Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục của luận văn

Bố cục của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH

BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.1. Bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm

* Khái niệm

Hoạt động bảo hiểm gồm 2 lĩnh vực hoạt động lớn là bảo hiểm nhân thọ và

bảo hiểm phi nhân thọ.

Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm dài hạn liên quan đến tuổi thọ con người,

sự sống và cái chết của người được bảo hiểm là sự kiện chủ yếu được bảo hiểm

trong hoạt động bảo hiểm nhân thọ. Thông thường trong bảo hiểm nhân thọ người

bảo hiểm phải trả tiền khi người được bảo hiểm chết hay còn sống đến một thời

điểm ghi trong hợp đồng.

Bảo hiểm phi nhân thọ là lĩnh vực còn lại của hoạt động bảo hiểm thương

mại. Đó là bảo hiểm ngắn hạn, đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm phi nhân

thọ rộng hơn bảo hiểm nhân thọ. Ngoài các nghiệp vụ bảo hiểm ngắn hạn về con

người như: bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm bệnh tật… có thể nói mọi loại hình tài sản,

mọi dạng trách nhiệm dân sự đều có thể trở thành đối tượng của bảo hiểm phi nhân

thọ.

Như vậy, bảo hiểm phi nhân thọ được hiểu là loại bảo hiểm, trong đó người

bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi rủi ro quy định trong

hợp đồng bảo hiểm xảy ra. Khi hợp đồng bảo hiểm đã ký hết hạn mà khơng có rủi

ro xảy ra thì người bảo hiểm khơng phải thực hiện cam kết bồi thường hoặc trả tiền

bảo hiểm.

* Phân loại

Bảo hiểm phi nhân thọ là lĩnh vực bảo hiểm có phạm vi rất rộng. Nó bao

gồm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và một

phần bảo hiểm con người. Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại bảo hiểm phi



12



nhân thọ, các tiêu thức chủ yếu thường được sử dụng để phân loại bảo hiểm phi

nhân thọ là:

Theo đối tượng bảo hiểm, Bảo hiểm phi nhân thọ được chia thành bảo hiểm

tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm bệnh tật, tai nạn con người.

Theo tiêu thức phân loại truyền thống, Bảo hiểm phi nhân thọ được chia

thành bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm phi hàng hải.

Theo đặc tính kỹ thuật và pháp lý, bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm

sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và

đường hàng không; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy nổ;

Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm chung; Bảo

hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm nông

nghiệp; Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác khác do Chính phủ quy định.

* Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ

Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vơ hình

Đây cũng chính là đặc điểm chung của sản phẩm các ngành dịch vụ. Thực

chất đó là một cam kết bằng văn bản pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm với khách

hàng về sự bảo đảm cho khách hàng về mặt vật chất, tài chính trong trường hợp xảy

ra rủi ro được quy định trong hợp đồng bảo hiểm với điều kiện là người bảo hiểm

được thu trước một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm.

Một doanh nghiệp bảo hiểm uy tín chắc chắn sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của

người tham gia bảo hiểm. Uy tín đó được thể hiện qua: danh tiếng và kinh nghiệm

hoạt động của doanh nghiệp, tình hình tài chính lành mạnh, chiến lược đầu tư vốn

hợp lý, nghiệp vụ vững chắc, chất lượng phục vụ cao… Người mua bảo hiểm tin

tưởng vào doanh nghiệp có khả năng và luôn sẵn sàng thực hiện đầy đủ các cam kết

trong hợp đồng. Vì thế, uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm vô cùng quan trọng để

quyết định ý tưởng lựa chọn của khách hàng.

Thứ hai, bảo hiểm có chu trình sản xuất ngược



13



Xét về mặt kỹ thuật kinh doanh thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng khác với các

doanh nghiệp thông thường khác. Các doanh nghiệp thông thường đều hạch toán

giá thành sản phẩm dựa theo các khoản chi phí thực tế, giá cả được quyết định sau

khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm,

mỗi hợp đồng bảo hiểm có thể được coi như một món hàng. Phí bảo hiểm của

nghiệp vụ bảo hiểm có thể ví như giá cả của nghiệp vụ bảo hiểm và việc tính giá cả

này phát sinh trước khi có giá thành. Điều đó nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ

phải dự báo trước giá cả này trên cơ sở vận dụng quy luật số đông và dựa vào thống

kê rủi ro, những số liệu tổn thất đã xảy ra trong quá khứ, kinh nghiệm về những tổn

thất xảy ra trước đây. Tỷ lệ tổn thất trước đây chắc chắn sẽ có sự sai lệch nhất định

so với tỷ lệ tổn thất thực tế sẽ xảy ra sau này, thậm chí có khi mức độ sai lệch rất

lớn. Vì vậy, chỉ có thể xác định được khoản thu nhập của doanh nghiệp bảo hiểm

nhưng lại có rất nhiều khả năng khơng xác định được trách nhiệm bồi thường sẽ xảy

ra sau này vì sự thay đổi về các yếu tố rủi ro.

