Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.7: Năng suất lao động giai đoạn năm 2013 - 2017

Bảng 2.7: Năng suất lao động giai đoạn năm 2013 - 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



2



Doanh thu (Trđ)



21.321



3



Năng suất lao động bình quân



761.46



30.57



25.925



29.255



33.59



1054.14 893.97



975.17



1119.67



(Nguồn số liệu: Tổng kết kinh doanh năm 2013-2017)



Hình 2.4: So sánh năng suất lao động bình quân qua các năm

Năng suất lao động cũng biến động khơng ổn định theo tình hình tăng giảm

của doanh thu, năng suất bình quân 1 lao động trong giai đoạn nghiên cứu này là

961 triệu đồng doanh thu/1 lao động.

Năng suất lao động của công ty có xu hướng tăng dần lên từ năm 2015 và

đến năm 2017. Đạt được kết quả trên là do Cơng ty đã liên tục nâng cao trình độ

chun mơn nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý và cán bộ tư vấn, áp dụng mơ hình

khốn doanh thu, trao cơ hội và tạo áp lực cho từng cán bộ công nhân viên tận dụng

triệt để cơ hội, sử dụng hết năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao.



2.3. Đánh giá chung về hiệu quả kinh doanh của Công ty MIC Bắc

Ninh

2.3.1. Những thành công

Đánh giá một cách tổng quát, giai đoạn 2013-2017 việc kinh doanh của Công

ty là có hiệu quả. Thị trường bùng nổ với nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo hiểm ngày

càng tăng. Nhu cầu được hỗ trợ bởi nền kinh tế tăng trưởng, sự phát triển nhanh của

nhiều thành phần kinh tế, luật pháp ngày càng rõ ràng và ràng buộc người tiêu dùng

phải sử dụng dịch vụ bảo hiểm.

Mặt khác, xã hội thay đổi nhận thức về bảo hiểm sang hướng tích cực hơn.

Nhận thức của người tiêu dùng về thị trường bảo hiểm ngày càng cao. Điều này đã

giúp cho việc kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty đạt được kết quả cao.

* Kết quả trong tăng trưởng doanh thu

Để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, hoạt động kinh doanh

của Công ty đã thực hiện trên các mặt như:



53



Thứ nhất, về sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của MIC nói

chung và MIC Bắc Ninh nói riêng đã thường xuyên quan tâm đến việc nghiên cứu,

nắm bắt nhu cầu của thị trường, qua đó hồn thiện sản phẩm, dịch vụ đã có, đưa ra

sản phẩm và dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

Mặt khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, trong nhiều

năm qua, nhiều sản phẩm bảo hiểm mới đã được nghiên cứu và ban hành như: bảo

hiểm trách nhiệm Bác sỹ, Luật sư; bảo hiểm trách nhiệm người giao nhận kho vận,

bảo hiểm chi phí y tế, bảo hiểm cháy nổ xe máy... MIC Bắc Ninh cũng đã đưa ra các

dịch vụ phụ trợ nhằm nâng cao trách nhiệm phục vụ khách như: Dịch vụ cứu trợ

24/24 triển khai cho các đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn và các sản phẩm khác

của MIC, dịch vụ cứu hộ xe ôtô bị tai nạn 24/24 tại một số địa bàn. Qua đó tăng uy

tín của MIC Bắc Ninh trong các khách hàng tại địa phương. Điều này đã tạo

nhiều điều kiện cho Công ty tiết kiệm được các chi phí và nâng cao khả năng cạnh

tranh trong thị trường.

Đối với Công ty MIC Bắc Ninh, trên cơ sở quy tắc, biểu phí và hướng dẫn

của Tổng cơng ty, Cơng ty đã vận dụng các sản phẩm linh hoạt đối với từng loại

khách hàng. Tư vấn cho các khách hàng các điều kiện phù hợp với đối tượng bảo

hiểm và khả năng tài chính của khách hàng nhằm khai thác tối đa các nhu cầu của

họ.

