, B3 là 2.

+ Nhóm C: có 39/72 BN (54,2%). Trong đó; C1 là 10, C2 là 22, C3 là 7.

Như vậy, nhóm C chiếm đa số và C2 chiếm tỷ lệ nhiều nhất. Nhóm C3

tuy có ít nhưng tổn thương thuộc nhóm C3 là tổn thương rất nặng nề, đối với



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

4

mặt khớp và lồi cầu đùi thường gây ra rất nhiều khó khăn trong phẫu thuật và

để lại kết quả điều trị kém sau phẫu thuật.

- Nhiều tác giả trên thế giới sử dụng phân loại này như: Mize R.D.,

(1985) và (1989) [51],[52]; Shewring D.J., (1992) [68]; Siliski J.M., (1989)

[69], v.v.

Ở Việt Nam: Đoàn Lê Dân và Đoàn Việt Quân (1998) [5] cũng áp dụng

phân loại của AO/ASIF trong điều trị.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi giống với kết quả của Giang Hồi

Nam (2001) [20], nhóm A là 25%, nhóm C là 75% và Lê Quốc Huy (2003)

[9], nhóm B là 13.7%, nhóm C là 86.3%.

Đồn Lê Dân và cs (1998) [5], nhóm A là 29.2%, nhóm B là 6.3%, nhóm

C là 64.5%.

4.5. Thời điểm phẫu thuật

Nguyên nhân gây gẫy đầu dưới xương đùi chủ yếu là do TNGT, tổn

thương thường phức tạp, và có thể kèm theo tổn thương phối hợp như sọ não,

lồng ngực, ổ bụng, khung chậu hoặc gẫy nhiều xương. Vì vậy, việc đầu tiên

BN phải được thăm khám một cách hệ thống để phát hiện tổn thương phối

hợp và chống sốc tốt.

Phẫu thuật được tiến hành sau khi đã thăm khám cẩn thận BN và đánh

giá đầy đủ các tổn thương, BN đã ở trong trạng thái ổn định, đồng thời các

phương triện KHX đã được chuẩn bị đầy đủ và PTV là người có kinh nghiệm

[28]. Đối với các gẫy xương phạm khớp nói chung thì việc tiến hành phẫu

thuật sớm có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho PHCN sau phẫu thuật tốt.

Theo Mize R.D., (1982) [53] thì thời điểm phẫu thuật tốt nhất là nên tiến

hành vào ngày thứ 3.

Theo Nguyễn Đức Phúc (2000) [11], nếu trì hỗn 3 tuần hoặc lâu hơn

nữa thì phẫu thuật khó khăn nhiều hơn vì khi đó chân bị biến dạng, di lệch

chồng và co cứng cơ gây ngắn chân, can nguyên thủy đã thành lập, phẫu thuật

thời điểm này gây chảy máu nhiều.



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

5

Theo David L.H., (1992) [28], phẫu thuật được tiến hành tốt nhất trong

vòng 48h đầu sau khi bị tổn thương.

Đặng Kim Châu (1976) [3], đối với gẫy đầu xương, dù là phạm khớp hay

khơng thì cần được xử trí sớm nhất trong điều kiện có thể để đảm bảo liền

xương đúng hình thể và phục hồi được cử động bình thường của khớp.

Theo kết quả bảng 3.5 thì số BN được mổ trong 48h đầu là 16BN

(22.2%), từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 là 52 BN (72.2%), từ ngày thứ 8 đến

ngày thứ 14 là 4 BN (5.6%), khơng có BN nào được mổ sau 14 ngày. BN có

thời gian mổ sớm nhất là 48h đầu (16 BN) và BN có thời giam mổ muộn nhất

là 13 ngày (1 BN) do BN nằm ở tuyến dưới quá lâu.

Như vậy, 100% số BN của chúng tôi được mổ trong phạm vi 2 tuần đầu,

số BN được mổ trong tuần đầu là 94.4%. Theo chúng tôi, trong điều kiện hiện

nay ở nước ta thì việc phẫu thuật nên tiến hành trong tuần đầu là tốt nhất.

Kết quả của chúng tơi giống với kết quả của:

+ Giang Hồi Nam (2001) [20], mổ trong tuần đầu là 28/36 BN (77.8%),

100% BN được mổ trong 2 tuần đầu.

