Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng số liệu TNTT trên thế giới

Thực trạng số liệu TNTT trên thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



khác khơng được tính trong các hệ thống thu thập số liệu tại các quốc gia này.

Do đó một mục tiêu quan trọng trong việc phòng chống thương tích là thiết

lập các ước lượng đáng tin cậy về mức độ và mơ hình thương tích và tử vong

ở trẻ em, đặc biệt là tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Để làm

được việc này, khối lượng, chất lượng và tính sẵn có của số liệu quốc gia và

khu vực cần được tăng lên. Việc này phải được thực hiện thông qua sự kết

hợp giữa các hệ thống thu thập số liệu tốt hơn, giám sát bệnh viện được cải

thiện, có nhiều điều tra dựa vào cộng đồng hơn và các nghiên cứu phù hợp

khác[39].

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, TNTT đang dần trở thành một trong những nguyên

nhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện. Thống kê tình hình tử vong do

bệnh tật và TNTT tại bệnh viện năm 1976 – 2007 của Cục Y tế dự phòng và

Mơi trường, Bộ Y tế cho thấy xu hướng tỉ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm

giảm mạnh, từ 53,06% năm 1976 đến 15,41% năm 2007. Ngược lại, tử vong

do TNTT có xu hướng tăng nhanh, từ 2,23% năm 1976 tăng đến 24,47% năm

2007. Bình quân mỗi ngày có khoảng 3000 người chết và 100 người bị

thương gây tàn tật suốt đời, trong đó nguyên nhân do TNGT đứng hàng đầu,

sau tai nạn giao thông là các tai nạn cộng đồng đặc biệt ngộ độc, chết đuối,

cháy bỏng, điện giật... Xu hướng bệnh tật tử vong theo nguyên nhân trình bày

tại biểu đồ 1.1[17]



15



Biểu đồ 1.1. Xu hướng bệnh tật tử vong từ 1976 – 2007

Tại Bệnh viện Lê Lợi, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, con số nhập viện do tai nạn,

thương tích trong năm 2005 là: 11.863 trường hợp/ 25.541 trường hợp đến cấp cứu,

chiếm tỉ lệ 46,44%. Qua năm 2006, con số bệnh nhân cấp cứu vì tai nạn, thương

tích vẫn chưa giảm và tập trung chủ yếu ở tuổi trẻ (chiếm 71%), đây lại chính là

nhóm tuổi chiếm đa số trong phân bố dân số của Việt Nam và cũng là lực lượng

chính tham gia sinh hoạt xã hội và lao động[4].

Tại Việt Nam mơ hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do TNTT tuỳ thuộc vào

từng lứa tuổi khác nhau. Từ sơ sinh cho đến tuổi dậy thì, đuối nước là nguyên nhân

nổi bật gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi. Từ sau lứa tuổi dậy thì, TNGT đường bộ

bắt đầu nổi bật và sau đó tăng nhanh theo tuổi. Đối với trẻ nhỏ TNGT thường xảy ra

khi đang đi bộ; trẻ lớn hơn TNGT xảy ra khi đang đi bộ và đi xe đạp; từ tuổi 15 trở

lên, nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TNGT là do đi xe máy. Đối với hầu hết các

trường hợp TNGT, chấn thương sọ não là hậu quả nghiêm trọng nhất và nguy cơ tử

vong và tàn tật của những nạn nhân bị chấn thương sọ não là rất cao [3]. Đội mũ

bảo hiểm là một cách phòng chống hiệu quả đối với các chấn thương đầu, đặc biệt

là chấn thương sọ não. Bên cạnh đó, tổn thương chân, tay và một số vị trí khác cũng

chiếm tỉ lệ khá cao.

Tình hình TNGT



16



Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng đang trong

quá trình được cải thiện và nâng cấp, do đó tình hình TNGT hiện nay đang diễn

biến khá phức tạp. Theo tổng hợp 11 tháng đầu năm 2011 của Bộ Giao Thông Vận

Tải trên cả nước đã xảy ra 12.123 vụ TNGT, làm chết 10.129 người, bị thương

9.287 người. So với cùng kỳ năm 2010 giảm 356 vụ tai nạn (-2,85%), giảm 259

người chết (-2,49%), tăng 257 người bị thương (+2,85%). Dựa vào số liệu trên ta

thấy tuy số vụ tai nạn và số người chết có giảm nhưng khơng nhiều và số người bị

thương lại ngày càng tăng lên. Theo thống kê của cuộc Điều tra Liên trường về chấn

thương ở Việt Nam (VMIS) cho thấy chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ

trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở những nhóm từ 15 tuổi trở lên [3,

27].

