Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số nghiên cứu liên quan đến TNTT

3 Một số nghiên cứu liên quan đến TNTT

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



Nepal đã cho thấy rằng hầu hết các thương tích giao thông đường bộ xảy ra trong

ngày cuối tuần và gần 17% các tai nạn xảy ra do ảnh hưởng của rượu [29].

Nghiên cứu tại Thái Lan vào năm 2003, tỉ lệ tử vong do TNGT bắt đầu tăng

vào cuối những năm 1980. Khoảng 80% nạn nhân là người đi xe máy và 50% trong

số đó bị tổn thương ở đầu. Để giảm tử vong liên quan đến xe máy, luật đội mũ bảo

hiểm cho người đi xe máy được thi hành năm 1994. Do đó số người bị tổn thương

đầu giảm 41,1% và tử vong giảm 20,8%[31].

Một nghiên cứu mang tính khả thi nhằm giám sát chấn thương do TNGT tại

Bangalore và Pune ở Ấn Độ được thực hiện bởi Hội đồng nghiên cứu y khoa Ấn Độ

vào năm 2006-2007. Các dữ liệu cho thấy người đi xe hai bánh thường xuyên bị

thương, chiếm 30% trong tất cả các nạn nhân TNGT. Dữ liệu từ bộ phận cảnh sát

Ấn Độ cho thấy rằng xe máy chiếm 44% trong tất cả các vụ TNGT năm 2001 và

dần dần tăng lên đến hơn 68% trong năm 2007 [40].

Nghiên cứu tại Nepal năm 2007 cho thấy, rất khó để thống kê một cách chính

xác số vụ TNGT. Chỉ có những vụ tai nạn chấn thương nghiêm trọng và có tranh

chấp thì mới nằm trong báo cáo của cảnh sát. Tổng số vụ TNGT tại Nepal vào năm

2006 là 1752, trong số đó 102 trường hợp đã tử vong, 345 bị thương nặng. Tuy

nhiên qua một thời gian dài thì khơng có trong báo cáo của cảnh sát, do đó khơng

phản ánh được tình trạng thực tế. Vì vậy nếu muốn nắm rõ con số thực tế thì cần

phải tiến hành điều tra trên chính nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân[32].

Theo dự án Gánh nặng bệnh tật toàn cầu của WHO năm 2004, trên tồn thế

giới ước tính có 424.000 người thuộc mọi lứa tuổi tử vong do ngã. Đa số các ca tử

vong do ngã là người lớn[30]. Các số liệu về tử vong do ngã được WHO công bố

cho thấy khác biệt quan trọng giữa các khu vực, và giữa các quốc gia trong khu vực.

Các quốc gia thu nhập cao ở châu Mỹ, châu Âu và các khu vực Tây Thái Bình

Dương có tỷ lệ tử vong trung bình vào khoảng 0,2-1,0 trên 100.000 dân trẻ em dưới

20 tuổi. Tuy nhiên, các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở cùng khu vực báo

cáo tỷ lệ cao hơn gấp ba lần. Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở các khu

vực Đơng Nam Á và Đơng Địa Trung Hải có tỷ lệ trung bình cao nhất lần lượt là



29



2,7/100.000 dân và 2,9/100.000 dân. Rất có khả năng rằng mức này cao hơn nhiều ở

một số nơi khác, tuy nhiên cũng có khả năng tình trạng phân loại sai số liệu đã xảy

ra [39].

1.3.2 Tại Việt Nam

Năm 2003, nghiên cứu “Đặc điểm chấn thương do TNGT của người dân đến

điều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Bến Lức từ tháng 1/2003 đến tháng 1/2004” của

Lê Thị Hồng Thi cho kết quả tỉ lệ nạn nhân bị TNGT ở nhóm tuổi từ 16 – 25 chiếm

tỉ lệ cao (38,7%), tỉ lệ nạn nhân là nam nhiều hơn nữ (71,8% so với 28,2%)[23].

