Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Một số khái niệm liên quan

1 Một số khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Phân loại mức độ TNTT: TNTT có thể được phân thành các mức độ sau

đây:

-



TNTT nhẹ: người bị tai nạn cần khám và điều trị, cần phải nghỉ học-nghỉ làm

việc hoặc ngừng hoạt động trong ít nhất 1 ngày.



-



TNTT khá nặng: người bị tai nạn nằm viện hoặc dùng thuốc ít nhất 9 ngày.



-



TNTT nặng: người bị tai nạn phải nằm viện hoặc dùng thuốc 10 ngày trở lên.



-



TNTT nguy hiểm: người bị nạn bị di chứng (mất chức năng một số cơ quan).



-



TNTT gây chết người.

Trường hợp bị thương được nghỉ phép: là những chấn thương mà nạn



nhân cần đến sự chăm sóc y tế, hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm việc hoặc hạn chế sinh

hoạt bình thường tối thiểu một ngày.

Tử vong do thương tích: là những trường hợp tử vong do ngun nhân

thương tích trong vòng một tháng sau khi xảy ra tai nạn.

Vụ tai nạn: là những vụ việc xảy ra do va chạm, đổ xe, lật thuyền, sập nhà,

hầm lò... Một vụ tai nạn có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại về vật chất hoặc người.

Một vụ tai nạn có thể khơng có nạn nhân hoặc có thể có nhiều hơn một nạn nhân.

1.1.2 Các nguyên nhân gây TNTT

TNGT: là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người,

xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông

công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông cộng cộng nhưng do chủ

quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuất

khơng kịp phanh tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ.

Đặc điểm: Xảy ra trên đường cộng cộng dành cho người và phương tiện giao

thơng đi lại. Có hậu quả là 1 hoặc nhiều người bị chết hoặc bị thương. Có ít nhất

một phương tiện giao thơng liên quan. Như vậy TNGT được tính là tất cả các trường

hợp xảy ra trên các tuyến đường bao gồm đường bộ, thuỷ, đường sắt, hàng không...

TNLĐ: là những trường hợp chấn thương xảy ra do tác động của các yếu tố

nguy hiểm độc hại trong lao động gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào

của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động gắn



7



liền với việc thực hiện nhiệm vụ lao động trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc

thu dọn sau khi làm việc. TNLĐ bao gồm các tai nạn xảy ra trong các lĩnh vực sản

xuất công, nông, lâm, ngư nghiệp...

Tai nạn trong trường học: các trường hợp chấn thương xảy ra trong khuôn

viên của trường như: trong lớp học, sân trường, khu luyện tập thể thao, hành lang,

khu vệ sinh.

Ngã: bao gồm tất cả các trường hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao

thông và lao động.

Súc vật cắn, đốt, húc: là trường hợp bị các loại động vật tấn cơng con người

như: chó, mèo, rắn, châu, bò...

Đuối nước/ngạt: đuối nước là bị ngạt do chìm trong chất lỏng nhưng khơng

tử vong, nạn nhân cần đến chăm sóc y tế hoặc đôi khi gây ra các biến chứng khác

cho nạn nhân. Chết đuối là trường hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất

lỏng (như: nước, xăng, dầu…).

Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng

nóng, chất rắn nóng, lửa. Các chấn thương da do sự phát xạ tia cực tím hoặc phóng

xạ, điện, hố chất…

Ngộ độc: là những trường hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc tố

dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cấp cần có sự chăm sóc y tế.

Tự tử: là trường hợp chấn thương, ngộ độc, hoặc ngạt…do chính nạn nhân

tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính họ.

Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm doạ hoặc

đánh đập người, nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn

thương tinh thần, chậm phát triển.

Khác: là trường hợp khác ngồi các trường hợp trên như: sét đánh, sặc bột,

hóc xuơng...

1.2



Tình hình TNTT

1.2.1 Trên thế giới

TNTT có thể xảy ra ở mọi nơi, ở mọi lứa tuổi với nhiều mức độ khác nhau,

nên hiện nó đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Hàng năm trên thế giới,



8



TNTT làm ít nhất 5,5 triệu người chết và gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn, ở

nhiều nước số người bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% tổng số bệnh nhân,

thiệt hại ước tính hàng nghìn tỉ đơ la Mỹ, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân. Theo

WHO, trong năm 2002, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 người chết do các

loại thương tích[40]. Theo báo cáo gánh nặng bệnh tật của thế giới năm 2008, tỷ lệ

tử vong do thương tích ở trẻ em ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cao hơn

3, 4 lần so với ở các quốc gia thu nhập cao và có sự khác biệt lớn giữa các loại hình

tử vong do thương tích.