Thứ ba, tâm lý người mua không muốn tiêu dùng dịch vụ

Người mua bảo hiểm khơng mong muốn có sự cố rủi ro xảy ra để được nhận

quyền bảo hiểm mặc dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn so với số phí phải đóng.

Đặc điểm này có ảnh hưởng trực tiếp đến khâu khai thác, cụ thể là trong khi giao

dịch, chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm sẽ phải chú ý, quan tâm đến tâm lý, sở

thích của khách hàng để thuyết phục khách hàng khi họ nói không quan tâm đến rủi

ro và không mong muốn rủi ro xảy ra với họ.

Thứ tư, kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ một số vấn đề thuộc nguyên tắc

như: nguyên tắc sàng lọc, nguyên tắc dàn trải, nguyên tắc phân chia phân tán rủi ro,

đặc biệt là phải vận dụng quy luật số lớn

Đặc điểm cơ bản của việc vận dụng quy luật số lớn được thể hiện ở chỗ:

trong hoạt động nghiệp vụ của mình, doanh nghiệp bảo hiểm phải thu hút được một

lượng đủ lớn khách hàng, ký kết được một lượng đủ lớn hợp đồng bảo hiểm thì mới

đảm bảo hoạt động kinh doanh, số lượng sản phẩm bán được càng nhiều thì doanh

nghiệp càng có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh. Điều này xuất phát từ bản chất



14



hoạt động bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người có

khả năng cùng gặp một loại rủi ro đưa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự

đóng góp của những người cũng có khả năng gặp tổn thất đó thơng qua hoạt động

của doanh nghiệp bảo hiểm. Bằng cách chia nhỏ tổn thất như vậy, hậu quả lẽ ra rất

nặng nề, nghiêm trọng với một hoặc một số người sẽ trở thành khơng đáng kể, có

thể chấp nhận được đối với cả cộng đồng người tham gia bảo hiểm.

Ngoài các đặc điểm cơ bản của hoạt động bảo hiểm như đã nêu trên, bảo

hiểm phi nhân thọ còn có những đặc trưng là:

- Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời hạn bảo hiểm

thường là một năm hoặc ngắn hơn;

- Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi tiền bảo hiểm khi có

rủi ro được bảo hiểm xảy ra;

- Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm thông thường là

từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến. Phí bảo hiểm phi nhân thọ khơng cố định và

phụ thuộc vào mức độ rủi ro hay phạm vi bảo hiểm;

- Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các nghiệp vụ

khác như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự giữa người bảo hiểm,

người được bảo hiểm và người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối

quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.



1.1.2. Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, ổn định cuộc sống con người

Rủi ro đã gây ra những hậu quả rất lớn làm thiệt hại tài sản, tính mạng và sức

khỏe con người. Dịch vụ bảo hiểm đã đáp ứng nhu cầu bảo vệ về mặt vật chất, tài

chính trước rủi ro, giúp cho các tổ chức bảo toàn được vốn, tài sản, không bị phá

sản, cá nhân và gia đình ổn định trước cuộc sống, khơng bị rơi vào tình trạng kiệt

quệ tài chính và tinh thần.

Bảo hiểm thúc đẩy hoạt động tiết kiệm, tập trung vốn

Sự tồn tại của thị trường bảo hiểm với nhiều loại hình bảo hiểm đã giúp cho

nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhanh chóng phục hồi, khắc phục hậu quả sau



15



rủi ro, đã tạo ra những suy nghĩ cần tham gia bảo hiểm. Mỗi năm trích một khoản

tiền nhỏ để đóng bảo hiểm vẫn hơn rất nhiều lần việc tự phòng ngừa rủi ro khi

không may rủi ro xảy ra phải mất đi số tiền rất lớn để phục hồi, thay thế tài sản hoặc

cá nhân, gia đình phải bỏ ra khoản tiền lớn để khắc phục hậu quả rủi ro trong lúc

mức thu nhập chỉ có hạn.

Việc tiết kiệm của những người tham gia bảo hiểm có liên quan chặt chẽ đến

việc tập trung vốn của các công ty bảo hiểm. Bằng việc đa dạng hóa các loại hình

bảo hiểm, đáp ứng mọi nhu cầu bảo hiểm của nhiều khách hàng, nhiều đối tượng đã

giúp cho các công ty bảo hiểm có một khoản phí tập trung rất lớn mà nếu khơng có

dịch vụ bảo hiểm thì khó có thể tập trung được.