Thứ hai, đã khai thác có hiệu quả các tiềm năng của thị trường. Cơng ty đã

thực hiện tốt các nguyên tắc kinh doanh như tích cực triển khai nghiệp vụ và phân

tán rủi ro, nguyên tắc tính và thu phí bảo hiểm hợp lý. Trên cơ sở các nguồn lực của

mình, xuất phát từ quan điểm “Chi phí để duy trì một khách hàng cũ nhỏ hơn nhiều

chi phí để khai thác một khách hàng mới”, Công ty đã phân đoạn thị trường theo

từng loại khách hàng, qua đó có sản phẩm, chính sách khách hàng hợp lý. Chính vì

vậy, mặc dù thị trường bị cạnh tranh gay gắt, song trong những năm qua MIC Bắc

Ninh đã duy trì ổn định một số khách hàng lớn. Các khách hàng này chiếm thường

xuyên trên 25% doanh thu tồn cơng.



54



Thứ ba, đã sử dụng hiệu quả chi phí bán hàng thơng qua việc sử dụng hợp

lý các kênh phân phối sản phẩm. Công ty đã sử dụng nhiều kênh phân phối sản

phẩm khác nhau cả bán hàng trực tiếp và qua trung gian như môi giới và đại lý bảo

hiểm.

Đối với các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức có số đối tượng

bảo hiểm lớn, cán bộ của công ty thường kết hợp với các đại lý giới thiệu dịch vụ

tiếp cận và khai thác.

Đối với một số khách hàng khó tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm chẳng hạn như

công ty Dabaco Việt Nam, Công ty đã thực hiện khai thác qua môi giới.

Đối với khách hàng là các cá nhân, công ty đã sử dụng hệ thống đại lý

chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, số đại lý hiện tại Công ty đến 31/12/2017 là

216 người với doanh thu thực hiện trong năm 2017 trên 35 tỷ đồng.

Thứ tư, công ty đã chủ động cao trong khai thác tiềm năng và đổi mới phong

cách phục vụ. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, Công ty đã chủ động

nắm bắt thông tin, chủ động đề xuất phối hợp tốt với Tổng công ty trong khai thác

dịch vụ lớn, các dịch vụ có liên quan đến nước ngoài… Tranh thủ sự ủng hộ của các

ban ngành trong triển khai nghiệp vụ. Chủ động xây dựng các phương án triển khai

về sản phẩm và dịch vụ, Cơng ty đã tích cực khai thác và áp dụng linh hoạt biểu phí

về điều khoản bảo hiểm trong từng loại khách hàng. Thái độ, phong cách phục vụ

ngày càng được đổi mới theo đúng phương châm của Tổng công ty là “phục vụ

khách hàng một cách tốt nhất để phát triển” nay là "Niềm tin vững chắc, cam kết

vững bền". Chính vì vậy đã duy trì được nhiều khách hàng cũ và mở rộng khai thác

thêm được nhiều khách hàng mới, hạn chế được nhiều chi phí trong kinh doanh tạo

điều kiện nâng cao doanh thu và tăng lợi nhuận.

* Kết quả trong quản lý chi phí kinh doanh

Đối với chi phí bồi thường, xác định đây là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn

trong các cơ cấu các khoản chi phí, do vậy Cơng ty đã quan tâm đến tất cả các khâu

nhằm hạn chế việc thất thốt trong việc trả tiền. Chính vì vậy tỷ lệ bồi thường các



55



nghiệp vụ bảo hiểm tại Công ty từ năm 2015 đến 2017 đều nằm trong giới hạn cho

phép mang lại hiệu quả, cụ thể:

Trong khâu lựa chọn rủi ro bảo hiểm, Công ty đã làm tốt việc đánh giá rủi ro

trước khi chấp nhận bảo hiểm ở các nghiệp vụ bảo hiểm và theo từng khách hàng

qua đó có những sửa đổi phù hợp vừa đảm bảo tăng trưởng, vừa đảm bảo hiệu quả.