Năm 2003, cuộc Điều tra Liên trường về Chấn thương ở Việt Nam (VMIS)

của Lê Vũ Anh và cộng sự là một cuộc điều tra mang tính quốc gia về các trường

hợp tử vong do tất cả mọi nguyên nhân và những thông tin về các chấn thương

nghiêm trọng ở mọi lứa tuổi của người dân Việt Nam. Nghiên cứu này được thực

hiện thông qua việc đến thăm và phỏng vấn trực tiếp các hộ nằm trong mẫu đại diện

gồm 27.000 hộ gia đình thuộc tất cả tám vùng sinh thái của Việt Nam. Điều tra viên

đã đến thăm các hộ gia đình để thực hiện phỏng vấn theo bộ câu hỏi về các trường

hợp tử vong do tất cả các nhóm nguyên nhân (bệnh truyền nhiễm, bệnh mạn tính và

chấn thương) và về các trường hợp chấn thương không gây tử vong xảy ra trong

năm trước đó. Tất cả các dữ liệu đã được phân tích để xác định các mơ hình bệnh tật

và tử vong khác nhau theo lứa tuổi, giới tính và nguyên nhân. Báo cáo này thể hiện

các kết quả phân tích số liệu theo những nhóm tuổi khác nhau. Là một cuộc điều tra

được thực hiện trực tiếp tại các hộ gia đình trong cộng đồng, nghiên cứu này đã loại

bỏ được những sai lệch có liên quan đến các hệ thống báo cáo tại bệnh viện và các

hệ thống theo dõi dựa vào các cơ sở y tế khác. Nghiên cứu này đã cung cấp những

số liệu nền cơ bản nhất về chấn thương ở Việt Nam, do vậy nên được tiến hành định

kỳ (sau khoảng một vài năm) để có thể thấy được xu hướng biến thiên của tình hình

chấn thương, cũng như giám sát được hiệu quả của các chương trình can thiệp ở cấp

quốc gia hay khu vực. Kết quả nghiên cứu cho thấy chấn thương không gây tử vong

ở nam cao hơn hẳn nữ (7.064 so với 3.945). Tỉ suất tử vong do thương tích chung ở

Việt Nam là 88,3%/100.000, ở nam là 123 và nữ là 56. Chấn thương giao thông



30



đứng hàng đầu với tỉ suất không gây tử vong là 1.409/100.000 và ở nam gấp 1.8 lần

nữ. Ngã là nguyên nhân đứng thứ 2 với tỉ suất 1.322, sau đó là bị động vật cắn

(1.105), vật sắc (950). Các kết quả sơ bộ cho thấy rằng chấn thương nổi lên như là

một gánh nặng bệnh tật và tử vong hàng đầu tại Việt Nam[2].

Một nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại khu vực Đông Nam Bộ của Đỗ Văn

Dũng và cộng sự vào năm 2011, khảo sát khoảng 4.000 hộ gồm 19.153 người thuộc

3 tỉnh thành, kết quả cho thấy tỉ suất chấn thương là 570, chiếm tỉ lệ cao hơn các

bệnh truyền nhiễm và bệnh mãn tính[15].

Năm 2011, nghiên cứu về tình hình cấp cứu TNTT tại bệnh viện Việt Đức từ

năm 2009 – 2010 của Nguyễn Đức Chính và cộng sự, kết quả cho thấy có tổng số

62.229 trường hợp khám cấp cứu tại bệnh viện do TNTT trong 2 năm. Trong đó

nam có 45.393 trường hợp, chiếm 72,9%, nữ có 16.836 trường hợp, chiếm 27,1%.

Tuổi từ 20 đến 59 có 44.255 bệnh nhân, chiếm 71,1%. TNGT có 35,753 trường hợp,

chiếm 57,5%, trong đó có 12.038 bệnh nhân chấn thương sọ não, chiếm 33,7%, số

chấn thương sọ não do không mang mũ bảo hiểm chiếm 27,3%. TNGT liên quan xe

máy có 14.484 trường hợp, chiếm 40,5%. Tử vong và nặng về có 2.220, trong đó

chủ yếu do chấn thương sọ não có 1.525 trường hợp chiếm tỉ lệ 69%[12].