Bảo hiểm góp phần đảm bảo an tồn, hạn chế tai nạn tổn thất

Hoạt động bảo hiểm là hoạt động kinh doanh thương mại đòi hỏi người bảo

hiểm phải tính tốn đến hiệu quả. Muốn có hiệu quả đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ rủi

ro, thống kê tai nạn, tổn thất, xác định nguyên nhân tổn thất, giải quyết bồi thường.

Người bảo hiểm đã chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng ngừa

tổn thất, hạn chế tai nạn.

Mặt khác, bằng nghiệp vụ và đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu của mình,

người bảo hiểm khi xem xét nhận bảo hiểm đã đưa ra những đề nghị rất đúng mực,

hợp lý để người tham gia bảo hiểm thực hiện việc đảm bảo an toàn cho tài sản,

tránh được những thiệt hại mà hậu quả làm hai phía đều có những mất mát.

Bảo hiểm góp phần ổn định chi phí. Nếu một doanh nghiệp hoạt động kinh

doanh, mỗi gia đình, cá nhân trong cuộc sống khơng tham gia bảo hiểm mà tự bảo

hiểm lấy chính mình thì họ sẽ khơng thể chủ động được các khoản phải chi bất

thường khi gặp phải rủi ro trong kinh doanh, trong cuộc sống. Chi phí này sẽ bấp

bênh, khơng ổn định và chỉ có dịch vụ bảo hiểm mới giúp cho người tham gia bảo

hiểm yên tâm ổn định chi phí khi rủi ro đến với mình.

Tác động của bảo hiểm phi nhân thọ đối với phát triển kinh tế - xã hội

Bảo hiểm phi nhân thọ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống

con người đặc biệt về mặt kinh tế - xã hội.



16



Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, bảo hiểm phi nhân thọ đóng vai trò như

một cơng cụ an tồn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi chủ

thể dân cư và tổ chức kinh tế; khuyến khích và nâng cao ý thức đề phòng –

hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội.

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có vai trò là lá chắn kinh tế cho các

cá nhân/tổ chức. Điều này được thể hiện qua số liệu thống kê của các doanh nghiệp

bảo hiểm. Trong nhiều năm qua, số tiền chi trả bồi thường của các doanh nghiệp

bảo hiểm phi nhân thọ rất lớn và ngày càng tăng qua các năm.

Thực tế cho thấy, một số cá nhân/tổ chức kinh tế khi không may gặp rủi ro,

tưởng như cá nhân/tổ chức đó rơi vào tình trạng phá sản nhưng họ đã tham gia hợp

đồng bảo hiểm đã được công ty bảo hiểm bù đắp những thiệt hại tài chính, ổn định

sản xuất và hỗ trợ kinh tế.

Với thời đại ngày nay, cùng với công nghệ thông tin điện tử, công nghệ kinh

doanh trên mạng, vấn đề thương mại điện tử phát huy rất tích cực vào hoạt động

kinh doanh, các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp không cần phải gặp trực tiếp mà chỉ

cần vào mạng tra cứu là có thể tham gia bảo hiểm. Chính vì vậy xuất hiện nhiều

(các doanh nghiệp ma, hoặc không đảm bảo uy tín về chất lượng cũng như sự tín

chấp để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh). Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế

của Việt Nam đem lại những cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận nhiều thị trường mới

trên thế giới, nhưng cũng đem lại mối lo ngại cho các nhà sản xuất kinh doanh trong

nước phải nỗ lực và phải thận trọng trong quan hệ giao dịch thương mại quốc tế, do

đó họ rất cần đến bảo hiểm. Để đảm bảo an toàn cho khách hàng, các nhà bảo hiểm

có trách nhiệm tìm hiểu, xem xét và đăng ký các dịch vụ về cung cấp, nắm bắt

thông tin về các doanh nghiệp và là nhà cung cấp dịch vụ cho các đơn vị doanh

nghiệp mà đơn vị bảo hiểm sẽ bảo hiểm cho họ để biết được doanh nghiệp là các

nhà cung cấp dịch vụ ấy có thực khơng, có uy tín trên thị trường khơng, có rủi ro

trong giao dịch khơng. Điều đó thường chỉ các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp mới đủ

khả năng và có sự đầu tư, liên kết trên toàn cầu mới nắm bắt được các thơng tin đó.



17



Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả đóng một vai trò quan trọng

đối với nền kinh tế như giảm tỷ lệ thất nghiệp; tích tụ vốn để đầu tư trở lại nền kinh

tế. Đối với khách hàng tham gia bảo hiểm, khi hoạt động có hiệu quả doanh nghiệp

bảo hiểm phi nhân thọ đảm bảo tính thanh khoản, giúp khách hàng an tâm

với lá chắn vững vàng trong hoạt động kinh doanh sản xuất.