Công tác giám định đã từng bước được nâng cao trong hầu hết các nghiệp vụ. Công

ty đã phối hợp tốt với các tỉnh bạn và Tổng công ty trong việc giám định, hướng

dẫn khách hàng làm các thủ tục cần thiết cũng như đơn giản và mẫu biểu hóa các

chứng từ cần thiết trong hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm nhanh chóng, chính xác,

tạo được uy tín đối với khách hàng. Cơng tác phòng chống khiếu nại gian lận đã

được quan tâm đúng mức.

Tổng công ty quy định trả lương theo cơ chế kết hợp doanh thu và hiệu quả

đối với các đơn vị thành viên. Đây thực sự là động lực thúc đẩy các công ty thành

viên quản lý chặt chẽ các khoản mục chi phí, giảm thất thốt trong bồi thường.

Tổng công ty cũng xây dựng và ban hành các quy trình chuẩn về cơng tác thực hiện,

qua đó tạo được tính chặt chẽ trong quản lý nghiệp vụ, hạn chế những kẽ hở có thể

nảy sinh gian lận.

Đối với MIC Bắc Ninh thực hiện phương châm “tăng trưởng và hiệu quả”

Công ty đã gắn việc tăng trưởng với chỉ tiêu hiệu quả trong tiêu thức thi đua, có chế

độ khuyến khích trong cơng tác phòng chống gian lận với các nghiệp vụ bảo hiểm

và quản lý, qua đó phát hiện và chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc trong việc thực

hiện các quy trình khai thác, giám định và trả tiền bảo hiểm.

* Kết quả trong quản lý doanh nghiệp

Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo và phục vụ kinh doanh được Cơng ty quan

tâm. Trình độ cán bộ và đại lý từng bước được nâng lên trong cạnh tranh, cơ sở vật

chất kỹ thuật ngày càng đổi mới, hiện đại. Mạng lưới phân phối được mở rộng

xuống các huyện tạo điều kiện phục vụ tốt hơn các khách hàng.

Có thể chỉ ra một trong những nguyên nhân cơ bản của những thành công

trên là do Tổng công ty đã tạo ra động lực để các đơn vị thành viên quan tâm đến



56



hiệu quả cũng như tạo ra căn cứ hợp lý để quản lý các đơn vị thành viên hạch tốn

phụ thuộc.

Về động lực, thơng qua quy định về hạch toán nội bộ hiệu quả kinh doanh

trong các đơn vị thành viên của MIC đã kết hợp được hài hồ các lợi ích giữa chủ

thể quản lý là Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm MIC với khách thể quản lý là các

đơn vị thành viên. Điều này cho phép sử dụng hợp lý các nguồn lực và đạt hiệu quả

cao nhất trong hoạt động kinh doanh khơng chỉ ở Tổng cơng ty mà còn ở các đơn vị

thành viên.

Đối với các đơn vị thành viên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là một trong

những tiêu thức đánh giá kết quả công tác hàng năm mà còn trực tiếp ảnh hưởng

đến thu nhập của đơn vị bởi lẽ đơn giá tiền lương theo hiệu quả kinh doanh chiếm

đến 40% quỹ tiền lương.

Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp, nghiệp vụ có số tiền bảo hiểm lớn,

có mức trách nhiệm cao, cần thiết và liên quan đến tái bảo hiểm, Tổng công ty bắt

buộc các đơn vị phải đăng ký mức giữ lại cho từng nghiệp vụ theo một khung tỷ lệ

nhất định. Thông qua việc đăng ký và chuyển một phần trách nhiệm bảo hiểm về

Tổng công ty, Tổng công ty thực hiện được việc quản lý và phân tán rủi ro cũng như

nâng cao chất lượng các hoạt động tái bảo hiểm cả trong nhượng và đòi tái bảo

hiểm, còn MIC Bắc Ninh được chủ động khai thác các loại hình bảo hiểm trong một

giới hạn nhất định, các nghiệp vụ trên mức quy định phải báo cáo và xin ý kiến chỉ

đạo của Tổng công ty. Điều này cho phép MIC Bắc Ninh khai thác được các dịch vụ

có số tiền bảo hiểm lớn và Tổng công ty chủ động trong việc thực hiện tái bảo hiểm.