Năm 2011, theo báo cáo của Bộ Y Tế về gánh nặng bệnh tật và chấn thương

tại Việt Nam năm 2008, DALYs do chấn thương không chủ định ở nam cao hơn 2,5

lần ở nữ (1.229 so với 505). Trong số các chấn thương không chủ định, tai nạn giao

thông gây ra gánh nặng bệnh tật lớn nhất trong tổng gánh nặng bệnh tật với 4% ở

nữ và 8% ở nam. Ngã và đuối nước cũng là hai nguyên nhân chính của gánh nặng

do chấn thương không chủ định ở cả hai giới[5].

Năm 2011, một nghiên cứu khảo sát hậu quả TNTT ở trẻ em dưới 15 tuổi

nhập viện tại quận Tân Phú của Lê Nữ Thanh Uyên, Trần Thiện Thuần, kết quả cho

thấy đa số các trẻ em nhập viện là do nguyên nhân té ngã chiếm tỉ lệ 65%, địa điểm

58,8%, tỉ lệ chấn thương đầu, mặt cổ 50,4%, hầu như chấn thương ngoài da 75,6%

[26].



31



Năm 2011, theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng và Mơi trường, tổng hợp từ

các nghiên cứu nổi bật về TNTT trong năm 2011[14], tỉ lệ mắc tai nạn giao thông

(TNGT) vẫn đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm 39,4%, giảm

1,6% so với năm 2008. Tiếp theo là tai nạn lao động 15,1%, ngã 12,3%, bạo lực

6,9%. Một số nguyên nhân có xu hướng tăng gồm ngộ độc, ngã. Như vậy, năm

2009 tỷ lệ mắc tai nạn thương tích tăng so với năm 2008 nhưng tỷ lệ tử vong do tai

nạn thương tích có giảm. Tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn giao thơng, đuối nước

giảm. Nhóm tuổi từ 20-60 là nhóm tuổi mắc và tử vong do tai nạn thương tích cao

nhất. Nam giới có tỷ lệ mắc và tử vong do TNTT cao gấp 3 lần nữ giới. Tai nạn giao

thông chiếm tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất so với các loại hình tai nạn khác. Tỷ lệ

TNGT nhập viện chiếm 34,3%, tỷ lệ chấn thương sọ não chiếm 25,3%.

Năm 2012, một số nghiên cứu nổi bật về TNTT từ năm 2006 – 2011, của Cục

Quản lý Mơi trường y tế [14]:

Nghiên cứu “Đánh giá tình hình sử dụng bia rượu ở bệnh nhân tai nạn giao

thơng tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 3

năm 2011”, kết quả cho thấy đối tượng nhập viện đa số ở nhóm tuổi 20 – 29 tuổi

(trên 50%), người lái xe máy (72,7%) trong đó 40,5% chấn thương sọ não. Đối

tượng có uống rượu từ 20 – 29 tuổi (44,7%), đa số là nam giới (98,3%).

Nghiên cứu về “Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ đến cấp cứu và điều

trị tại 43 bệnh viện ở Việt Nam vào năm 2010” kết quả cho thấy có 117.317 trường

hợp TNGT, nam giới (73%), chấn thương sọ não do TNGT chiếm 17,8%, trong đó

nam giới 78,8%.

Nghiên cứu “Tình hình tai nạn giao thơng tại 03 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng và

Bình Dương năm 2006 – 2007”, kết quả: Nam giới chiếm 69,6%, độ tuổi 15 – 49

chiếm đa số (73,7%), tỉ lệ nạn nhân bị thương ở đầu/mặt/cổ chiếm 44,8%.

Năm 2012, nghiên cứu giải pháp can thiệp phòng chống TNTT cho học sinh

tiểu học dựa vào nhà trường tại Thành phố Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Thúy