So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011



Hình 1.5. So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011



17



Hình 1.6. Hậu quả TNGT (số vụ, số người chết và bị thương) từ năm 2000 và 2011

Hình 1.6 cho thấy TNGT tăng cao trong giai đoạn 2000-2002 và có xu hướng

giảm từ năm 2003 đến nay. Dù số vụ TNGT ĐB có giảm, nhưng số người chết gần

như không giảm, cho thấy mức độ TNGT ĐB ngày càng thảm khốc hơn (BĐ2). Tỷ

lệ người chết trên một vụ TNGT ĐB ở Việt Nam so với các nước trong khu vực cao

hơn rất nhiều; năm 2011 tỷ lệ này của Việt Nam là 0,83, Thái Lan: 0,17, Malaysia:

0,02.



Hình 1.7. Hậu quả TNGT (số vụ, số người chết và bị thương) theo từng khu vực

năm 2011



18



Xét theo khu vực, TNGT phần lớn xảy ra ở phía Nam, khoảng trên 40% số

vụ TNGT trên cả nước, nhiều nhất là ở Long An, Bình Định và Tây Ninh, theo

thống kê 10 tháng đầu năm 2011 (BĐ3 và BĐ4). Thế nhưng tỷ lệ về số người chết

do TNGT ĐB cao nhất lại ở Tây Nguyên: 4,42 người/trên 10 ngàn phương tiện,

trung bình tỷ lệ này của cả nước là 3,84, vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng

Nam bộ thấp, tương ứng là 1,8 và 2,4 mặc dù đây là hai vùng có số lượng phương

tiện lưu thơng tập trung cao. So với cùng kỳ 2011, 6 tháng đầu năm 2012 giảm

21,63% số vụ TNGT ĐB, nhưng một số tỉnh thành có số người chết do TNGT tăng

cao bất thường như Đồng Nai tăng 37,6%, Bạc Liêu tăng 35,3%, Lai Châu tăng

23,1%



Hình 1.8. 10 tỉnh có tỷ lệ số vụ TNGT cao nhất năm 2011

Phân tích các vụ TNGT ĐB trong những năm gần đây, nguyên nhân gây ra

chủ yếu là do người điều khiển các phương tiện giao thông. Thống kê từ năm 20092011, nguyên nhân gây TNGT nhiều nhất là do ý thức người điều khiển là chính, tỉ

lệ 61,78% (2009) và lên đến 79,2% (2011), trong đó, do chạy xe sai làn đường

chiếm 26,30% - 31,44%, kế đến là vượt ẩu 12,41%-19,40%, chạy quá tốc độ

16,21% - 18,34%, lái xe khi say rượu...

Bảng 1.1. So sánh nguyên nhân gây TNGT trong 3 năm 2009, 2010, 2011



19



Năm 2012 là năm đầu tiên Tp.HCM tổ chức “Năm an tồn giao thơng”,

trước đó, tháng 9 hàng năm được chọn là “Tháng an tồn giao thơng” nhằm đẩy

mạnh việc giảm ùn tắc và TNGT. Bên cạnh nhiều giải pháp được Nhà nước triển

khai, để góp phần làm giảm thảm họa TNGT, mỗi người cần tự ý thức bảo vệ mình

bằng việc tuân thủ các quy định khi tham gia giao thơng.

Tình hình TNLĐ



20



Tai nạn lao động trong năm 2011 cướp đi sinh mạng của 574 người và khiến

hơn 1.100 người “thập tử nhất sinh”. Bên cạnh đau thương tang tóc của nhiều gia

đình, những người gặp nạn trở thành gánh nặng của người thân và xã hội vì khơng

còn khả năng lao động. Năm 2011 cả nước có hơn 6.000 người bị tai nạn lao động

trong đó 574 người tử vong. Hậu quả của tai nạn lao động đang để lại gánh nặng đối

với gia đình và xã hội bởi người gặp nạn khó có khả năng phục hồi[13]. Thống kê

của Cục an toàn Lao động (Bộ Lao động - Thương binh & xã hội) cho thấy trong

năm qua cả nước xảy ra 5.896 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) khiến hơn 6.000 người

gặp nạn. Các địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn trong quá trình lao động dẫn

đến chết người nhất rơi vào TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Quảng Ninh,