Trong trường hợp này quyền lợi và trách nhiệm của Công ty được hưởng tương ứng

với mức trách nhiệm đã đăng ký với Tổng công ty. Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm

đơn giản với mức trách nhiệm thấp, Cơng ty có thể đảm nhiệm trong tất cả các

khâu mà không liên quan đến tái bảo hiểm, theo quy định của việc hạch toán nội bộ

hiệu quả, có thể giữ lại trách nhiệm bảo hiểm tồn bộ hoặc chuyển một phần trách

nhiệm về Tổng công ty. Trong trường hợp này quyền lợi của MIC Bắc Ninh được



57



hưởng tồn bộ hoặc giảm một phần thơng qua kết quả mà hoạt động kinh doanh

mang lại.



2.2.2. Những hạn chế và các nguyên nhân

* Những hạn chế

Các hạn chế liên quan đến mở rộng quy mô kinh doanh, tăng trưởng doanh

thu:

Hạn chế trong thiết kế sản phẩm bảo hiểm:

Qua thực tế triển khai tại MIC Bắc Ninh, một số sản phẩm phạm vi bảo hiểm

còn hẹp hoặc bất cập, cần hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng

như:

Trong lĩnh vực bảo hiểm con người: Đối với sản phẩm bảo hiểm học sinh,

mặc dù tỷ lệ chi trả còn thấp song chưa khai thác hiệu quả tiềm năng của thị trường

do phương án triển khai chưa thật hiệu quả và tỷ lệ phí còn cao.

Trong nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn con người 24/24 số chi bồi thường còn

cao. Sản phẩm này được thiết kế cùng với sản phẩm bảo hiểm sinh mạng cá nhân,

tuy tỷ lệ bồi thường chung còn thấp song nên xem lại việc thiết kế sản phẩm này.

Hạn chế về thị trường bảo hiểm

Chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường một số lĩnh vực còn nhiều tiềm

năng lớn như bảo hiểm đầu tư, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tài sản

và đặc biệt là thị trường khu vực dân doanh.

Trong thực tế khách hàng của MIC Bắc Ninh phần lớn các khách hàng là các

tổ chức và các doanh nghiệp Nhà nước. Đối với một số thị trường, đặc biệt thị

trường bảo hiểm là khu vực dân doanh, tỷ lệ khách hàng tham gia bảo hiểm còn

thấp gây lãng phí chi phí kinh doanh.

Trong bảo hiểm tài sản mới chỉ khai thác được ở các khách hàng là các

doanh nghiệp Nhà nước, các liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, chưa

đi vào khai thác được các khách hàng trong khu vực dân doanh, các doanh nghiệp

vừa và nhỏ trong khi tiềm năng của khu vực này còn rất lớn.



58



Trong bảo hiểm xe cơ giới, mới chỉ khai thác được cơ bản các xe ơtơ, còn đối

với xe môtô chỉ khai thác được phần nhiều các xe mới đăng ký, việc tái tục bảo

hiểm của các chủ xe này là rất ít.

Trong bảo hiểm con người đặc biệt là bảo hiểm học sinh tỷ lệ học sinh tham

gia còn khá thấp, chưa năm nào đạt và vượt 50% số học sinh hiện có của tồn tỉnh.

Đây cũng là thị trường còn nhiều tiềm năng.