Quỳnh, kết quả cho thấy[19]: tỷ suất TNTT không tử vong của học sinh là

387/100.000. Sáu nguyên nhân gây TNTT là ngã, TNGT, bỏng, đuối nước, động vật



32



tấn cơng. Trong đó 3 ngun nhân hàng đầu là ngã, TNGT và bỏng. Hai nguyên

nhân chính gây tử vong do TNTT là đuối nước và ngã. Một số yếu tố liên quan: học

sinh nơng thơn có nguy cơ TNTT cao gấp 2 lần học sinh thành thị; TNTT ở nam cao

gấp hơn 2 lần so với nữ ở hầu hết các nguyên nhân TNTT; TNTT xảy ra nhiều nhất

ở trên đường phố, đường làng (31,5%), thứ nhì ở nhà (29,6%) và thứ ba ở trường

(21,7%). Trường học xảy ra ngã nhiều nhất, chiếm 38,2% các trường hợp TNTT ở

trường. TNGT xảy ra nhiều trên đường phố, đường làng (80%); bỏng chủ yếu tại

nhà, chiếm hơn 93,3%.

Như vậy, chúng ta có thể thấy, qua hơn 10 năm thực hiện nghị định của chính

phủ về phòng chống TNTT, với sự phối hợp của nhiều ban nghành, mặc dù đã đạt

được những kết quả nhất định, song cơng tác phòng chống tai nạn thương tích ở

Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao, con số báo cáo về TNTT

hàng năm vẫn còn khá cao, vẫn chiếm hàng đầu trong các nguyên nhân nhập viện,

tử vong, đặc biệt là TNGT. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về phòng chống

tai nạn thương tích dù có chuyển biến nhưng vẫn chưa cao vẫn đang là một mối

thách thức lớn.

Một điều đáng lo ngại nữa được đặt ra là còn có hàng trăm ngàn trường hợp bị

tai nạn thương tích khơng dẫn đến tử vong mỗi năm đang cần được điều trị và có

thể phải chăm sóc lâu dài … Những con số này được tích lũy hàng năm và tạo ra

một gánh nặng lớn cho Việt Nam trong việc chăm sóc và cung cấp các phúc lợi xã

hội cho nhóm này. Đây chính là gánh nặng khổng lồ mà hệ thống y tế cũng như các

gia đình, cộng đồng và xã hội đang phải gánh chịu Ngoài ra, các di chứng do TNTT

cũng sẽ làm mất đi cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho gia đình của nạn nhân và

góp phần đẩy họ vào nguy cơ đói nghèo.



33



CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1 Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian:

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2012 đến tháng 8/2012.

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh.

2.3 Đối tượng nghiên cứu:

2.3.1 Dân số mục tiêu

Tất cả các trường hợp TNTT có địa chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh, đến

khám và điều trị tại các cơ sở y tế thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Minh từ

01/01/2007 đến 31/12/2011 (bao gồm các trường hợp được ghi nhận và không được

ghi nhận tại cơ sở y tế).

2.3.2 Dân số chọn mẫu

Tất cả các trường hợp TNTT có địa chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh được ghi

nhận khi đến khám và điều trị và tại các cơ sở y tế thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí

Minh từ 01/01/2007 đến 31/12/2011.

2.4 Cỡ mẫu

Lấy mẫu toàn bộ các trường hợp TNTT có địa chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh

được ghi nhận khi đến khám và điều trị và tại 42 cơ sở y tế trực thuộc Sở Y tế thành

phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2007 đến 31/12/2011.



34



2.5 Kỹ thuật chọn mẫu:



Bệnh viện thành phố



Số liệu TNTT



Bệnh viện quận huyện



Bệnh viện tư nhân



Trung tâm Y tế dự phòng



Sở Y tế

Không đầy đủ thông tin

Nhập sai thông tin



Loại

Chọn

Nhập đầy đủ

thông tin theo phiếu TNTT



Loại những các ca trùng tuổi, năm



Chọn lấy những trường hợp

bị TNTT có địa chỉ

tại TP.HCM



sinh, năm nhập viện, đơn vị, nghề

nghiệp, nguyên nhân tai nạn



Hạn chế trùng lắp



Mẫu nghiên cứu có đầy đủ thơng tin

về tuổi, giới, năm sinh, nghề nghiệp,

Hình 2.9. Sơ đồ kỹ thuật chọn mẫu



nguyên nhân TNTT, địa điểm xảy ra

tai nạn, bộ phận bị thương, diễn biến,

nơi xử trí ban đầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số nghiên cứu liên quan đến TNTT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×