+ Lê Quốc Huy (2003) [9], 49/51 BN (96.1%) BN được mổ trong 2 tuần đầu.

4.6. Chọn đường mổ

Chúng tôi chọn đường mổ phía trước ngồi cho gẫy TLC, TLC – LLC,

vỡ LCN. Đây là đường mổ thơng dụng, có nhiều ưu điểm, được nhiều tác giả

trong và ngoài nước sử dụng. Đường mổ này có những ưu điểm sau:

+ Vào ổ gẫy TLC và LLC xương đùi gần nhất

+ Cho phép bộc lộ rõ ràng mặt khớp lồi cầu đùi và vùng trên lồi cầu, có

thể mở rộng khi cần.

+ Khơng cắt qua cơ, tổn thương phầm mềm tối thiểu.

+ Cho phép che phủ ổ gẫy và phương tiện KHX một cách tốt nhất.

Tất cả các BN bị gẫy TLC, TLC – LLC, vỡ LCN đều được chúng tôi sử

đụng đường mổ này.

Mize R.D., (1982) [53] đã dùng đường mổ này cho 53/68 BN gẫy TLC –

LLC xương đùi. Tác giả đánh giá đường mổ này đủ để bộc lộ và KHX vững

cho loại gẫy này. Tuy nhiên, những trường hợp gẫy nội khớp nhiều mảnh, di



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

6

lệch nhiều hoặc mất xương cần phải bộc lộ rộng hơn, ông khuyên nên dùng

đường mổ trước ngoài mở rộng bằng cách kéo dài đường rạch xuống phía

dưới lồi củ xương chầy 1,5cm. Sau đó dùng khoan và đục để đục điểm bám

của gân bánh chè vào lồi củ trước xương chầy và kéo ngược gân bánh chè lên

trên. Toàn bộ mặt trước của hai lồi cầu xương đùi sẽ được bộc lộ. Tác giả

chọn đường mổ này cho 15/68 BN gẫy nội khớp phức tạp. Ơng nhận thấy có

thể phục hồi tốt cấu trúc giải phẫu và cố định xương bên trong vững chắc. Tuy

nhiên, chỉ khi nào thật cần thiết mới nên sử dụng vì đường mổ này bộc lộ quá

lớn, kéo dài thời gian phẫu thuật và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, v.v.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sử dụng đường mổ trước ngồi cho

61/72 BN, có 4/72 BN gẫy đầu dưới xương đùi phức tạp kèm theo gẫy mâm

chầy phối hợp, phải sử dụng đường mổ trước ngoài mở rộng.

Theo Siliski J.M., (1989) [69] và Shewring D.J., (1992) [68] thì khơng

nên bộc lộ đường mổ qúa rộng rãi sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và hạn

chế PHCN của khớp gối.

Ở nghiên cứu của Siliski J.M., (1989) [69], có 52 BN bị gẫy TLC – LLC

tác giả chỉ sử dụng đường mổ trước ngoài.

Đối với vỡ LCT hoặc gẫy TLC – LLC, cần sử dụng nẹp đôi trong KHX.

Chúng tơi sử dụng đường mổ phía trong (đã trình bày trong phần kỹ thuật).

Đường mổ này có ưu điểm có thể bộc lộ rộng rãi LCT, khơng cắt qua cơ tứ

đầu. Do đó, khơng làm ảnh hưởng đến chức năng gấp duỗi gối. Sanders R., và

cs (1991) [64]: dùng thêm đường mổ bên trong để KHX bằng hai nẹp cho 9

BN gẫy phức tạp LLC xương đùi.

4.7. Sử dụng phương tiện kết hợp xương

Lựa chọn phương tiện kết xương sao cho có khả năng cố định vững chắc

ổ gẫy để cho BN tập vận động sớm. Sự lựa chọn này dựa vào tính chất tổn

thương xương và tuổi của người bệnh. Theo Mize R.D., (1989) [51],

Shewring D.J., (1992) [68], đối với gẫy TLC – LLC xương đùi thì nẹp gập

góc 95°, nẹp DCS là phù hợp nhất. Tuy nhiên, đối với BN cao tuổi, loãng

xương, gẫy phức tạp thì nên sử dụng nẹp ốp lồi cầu đùi hoặc dùng thêm một



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

7

nẹp ở phía trong để chống lại hiện tượng uốn nẹp gây gập góc vào trong

(1991) [64].