Doanh thu của MIC Bắc Ninh tập trung chủ yếu ở các khu vực trung tâm và

một số khách hàng lớn, đặc biệt trong các nghiệp vụ có doanh thu lớn, bảo hiểm đối

ngoại. Điều này có điều kiện thuận lợi cho Cơng ty trong việc thực hiện các chính

sách khách hàng, có điều kiện giảm chi phí khai thác song sẽ khó trong việc nâng

cao hiệu quả mặc dù vẫn tái tục hợp đồng hàng năm bởi lẽ dưới sự tác động của các

chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân khách hàng vừa phải đối phó với

cạnh tranh trong nội bộ ngành, vừa phải chịu các thách thức lớn khi Việt Nam ra

nhập WTO, AFTA và Hiệp định thương mại Việt Mỹ…có hiệu lực. Do vậy vấn đề

đặt ra là các đơn vị khách hàng này ln có xu hướng cắt giảm các khoản chi phí

đầu vào, trong đó có chi phí bảo hiểm. Mặt khác, cũng chính các khách hàng này là

đối tượng mà MIC Bắc Ninh thường xuyên phải cạnh tranh với các doanh nghiệp

bảo hiểm khác.

Hạn chế về kênh phân phối sản phẩm

Việc hình thành và phát triển hệ thống đại lý chuyên nghiệp đã được quan

tâm và được xem là giải pháp chiến lược, đã tạo được sự thống nhất nhận thức trong

cấp quản lý và cán bộ. Song kết quả chưa thật sự có dấu hiệu ổn định vững chắc.

Thực tế trong năm 2017, Công ty MIC Bắc Ninh đã tuyển dụng và đào tạo được 56

đại lý, số còn lại hoạt động đến cuối năm chỉ là 25. Như vậy số đại lý bỏ việc chiếm

tỷ lệ cao trên 50%, và khả năng đại lý bỏ việc còn cao hơn nữa, đây là nguy cơ lãng

phí về các chi phí cho hoạt động đại lý và ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh

nghiệp. Nguyên nhân chính là các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ triển khai đến khu

vực dân cư cá thể đều thuộc loại nhỏ lẻ, doanh thu thấp, công sức và chi phí bỏ ra

lớn, nhưng thu nhập từ hoa hồng rất thấp, chưa đảm bảo được đời sống, chưa đáp



59



ứng được sự mong đợi của đại lý. Sự hiểu biết về bảo hiểm của các tầng lớp dân cư

còn hạn chế, việc giải thích tun truyền vận động khó khăn, hiểu biết nghiệp vụ,

kỹ năng khai thác, kinh nghiệm nghề nghiệp của đại lý còn non kém.

Các hạn chế trong quản lý chi phí bồi thường

Mặc dù tổng tỷ lệ chi bồi thường trên phí thu thấp nhưng xét theo nghiệp vụ

thì có một số nghiệp vụ tỷ lệ chi bồi thường còn khá cao như bảo hiểm vật chất xe ô

tô; lái phụ xe mô tô; tai nạn con người 24/24; bảo hiểm sinh mạng cá nhân, bảo

hiểm kết hợp con người… Nguyên nhân là do:

- Công tác đánh giá rủi ro ban đầu còn chưa được thực hiện nghiêm ngặt, đặc

biệt là bán các sản phẩm bảo hiểm con người và xe cơ giới qua các đại lý.

- Cơng tác giám định chưa hồn tồn chủ động, giám sát sửa chữa và phối

hợp với chủ xe khắc phục tai nạn mới chỉ thực hiện được ở các vụ tổn thất lớn, các

vụ tổn thất nhỏ vẫn chưa được quan tâm đúng mức, việc xác định thiệt hại ban đầu

thuộc phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do số

lượng cán bộ làm cơng tác giám định còn mỏng, trình độ còn hạn chế trong khi số

vụ phát sinh ngày một gia tăng.

- Công tác chi trả tiền bảo hiểm đã đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, tuy

nhiên do đặc thù của địa bàn rộng, phần nhiều xảy ra các trường hợp trả tiền phải

trải qua cộng tác viên kiêm nhiệm do vậy vẫn xảy ra trường hợp đại lý chậm thanh

toán tiền cho khách hàng, thậm chí bớt xén của khách hàng.