Tình hình TNGT

Trong các ngun nhân gây TNTT, TNGT đường bộ gây ra số ca tử vong với

tỷ lệ cao, hàng năm lấy đi sinh mạng của khoảng 1,2 triệu người, và làm bị thương

và tàn tật hơn 20-50 triệu người, khoảng 60% trong số đó tập trung ở khu vực Châu

Á-Thái Bình Dương, nơi mà số phương tiện giao thông chỉ chiếm 16% của thế giới.

Trong 8 năm (1987-1995), số tử vong do tai nạn đường bộ ở đây tăng đến 40%.

Hơn 90% số trường hợp tử vong do TNGT trên thế giới xảy ra ở các nước có thu

nhập thấp và trung bình. Trong đó, trẻ em, người đi bộ, đi xe đạp và người cao tuổi

là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Chi phí cho TNGT là

khổng lồ. Ở các quốc gia đang phát triển, chỉ riêng TNGT đường bộ mỗi năm chiếm

khoảng 1%–2% tổng sản phẩm quốc nội (khoảng 100 tỉ đô la Mỹ), hoặc gấp hai lần

tổng số tiền viện trợ phát triển mà các quốc gia đang phát triển trên tồn thế giới

nhận được. Vì vậy rất cần phải có các đáp ứng chi phí hiệu quả và có mục tiêu tốt

[38]. Và nếu xu hướng này tiếp tục, TNGT được dự đoán sẽ trở thành một trong

năm nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vào năm 2030. Cụ thể, số người chết và tàn

tật hàng ngày do TNGT đường bộ trên thế giới sẽ tăng hơn 60% vào năm 2020, loại

tai nạn này sẽ đứng hàng thứ 3 trong những nguyên nhân gây TNTT sau bệnh tim

mạch và bệnh trầm cảm[39].

Một nghiên cứu tại các quốc gia thu nhập thấp đánh giá các biện pháp can

thiệp nhằm làm giảm TNTT tại nhà và khi giao thông trên đường phố. Nghiên cứu

này cũng đánh giá hiệu quả của các phương pháp phòng chống TNTT đang được



9



triển khai tại các nước đang phát triển áp dụng cho các quốc gia thu nhập thấp. Kết

quả cho thấy các biện pháp sau mang lại hiệu quả trong phòng chống TNTT thắt

dây an tồn trên xe ơ tơ, đội mũ bảo hiểm xe đạp, xe máy, lái xe với vận tốc giới

hạn, sử dụng biển báo qua đường cho người đi bộ, chiếu đủ sáng cho đường, phân

luồng cho người đi bộ với xe cộ, các biện pháp nâng cao khả năng nhận biết cho

người lưu thông trên đường, như sử dụng các sản phẩm phản quang, thiết bị an toàn

đơn giản[30].

Tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng đến mức Đại hội đồng Liên hiệp

quốc thông qua Nghị quyết A/RES/64/255 ngày 02/3/2010 tuyên bố giai đoạn 20112020 là “Thập kỷ hành động vì an tồn đường bộ” là ngun nhân gây ra cái chết

khoảng 1,3 triệu người và 50 triệu người bị thương trên thế giới mỗi năm. Có trên

90% tai nạn xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, nơi chỉ có 48%

phương tiện giao thơng trên thế giới. Theo WHO (2009), Myanma có tỷ lệ người

chết do TNGT tương đối cao: 15,67 người/10.000 phương tiện, Việt Nam là 5,36

người/10.000 phương tiện, tỷ lệ này thấp ở Nhật: 0,73 người/10.000 phương tiện.

Năm 2011 tỷ lệ số người chết do TNGT ở Việt Nam giảm còn 2,94 người/10.000

phương tiện (hình 1 và hình 2).



Hình 1.1. Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 10.000 phương tiện



10



Hình 1.2. Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 100.000 dân ở các nước



Hình 1.3. So sánh mật độ xe mơ tô, gắn máy trên 1.000 người

Hàn Quốc là một trong những nước có hạ tầng giao thơng khá tốt ở châu Á.

So sánh đường quốc lộ, Việt Nam còn rất khiêm tốn, mật độ chỉ có 0,05km/km2 và

0,2 km/1.000 dân, trong khi Thái Lan là 0,11km/km2 và 0,9 km/1.000 dân (BĐ5).