Hiện nay, nẹp DCS được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Nó

có nhiều ưu điểm như: dễ sử dụng, tạo được lực ép ở diện gẫy LLC, đảm bảo

KHX được vững chắc, cho phép BN tập vận động sớm. Nhiều tác giả sử dụng

loại nẹp này và cho kết quả điều trị rất tốt như: Radfort P.J., (1992) [62],

Sanders R., (1984) [63], Shewring D.J., (1992) [68], v.v. Ở Việt Nam loại nẹp

này chưa được sử dụng nhiều (có thể do phương tiện chưa có sẵn phải phụ

thuộc vào việc nhập ngoại, hơn nữa giá thành loại nẹp này rất cao không phù

hợp với điều kiện kinh tế của đa số các BN).

Theo kết quả ở bảng 3.6, trong số 59 BN bị gẫy TLC, TLC – LLC:

+ 44 BN (74.6%) sử dụng nẹp DCP (nhóm A1 là 5, nhóm A2 là 7, nhóm

A3 là 4, nhóm C1 là 8, nhóm C2 là 16, nhóm C3 là 4).

+ Nẹp ốp lồi cầu đùi được sử dụng cho 5 BN (8.5%). Trong đó, nhóm C2

là 2 và nhóm C3 là 3.

+ Nẹp gập góc 95° được sử dụng cho 5 BN (8.5%). Trong đó, nhóm A1

là 1, nhóm A2 là 1, nhóm C1 là 1 và nhóm C2 là 2.

+ Nẹp DCS được sử dụng cho 5 BN (8.5%). Trong đó, nhóm A1 là 1,

nhóm A2 là 1, nhóm C1 là 1 và nhóm C2 là 2.

Như vậy, nẹp DCP được sử dụng cho cả nhóm A và nhóm C và chiếm tỷ

lệ cao nhất.

Đối với vỡ LCN và LCT đều được KHX bằng nhiều vis xốp 6.5 mm.

Việc KHX này đủ vững và cho phép BN tập vận động khớp gối sớm (13/13

BN nhóm B được sử dụng vis xốp).

4.8. Về kết quả điều trị

4.8.1. Kết quả liền xương

Qua 72 BN được theo dõi và kiểm tra chúng tôi thấy (theo kết quả ở bảng 3.11):

Bệnh nhân có thời gian theo dõi sau mổ ngắn nhất là 5 tháng, dài nhất là

31 tháng, trung bình là 14.7 ± 7.1 tháng. Tất cả các BN đều liền xương.



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

8

Theo kết quả của Chiron H.S., và Müller M.E., (1974) [24] thì thời gian

liền xương trung bình là 16 tuần, tỷ lệ liền xương là 100% và có 60% BN trên

lâm sàng liền xương trong 3 tháng đầu.

Mize R.D., (1989) [51] đạt liền xương ở tất cả 68 BN qua theo dõi 28

đến 52 tháng. Thời gian liền xương trung bình ở mỗi loại có khác nhau: với

gẫy loại C1 là 12.3 tuần, C2 là 13.1 tuần, C3 là 15.4 tuần.

Shewring D.J., (1992) [68] dùng nẹp DCS điều trị cho 21 BN tất cả đều

liền xương trong vòng 11.3 tuần.

Như vậy kết quả liền xương của chúng tơi khơng có sự khác biệt với các

tác giả khác.

4.8.2. Kết quả theo phân loại phục hồi chức năng của Terchiphorst

Theo kết quả ở bảng 3.21 chúng tơi có:

- Tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm A là 16/20 BN

- Tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm B là 12/13 BN

- Tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm C là 21/39 BN

- Tỷ lệ tốt và rất tốt của chung ba nhóm là 49/72 BN (68.1%)

So sánh tỷ lệ tốt và rất tốt của ba nhóm A, B và C chúng tơi thấy khơng

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0.05)

So sánh với các tác giả khác:

+ Đoàn Lê Dân và cs (1998) [5]: tỷ lệ tốt và rất tốt của ba nhóm là 23/48

BN (47.9%)

+ Giang Hồi Nam (2001) [20]: tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm A và C là

26/36 BN (72.2%)

+ Lê Quốc Huy (2003) [9]: tỷ lệ tốt và rất tốt của nhóm B và C là 30/51

BN (58.8%)

4.8.3. Kết quả phân loại theo tổn thương

Theo kết quả ở bảng 3.12 chúng tơi có:

- Kết quả tốt và rất tốt của nhóm A là 16/20 BN (80%), trong đó kết quả

tốt và rất tốt của A1 là 7/7 BN (100%), A2 là 7/9 BN (77.8%), A3 là 2/4 BN

(50%).