Các hạn chế trong quản lý chi phí doanh nghiệp

Qua phân tích ta thấy hiệu quả của việc sử dụng chi phí quản lý doanh

nghiệp trong việc tăng doanh thu và lợi nhuận có xu hướng giảm. Để tạo ra



1đồng



doanh thu cũng như 1đồng lợi nhuận, chi phí mà Cơng ty phải chi ra ngày càng

tăng. Trong thực tế khoản mục chi phí tuyên truyền, quảng cáo, giao dịch, tiếp

khách và hội nghị đều vượt định mức được Tổng công ty giao hàng năm, khoản

mục chi khấu hao tài sản cố định chi theo thực tế dẫn đến tâm lý sử dụng khơng tiết

kiệm, nhiều khoản mục chi còn chưa hiệu quả, chẳng hạn chi phí cho đại lý hàng

năm bao gồm: chi phí cho việc tuyển dụng, đào tạo, ấn chỉ… ngày càng gia



60



tăng trong khi xu hướng đại l ý bỏ việc ngày càng tăng gây lãng phí vài chục triệu

đồng mỗi năm.

Mặt khác, Tổng công ty chưa có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích thỏa

đáng các đơn vị sử dụng tiết kiệm chi phí trong kinh doanh do vậy dễ nảy sinh tâm

lý chi cho hết định mức được giao. Đơn giá tiền lương theo hiệu quả mới chỉ giao

theo số tuyệt đối hiệu quả quy ước hàng năm đạt được mà chưa có đơn giá nhằm

khuyến khích đối với khoản hiệu quả tăng trưởng hàng năm cũng như chế tài đối

với số hiệu quả giảm. Do vậy chưa tạo động lực mạnh mẽ cho các đơn vị thực hiện

các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.

* Các nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân về quản trị doanh nghiệp

Về công tác cán bộ: Số lượng, đội ngũ cán bộ hàng năm vẫn được bổ sung

nhưng vẫn còn thiếu, khơng đồng đều về trình độ, khả năng trong giao dịch,

marketing còn kém, văn hóa trong kinh doanh, phong cách phục vụ chưa thực sự

quan tâm, chất lượng hệ thống đại lý chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp còn thấp.

Việc trang bị cơ sở vật chất ngày càng hiện đại, tuy vậy việc quan tâm đến

hiệu quả sử dụng chưa thật sự được quan tâm, các dịch vụ hỗ trợ quản lý, các

chương trình phần mềm, quản lý, ưu thế của mạng chưa được khai thác có hiệu quả.

Một số chương trình cần áp dụng trong quản lý và hỗ trợ khai thác như:

Quản lý nghiệp vụ, tổ chức nhân sự, lưu trữ, quản lý khách hàng vẫn chưa được sử

dụng có hiệu quả. Mặt khác do địa bàn hoạt động rộng, trụ sở chính của Cơng ty ở

cuối tỉnh, một số huyện còn nhiều tiềm năng chưa nơi ổn định để giao dịch gây khó

khăn trong việc khai thác và phục vụ khách hàng sau bán hàng.

Đội ngũ đại lý hoạt động chưa thực sự hiệu quả, số lượng đại lý tuyển dụng

đầu kỳ nhiều nhưng đến cuối kỳ chỉ còn lại khoảng 20% còn hoạt động, đại lý chưa

thực sự tâm huyết với nghề, Cơng ty có các chính sách động viên khuyến khích hỗ

trợ đại lý phù hợp do vướng những quy định của Bộ Tài chính và Tổng cơng ty,

cơng ty cũng chưa các các chương trình kiểm tra giám sát đại lý một cách toàn diện

và thường chỉ giao cho các cán bộ chuyên quản trực tiếp thực hiện.



61



Sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp bảo hiểm khác kinh doanh cùng

lĩnh vực.

Trong những năm gần đây cùng với cơ chế mở cửa thị trường tài chính,

Chính phủ đã cấp phép cho rất nhiều doanh nghiệp trong nước và ngoài nước kinh

doanh trên lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ. Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Bắc

Ninh hiện nay có khoảng 15 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Sự xuất hiện và

hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm khác gây ra rất nhiều khó khăn cho MIC

Bắc Ninh. Chưa tính đến việc cạnh tranh, việc ra đời các Công ty bảo hiểm phi nhân

thọ thuộc các Tập đồn, các Tổng cơng ty nhà nước nhằm tận dụng tối đa lợi thế

của ngành như: bảo hiểm Bưu điện, bảo hiểm Điện lực, bảo hiểm ngành ngân

hàng... thì Công ty đã bị mất đi một số lượng doanh thu rất lớn từ các khách hàng

trên.