Đà Nẵng, Thái Nguyên… Ngành nghề xảy ra nhiều TNLĐ nghiêm trọng là khai

thác mỏ, xây dựng, thợ gia cơng kim loại, thợ cơ khí, thợ vận hành máy,… Tổng phí

tổn do TNLĐ xảy ra trong năm 2011 lên đến gần 300 tỉ đồng, thiệt hại về tài sản

hơn 5,8 tỉ đồng. Mặc dù cơ quan chức năng đã cảnh báo cũng như tiến hành thanh

kiểm tra liên tục nhưng ý thức chấp hành an tồn trong q trình lao động ở nhiều

nơi vẫn bị bỏ ngỏ, hơn 30% nguyên nhân xảy ra TNLĐ xuất phát từ sự lơ là của các

chủ doanh nghiệp. Để hạn chế tối thiểu số vụ TNLĐ xảy ra đồng thời nâng cao ý

thức của người lao động, chủ doanh nghiệp, nhiều chuyên gia cho răng nhà nước

cần đưa nội dung An tồn vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy tại các

trường đại học, cao đẳng, trung học chun nghiệp. Tại mỗi doanh nghiệp cần có và

hồn thiện bộ máy làm cơng tác an tồn vệ sinh lao động, thực hiện đo kiểm môi

trường lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Bên cạnh

đó cũng cần tun truyền, chia sẻ thơng tin về tầm quan trọng và lợi ích của vấn đề

bảo vệ sức khỏe người lao động; phát triển bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề

nghiệp, hình thành quỹ bồi thường TNLĐ và nâng cấp hệ thống y tế, phục hồi chức

năng cho người lao động bị tai nạn.

Tình hình té ngã

Ở Việt Nam, ước tính số người trên 65 tuổi hiện nay là 6,7% (khoảng 5,5

triệu người) và theo Tổ chức Y tế Thế giới[30] thì có tới 28 – 35% người trên 64



21



tuổi bị té ngã hằng năm. Như vậy tại Việt Nam, ước tính có khoảng 1,5 – 1,9 triệu

người cao tuổi té ngã mỗi năm. Hậu quả quan trọng nhất của té ngã là gãy xương

(trong đó gãy cổ xương đùi là rất nặng nề). Điều này rất dễ xảy ra ở người cao tuổi

do bệnh loãng xương chiếm tỷ lệ khá cáo. Gãy xương gây ra nhiều biến chứng và di

chứng, tiêu tốn rất nhiều tiền của cho q trình chăm sóc và điều trị. Lý do người

già dễ bị té ngã là do sức khỏe giảm sút, cơ quan vận động suy giảm chức năng

(thối hóa khớp, viêm đa khớp, cơ teo yếu, rối loạn dáng đi ), giảm đáp ứng với các

tình huống xảy ra trong sinh hoạt, rối loạn thăng bằng, sa sút trí tuệ, giảm thị lực,

mắc một số bệnh mãn tính. Ngồi ra, nơi ở, điều kiện sống khơng an toàn như: nhà

chật chội, nền trơn, thiếu ánh sáng, khu vực thiếu thơng thống, trẻ em đơng, ni

súc vật nhiều… dễ tác động gây tai nạn cho người già. Phòng tránh tai nạn ở người

già phải phối hợp nhiều biện pháp với nhau. Thứ nhất là phải thay đổi môi trường

sống cho phù hợp với sức khỏe người già như nhà cửa thơng thống, nền nhà và

thảm chùi chân chống trơn, nhà vệ sinh nên gần phòng ngủ, trong nhà đủ ánh sáng,

khơng thả súc vật như chó, mèo trong nhà, cẩn thận với sự nô đùa của trẻ em (dễ va

chạm xơ ngã người già). Ngồi ra, người già cần dùng giày dép phù hợp, nên có

dụng cụ trợ giúp để đi lại (nhất là những người mắt kém, khớp thối hóa, yếu cơ).

Thứ hai là tăng tập luyện, dinh dưỡng hợp lý để tránh té ngã. Tập luyện làm tăng

cường sức mạnh của cơ, cải thiện thăng bằng và dáng đi. Tập dưỡng sinh là một yếu

tố tích cực. Tập thể dục, đi bộ, bơi lội… là những hình thức được lựa chọn. Tuy

nhiên, cần khám sức khỏe để được tư vấn hình thức tập luyện phù hợp.