11



Hình 1.4. So sánh mật độ quốc lộ

Các nước đều có những quy định khi điều khiển xe trên đường như giới hạn

tốc độ, bắt buộc đội nón bảo hiểm, thắt dây an tồn khi lái xe, khơng điều khiển xe

khi uống rượu, v.v… Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, có 40% các quốc gia bắt

buộc đội mũ bảo hiểm, 57% các quốc gia bắt buộc thắt dây an tồn khi điều khiển

xe. Còn về giới hạn tốc độ xe, có 62% các quốc gia giới hạn bằng hoặc dưới

50km/giờ trong đơ thị, chỉ có 2% cho phép tốc độ xe lưu thông trong đô thị lớn hơn

90km/giờ, như: Iraq, Lebanon, Quatar, riêng Oman cho phép lưu thơng trong đơ thị

đến 120km/giờ.[28]

Tình hình TNTT do súc vật cắn/đốt/húc

TNTT do súc vật cắn/đốt/húc mà cụ thể là chó, mèo cắn người cũng

chiếm tỷ lệ cao tại các nước nghèo. Ngồi các thương tích do chó, mèo gây ra

nạn nhân còn có nguy cơ mắc bệnh dại. Tại các quốc gia nơi bệnh dại là một

dịch bệnh địa phương như Ấn Độ, Trung quốc và nhiều vùng của châu Phi,

một vết chó cắn có thể khơng nghiêm trọng nhưng lại có thể gây tử vong.

Bệnh dại là nguyên nhân phổ biến thứ 10 gây tử vong do nhiễm trùng trên

toàn thế giới. Trên 99% trong số 55.000 người chết hàng năm do bệnh dại

xảy ra ở châu Á và châu Phi[39].

Tình hình đuối nước

Theo WHO, trong năm 2000 có 450.000 trường hợp đuối nước trên

tồn thế giới, trong đó có 97% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có



12



thu nhập trung bình và thấp[36]. Theo UNICEF, 50% các trường hợp đuối

nước dẫn đến tử vong, một trong những nguyên nhân phải kể đến là do nạn

nhân bị đuối nước thường không được can thiệp y tế kịp thời[37].

Tình hình bỏng

Theo ước tính của WHO năm 2004, tỷ lệ tử vong do bỏng ở các quốc

gia thu nhập thấp và trung bình ở Châu Phi và Đơng Nam Á cao gấp 11 lần

so với tỷ lệ đó ở các quốc gia thu nhập cao[37]. Khu vực Đông Nam Á đóng

góp tới 10% các trường hợp bỏng trên thế giới. Hàng loạt các nghiên cứu dựa

vào số liệu bệnh viện cho thấy, TNTT do bỏng chiếm tỷ lệ tử vong cao (20 40%), và chiếm khoảng 10 - 30% số trường hợp nhập viện. Hầu hết các

trường hợp TNTT do bỏng đều xảy ra khi đun nấu bằng bếp củi, dầu hoặc

chạm vào các đồ dùng nấu ăn còn nóng. Ngồi ra các ngun nhân do nước

sơi và điện cũng chiếm một tỷ lệ khơng nhỏ[33].

Tình hình ngã

Theo báo cáo toàn cầu của WHO, trong năm 2004, ước tính 424.000

người ở tất cả mọi lứa tuổi đã tử vong do ngã trên toàn thế giới. Ngã đứng

thứ 12 trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ từ 15 –19 tuổi,

trong đó 66% tử vong là do ngã từ trên cao xuống. Ngã là nguyên nhân gây

TNTT không tử vong lớn nhất ở TE và là loại thương tích thường gặp tại

trường học, TNTT do ngã là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc phải

nghỉ học và điều trị ngắn ngày tại các cơ sở y tế[37]. Mặc dù không gây ra

những tổn thất lớn về sức khỏe, nhưng ảnh hưởng do phải nghỉ học và điều

trị y tế cho các trường hợp TNTT do ngã cũng rất đáng lưu ý.

Tình hình ngộ độc

Theo báo cáo của WHO về TNTT, trong năm 2004 ngộ độc cấp gây

ra hơn 45.000 ca tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi, chiếm

13% các ca ngộ độc gây tử vong trên thế giới. Thống kê tại 16 quốc gia thu

nhập cao và trung bình, ngộ độc là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong sau TNTT

do TNGT đường bộ, bỏng và đuối nước[37]. Đối với các quốc gia thu nhập

thấp và trung bình, số trường hợp tử vong do ngộ độc còn cao gấp 4 lần so

với các quốc gia thu nhập cao.

Tình hình bạo lực gia đình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Một số khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×