Các Công ty bảo hiểm khác, với nhiều cách tiếp cận khách hàng, hình thức

cạnh tranh rất đa dạng: sản phẩm đa dạng nhiều quyền lợi, phí bảo hiểm thấp, mức

chiết khấu hoa hồng rất cao cho khách hàng, cho đại lý... gây xáo trộn, làm biến

dạng thị trường, làm gia tăng các khoản chi phí ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh

doanh.

Nguyên nhân từ các chính sách của nhà nước

Trong một vài năm gần đây, sự thay đổi liên tục của các chính sách kinh tế

của nhà nước đã gây khơng ít khó khăn cho việc kinh doanh bảo hiểm của các

doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và MIC Bắc Ninh nói riêng, thể hiện

trên các mặt như sau:

Chính phủ cho phép thành lập quá nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân

thọ trực thuộc các Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty nhà nước: Các Công ty bảo

hiểm thuộc ngành tận dụng được lợi thế ngành nhưng thiếu khả năng tài chính, yếu

kinh nghiệm, đưa chi phí kinh doanh lên cao làm méo



mó thị trường, làm khó



khăn cho các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên nghiệp, gây ảnh hưởng rất lớn đến

hiệu quả kinh doanh.



62



Chính phủ thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ thắt chặt, nhằm kiềm chế

lạm phát đảm bảo an sinh xã hội với các biện pháp như:

Hạn chế tín dụng: Nâng mức lãi suất tiền gửi khiến lãi suất cho vay tăng làm

cho doanh nghiệp và người dân khó tiếp cận được nguồn vốn vay của ngân hàng,

hạn chế đầu tư, gây khó khăn cho khai thác các dịch vụ bảo hiểm.

Hạn chế đầu tư và chi tiêu công: Việc hạn chế chi tiêu và hạn chế đầu tư

công bằng cách tiết giảm tối đa các loại chi phí có thể giảm được; xem xét các dự án

đang triển khai nếu hiệu quả thì tiếp tục đầu tư hồn thiện, nếu khơng hiệu quả thì

hủy bỏ, khơng cấp phép đầu tư các dự án mới... nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát

cũng gây khó khăn khơng nhỏ tới việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ bảo hiểm tài

sản như: bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm cháy

nổ...

Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế trước bạ vào xe ô tô: Việc hạn chế xe ô tô

nhập khẩu, hạn chế phương tiện giao thông cá nhân nhằm giảm tải cho hạ tầng giao

thông bằng cách tăng các loại thuế và phí đánh vào phương tiện giao thơng làm gia

tăng các khoản chi phí cho các chủ xe khiến cho việc tiếp cận khai thác bảo hiểm

gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm vật chất phương tiện.

Liên tục điều chỉnh tăng giá xăng dầu: tăng giá nhiều như giảm lại rất ít tạo

áp lực lên tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, buộc các ngành phải tăng chi phí,

tăng giá bán sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là các ngành dịch vụ vận tải là khách hàng

lớn của MIC khi triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm phương tiện.

Nguyên nhân từ các chính sách hỗ trợ của Tổng cơng ty và chính quyền địa

phương.

Tổng cơng ty đã có các hướng dẫn và chỉ đạo kịp thời các địa phương trong

việc triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm và giám định bồi thường, nhưng vẫn chưa có

những chính động viên khuyến khích thỏa đáng đối với đội ngũ đại lý khai thác như

đào tạo, chế độ khen thưởng… tạo điều kiện cho đội ngũ đại lý gắn bó với doanh

nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.7: Năng suất lao động giai đoạn năm 2013 - 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×