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

6

9

- Kết quả tốt và rất tốt của nhóm B là 12/13 BN (92.3%), trong đó kết

quả tốt và rất tốt của B1 là 4/4 BN (100%), B2 là 6/7 BN (85.7%), B3 là 2/2

BN (100%).

- Kết quả tốt và rất tốt của nhóm C là 21/39 BN (53.8%), trong đó kết

quả tốt và rất tốt của C1 là 9/10 BN (90%), C2 là 11/22 BN (50%), C3 là 1/7

BN (14.3%).

Qua so sánh chúng tơi thấy khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa các nhóm: A và B, B và C, A và C về kết quả điều trị (p > 0.05).

Qua so sánh chúng tơi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

nhóm C1 và C3 về kết quả điều trị với p < 0.05. Tuy nhiên, chúng tơi thấy

khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị giữa nhóm C2

và C3 (p> 0.05).

Trên thực tế lâm sàng, những trường hợp thuộc nhóm C1 do thương tổn

đơn giản nên việc KHX đạt được vững chắc hơn cho phép BN tập luyện được

sớm hơn nên kết quả điều trị tốt hơn nhóm C2 và C3.

Siliski J.M., [69], trong số 52 BN bị gẫy TLC-LLC được điều trị KHX

bên trong thì kết quả tốt và rất tốt của nhóm C1 là 92%, C2 và C3 là 77%.

4.8.4. Kết quả theo phương tiện kết hợp xương

Theo kết quả bảng 3.13 chúng tơi dùng vis xốp cho nhóm B đạt kết quả

tốt và rất tốt là 12/13 BN (92.3%).

Các loại nẹp DCP, DCS, nẹp góc 95°, nẹp ốp lồi cầu xương đùi được

dùng cho nhóm A và C, kết quả của từng loại như sau:

Kết quả tốt và rất tốt của nẹp DCP là 29/44 BN (65.9%), của nẹp DCS là

4/5 BN (80%), của nẹp góc 95° là 4/5 BN (80%) và của nẹp ốp lồi cầu xương

đùi là 0/5 BN.

4.8.5. Kết quả theo tuổi bệnh nhân

Theo kết quả ở bảng 3.14 chúng tơi có:

Nhóm từ 18 tuổi đến 60 tuổi có 62 BN, kết quả tốt và rất tốt là 43 BN

(69.4%).

Nhóm tuổi trên 60 có 10 BN, BN tuổi cao nhất là 80. Kết quả tốt và rất

tốt là 6 BN (60%).



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

7

0

Qua so sánh chúng tơi thấy khơng có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa

các nhóm tuổi (p > 0.05).

Siliski J.M., và cs (1989) [69], nghiên cứu ở 52 BN có thời gian theo dõi

từ 20 đến 120 tháng cũng đưa ra nhận xét rằng tuổi không ảnh hưởng đến kết

quả điều trị cuối cùng, mặc dù những BN cao tuổi có thời gian nằm viện dài hơn.

Vấn đề điều trị phẫu thuật cho người cao tuổi cũng được rất nhiều tác giả

quan tâm. Theo Mize R.D., thì vấn đề tuổi cao đơn thuần không nên xem như

là một chống chỉ định cho phẫu thuật cố định bên trong. Mize R.D., và cs

(1982)[53] đã đạt được kết quả tốt và rất tốt ở 8/11 BN ở người có độ tuổi trên

60. Phẫu thuật KHX giúp cho BN vận động sớm tránh được những biến

chứng do thời gian bất động kéo dài. Đối với người già do xương thưa lỗng,

vis bám khơng chắc, do vậy thường gặp khó khăn. Các tác giả đã dùng xi

măng xương để tăng cường độ giữ vis của xương.