Ngồi ra, té ngã cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tai nạn

thương tích cho trẻ em bởi vì trẻ rất hiếu động, vì thế tai nạn xảy ra với trẻ là

chuyện thường ngày. Trong đó, theo báo cáo thống kê của cơ quan y tế mới đây, té

ngã là tai nạn thường gặp nhất. Theo thống kê của cơ quan y tế cho biết trong số

37.580 trường hợp bị tai nạn thương tích khiến trẻ phải nhập viện ở TP.HCM từ

tháng 10.2006 đến tháng 10.2007, thì có đến 21.615 trường hợp do té ngã. Chỉ riêng

Bệnh viện (BV) Chấn thương chỉnh hình (TP.HCM), từ đầu năm đến nay cũng đã

tiếp nhận 4.938 trường hợp trẻ em té ngã đến khám, trong đó có 1.360 trường hợp



22



nặng phải nhập viện để can thiệp ngoại khoa. Bác sĩ Trần Thanh Mỹ - Giám đốc

BV Chấn thương chỉnh hình cho biết: “Té ngã là nguyên nhân thường gặp nhất

trong số tai nạn thương tích ở trẻ em, nhất là té ngã trong sinh hoạt và vui chơi. Đặc

biệt, tại các khu vui chơi, dù mức độ an toàn cao, nhưng vẫn ln tiềm ẩn nguy cơ

gây tai nạn thương tích cho trẻ em, nhất là nguy cơ té ngã”.

Địa điểm thường xảy ra ngã là trong nhà, gần nhà và xung quanh nhà. Xét

theo nhóm tuổi, có thể thấy địa điểm nơi xảy ra ngã có liên quan đến lứa tuổi. Với

trẻ nhỏ và người cao tuổi, phần lớn thời gian là ở nhà hoặc gần nhà. Khi tuổi tăng

dần, phạm vi hoạt động tăng lên, cách xa nhà hơn và ngã cũng vì thế mà xảy ra ở

nhiều nơi hơn như khu vực trường học (nhóm 10 - 14 tuổi), vườn/ruộng, cơng

trường (nhóm 15 - 49 tuổi) và một số khu vực khác.

Tình hình bạo lực gia đình

Bên cạnh các loại TNTT trầm trọng như TNGT, TNLĐ hay ngã thì tình trạng

bạo lực vẫn là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội hiện nay, đặc biệt bạo lực

trẻ em gây hậu quả TNTT khá trầm trọng khơng chỉ ảnh hưởng tới thể chất mà còn

ảnh hưởng lâu dài đến tinh thần của trẻ. Theo báo cáo tình trạng trẻ em thế giới

của Unicef năm 2009[35], hiện có khoảng 500 triệu trẻ em bị ảnh hưởng của bạo

lực chiếm khoảng ¼ tổng số trẻ em trên thế giới. Đối với nước ta, tình trạng bạo lực

trẻ em trong những năm gần đây diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Trong

hai năm 2008-2009, cả nước đã xảy ra 5.956 vụ (bình quân gần 3.000 vụ một năm),

trên 100 vụ giết trẻ em và 50 vụ bắt cóc, bn bán trẻ em được phát hiện và xử lý,

trong đó có một số vụgây bức xúc trong dư luận xã hội. Nhiều trẻ em bị chính cha

mẹ, người thân, thầy cô giáo, người sử dụng lao động và những người có trách

nhiệm ni dưỡng chăm sóc trẻ em có hành vi bạo lực trẻ em. Bên cạnh đó, tình

trạng bạo lực ở trong và ngồi trường học của học sinh vẫn tiếp tục xảy ra đang

lànỗi bức xúc của xã hội, chưa làm an lòng các bậc phụ huynh và những nguời quan

tâm đến sự nghiệp bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em. Hiện tượng bạo lực của học

sinh không phải là một hiện tượng mới, song thời gian gần đây, hiện tượng này xảy

ra ở một số trường học đã bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng như:



23



học sinh đánh nhau gây thương tích, thậm chí tử vong. Giáo viên sử dụng các biện

pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh; học

sinh hành hung thầy, cô giáo. Đối tượng học sinh đánh nhau có cả nữ sinh, khơng

phải chỉ có các nam sinh nóng nảy, thiếu kiềm chế, thâm chí nữ sinh đánh nữ sinh

theo kiểu hội đồng. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đầu năm học