4.8.6. Quá trình tập luyện phục hồi chức năng sau phẫu thuật

Sự tập luyện PHCN sau phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng vì kết quả PHCN

đạt được phụ thuộc vào việc tập luyện của BN. Nó là một yếu tố không thể thiếu

để giúp BN đạt được kết quả tốt sau mổ.

Theo kết quả bảng 3.15 số BN được tập luyện sau PT tại bệnh viện là

12/72 BN (16.7%). Số BN tự tập tại nhà theo hướng dẫn của phẫu thuật viên

là 60/72 BN (83.3%).

Như vậy, phần lớn BN là tự tập tại nhà nên việc khám BN định kỳ sau

PT nhằm giúp họ tự tập luyện đúng phương pháp có vai trò quan trọng để đạt

được kết quả tốt sau PT.

4.8.7. Liên quan giữa thời gian bắt đầu tập luyện đến kết quả sau PT

Theo Siliski J.M., (1989) [69] thì PT cố định bên trong vững chắc sẽ cho

phép BN phục hồi chức năng sau PT sớm và giảm tỷ lệ can lệch, chậm liền

xương.

Theo kết quả bảng 3.16 và 3.17 thì số BN được tập luyện trong 14 ngày

đầu là 16 BN (22.2%) có kết quả tốt và rất tốt là 15/16 BN (93.8%), từ ngày

15 đến ngày 28 là 19 BN (26.4%) có kết quả tốt và rất tốt là 15/19 BN



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

7

1

(78.9%) và trên 28 ngày là 37 BN (51.4%) có kết quả tốt và rất tốt là 19/37

BN (51.4%).

Chỉ có những BN gẫy đơn giản, cố định thực sự vững chắc thì mới có thể

tập vận động sớm, còn những BN gẫy phức tạp, cố định không thực sự vững

chắc thì phải tập luyện muộn hơn.

So sánh kết quả giữa nhóm được tập luyện sớm (trong 14 ngày đầu) và

nhóm tập luyện muộn (trên 28 ngày) về kết quả điều trị sau PT chúng tơi thấy

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.

4.8.8. Biên độ vận động của khớp gối

Sự phục hồi khả năng vận động của khớp gối là một trong những mục

đích cơ bản của phẫu thuật KHX trong điều trị gẫy đầu dưới xương đùi. Đây

cũng là một vấn đề khó khăn trong điều trị. Việc phục hồi tốt hình thể giải

phẫu, tương quan giữa các diện khớp và cố định xương vững chắc tạo điều

kiện cho BN vận động sớm tạo điều kiện cho xương liền nhanh và PHCN tốt.

Khả năng gấp duỗi của khớp gối còn phụ thuộc vào loại gẫy. Gẫy càng phức

tạp thì khả năng phục hồi càng kém. Theo Mize R.D., (1989) [51] và Davis

S.M., (1994) [29] thì khơng thể KHX hồn hảo cho tất cả các trường hợp gẫy

TLC-LLC, nhất là gẫy loại C3 phức tạp, nhiều mảnh và ở người già quá loãng

xương, khả năng PHCN rất hạn chế.

Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.18 có: 20/72 BN (27.8%) đạt gấp gối

trên 120°, 29/72 BN (40.3%) đạt gấp gối từ 90° đến 120°, 18/72 BN (25%)

đạt gấp gối dưới 90° và có 5 BN (6.9%) cứng gối hồn tồn. Biên độ gấp gối

trung bình của ba nhóm là: 92.6 ± 7.8°.

Riêng của nhóm C thì biên độ gấp gối trung bình của nhóm C1 là 109.6°,

của nhóm C2 là 92.4° và của nhóm C3 là 52.6°.

So sánh với nghiên cứu của Siliski J.M., (1989) [69] kết quả gấp gối

trung bình đạt 107° (từ 113° với loại gẫy C1 đến 99° với loại gẫy C3) thì kết

quả của chúng tơi thấp hơn, đặc biệt là đối với gẫy loại C3. Điều này phản

ánh những hạn chế về kỹ thuật cũng như về mức độ tập luyện PHCN sau PT.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong tổng số 72 BN bị gẫy kín đầu dưới xương đùi được điều trị phẫu thuật và theo dõi tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 05 năm 2009 có:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×