2009-2010 đến nay, trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1.598 vụ việc học sinh đánh

nhau ở trong và ngoài trường học. Các nhà trường đã xử lý kỷ luật khiển trách 881

học sinh, cảnh cáo 1.558 học sinh, buộc thôi học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 năm

học) 735 học sinh. Theo số lượng trường học và học sinh hiện này thì cứ 5.260 học

sinh thì xảy ra một vụ đánh nhau và cứ 9 trường học lại xảy ra một vụ học sinh đánh

nhau. Cứ 10.000 học sinh thì có một học sinh bị kỷ luật khiển trách, cứ 5.555 học

sinh thì có một học sinh bị kỷ luật cảnh cáo vì đánh nhau; cứ 11.111học sinh thì có

một học sinh bị buộc thơi học có thời hạn vì đánh nhau. Trong số các vụ việc học

sinh đánh nhau được phân tích ở trên, phần lớn là vụ việc xích mích nhỏ giữa các

học sinh, các em dùng tay, chân đánh nhau nhưng được sự can ngăn kịp thời nên

không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên trong số đó vẫn có những vụ việc

xảy ra mang tính chất hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Đáng lưu ý là các hiện

tượng, vụ việc: Học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn, quay phim rồi tung

lên mạng, coi như là một “chiến tích” để thể hiện mình trước mọi người (xảy ra ở

Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quãng Ngãi, An Giang...). Học sinh đánh nhau có sử

dụng hung khí, gây thương tích nặng cho bạn, có vụ việc xảy ra chết người (năm

học 2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người ở trong và

ngồi trường học). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực nêu trên, trước

hết phải kể đến nhận thức của các gia đình, cộng đồng về vấn đề bảo vệ trẻ em chưa

đầy đủ và phần nào đó còn bị xem nhẹ; nhiều thói quen, phong tục, tập quán có hại

cho trẻ em chưa được các cấp, các ngành quan tâm đấu tranh loại bỏ như đánh con

là việc ”bình thường”. Việc ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột đối với trẻ em chưa

được cộng đồng chủ động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng xử lý,

can thiệp kịp thời vì họ khơng muốn có sự ”rắc rối ”liên quan đến họ. Nhận thức về



24



sự nguy hại nhiều mặt và hậu quả lâu dài, nghiêm trọng của các hành vi xâm hại

tình dục, bạo lực đối với trẻ em chưa được cảnh báo đúng mức, đa phần những trẻ

em bị ngược đãi, xâm hại và bị bóc lột có tâm lý mặc cảm, tự ty hoặc tâm lý thù hận

đối với xã hội và sau này khi trưởng thành nhiều em trong số đó cũng ứng xử tương

tự đối với người khác.

Tình hình đuối nước

Là nguyên nhân hàng đầu thứ hai gây tử vong và chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi

trẻ em. Theo kết quả giám sát của Bộ Y tế trong 5 năm 2005 – 2009 trẻ dưới 19 tuổi

tử vong do đuối nước trung bình mỗi năm trên 3.500 trẻ, trong năm 2008 đã có

3523 em bị chết đuối, chủ yếu xảy ra ở trẻ 0 – 14 tuổi (2968 trẻ), trong đó lứa tuổi

tử vong do đuối nước cao nhất 5 – 14 tuổi (1811 trẻ). Tại các tỉnh đồng bằng sông

Cửu Long như Đồng Tháp hay xảy ra vào tháng 8 - 9 là bắt đầu mùa nước lên. Địa

điểm xảy ra nhiều nhất là ở ao, hồ (tới 63%), sau đó đến sơng, mương/kênh (28,3%)

[16].

Tình hình bỏng

Bỏng xảy ra nhiều nhất là vào các tháng mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 trong

năm. Hầu hết các trường hợp do vơ tình gây ra chiếm 86,5%. Các nguyên nhân chủ

yếu gây bỏng gồm có bỏng nhiệt ướt (83%), bỏng điện (8,7%), bỏng nhiệt khơ

(6,1%) và bỏng hố chất (2,2%)[5]. Bỏng được gia đình tự điều trị sau đó đưa đến

bệnh viện, khơng qua y tế tuyến cơ sở. Đáng lưu ý là đại đa số những trường hợp

này đều xử trí sơ cấp cứu sai.

Tình hình ngộ độc

Ngộ độc là nguyên nhân gây tử vong do TNTT đứng vị trí thứ tư[5]. Hiện

nay chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu sâu và trên diện rộng về tình trạng ngộ độc.

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng TNTT có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi,

thuộc mọi thành phần kinh tế xã hội.

Thực trạng số liệu về TNTT tại Việt Nam

Tương tự như các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới, Việt Nam cũng

gặp khó khăn trong công tác thu thập, thống kê số liệu về TNTT. Công tác báo cáo,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng số liệu TNTT trên thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×