Trong các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, một hoạt động khơng kém phần

quan trọng đó là hoạt động đầu tư tài chính. Trong khi hoạt động kinh doanh bảo

hiểm khơng mạng lại nhiều lợi nhuận, thậm chí có thể gây ra những khoản lỗ, thì

hoạt động đầu tư tài chính lại là cứu cánh cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

Với nguồn phí bảo hiểm chưa dùng đến, khơng ít DN bảo hiểm lựa chọn gửi

tiết kiệm, đầu tư bất động sản,... là kênh hiệu quả nhất. Do đó các doanh nghiệp có

lãi phần lớn được bù đắp bởi hoạt động tài chính nó chính là vai trò quan trọng

trong cơ cấu doanh thu và lợi nhuận của DN bảo hiểm.

Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, quỹ dự phòng bồi thường

được thành lập ngay khi ký hợp đồng bảo hiểm, nhưng việc bồi thường chỉ xảy ra

khi có sự cố. Do đó, việc đầu tư vốn nhàn rỗi của DN bảo hiểm rất quan trọng đối

với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Cùng với các quỹ bảo hiểm khác, bảo hiểm phi nhân thọ là môi trường nghề

nghiệp của số lượng lớn lao động, tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho cả nền kinh tế.

1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm phi nhân thọ

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao ở

nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm

ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm

vẫn được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản của nó (Luật kinh doanh

bảo hiểm của Việt Nam năm 2000) .

Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity

not certainty): Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro,

tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu

nhiên, ngồi ý muốn của con người chứ khơng bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra,



18



đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây

ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra.

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith): Tất cả các giao dịch

kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy

nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và

ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối

quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung

thực với nhau, tin tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau.

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest): Nguyên tắc

quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảo

hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi

đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có

thể được bảo hiểm khơng nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng

nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.

Nguyên tắc bồi thường (indemnity): Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn

thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người

được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, khơng hơn không

kém.

Nguyên tắc thế quyền (subrogation): Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo

hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được

bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Thế quyền có

thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường hợp này,

người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên

quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các

biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm.



1.2. Hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm phi nhân thọ

1.2.1. Khái niệm



19



Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai

thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu

kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất.

Hiệu quả kinh doanh biểu hiện ở công thức:



Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế rộng, phản ánh những

lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, để có thể hiểu rõ bản

chất của nó cần phải phân biệt rõ hiệu quả và kết quả.

Có thể hiểu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà

doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định. Kết quả bao giờ

cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả đó có thể cân, đo, đong, đếm

được như: số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận... và cũng có thể chỉ là các đại

lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hồn tồn có tính chất định tính như: uy tín,

chất lượng sản phẩm... Nhưng đối với doanh nghiệp thì kết quả khơng cho thấy

được trình độ quản lý, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, do đó

phải thơng qua phạm trù hiệu quả. Công thức trên cho thấy khái niệm hiệu quả kinh

doanh bao gồm cả kết quả (đầu ra) và chi phí (nguồn lực đầu vào), cả hai chỉ tiêu

kết quả và chi phí đều được tính bằng cả hai đơn vị hiện vật và giá trị. Nhưng khi đo

bằng đơn vị hiện vật thì rất khó xác định do tính khơng đồng nhất đơn vị đo lường,

vì thế người ta thường tính hiệu quả theo đơn vị giá trị biểu hiện ra là tiền tệ.

Từ đó cho thấy bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao

động xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình

trình độ lợi dụng các yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt được mục tiêu

tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó cũng là thước đo trình độ tiết kiệm, yếu

tố đầu vào, nguồn lực xã hội. Tiêu chuẩn hiệu quả đặt ra là việc tối đa hóa kết quả

hoặc tối thiểu hóa chi phí dựa trên điều kiện nguồn lực sẵn có.



20



Hiệu quả kinh doanh là một khái niệm phức tạp và khó đánh giá chính xác,

vì hiệu quả kinh doanh được xác định bởi mối tương quan giữa hai đại lượng là kết

quả đạt được và chi phí bỏ ra, mà cả hai đại lượng này khơng có sự đồng bộ chặt

chẽ và cũng khó đánh giá chính xác.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, chi phí đầu vào bao

gồm các loại chi phí như chi phí bồi thường, chi phí quản lý doanh nghiệp... và kết

quả đầu ra là doanh thu, lợi nhuận.

Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mối quan

tâm của mọi doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi

nhân thọ nói riêng. Đó cũng là vấn đề bao trùm và xuyên suốt, thể hiện trong công

tác quản lý, bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu

quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả những cải tiến, những đổi

mới về nội dung, phương pháp, biện pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực sự đem lại

ý nghĩa khi chúng làm tăng được hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh

khơng những là thước đo về chất lượng, phản ánh tổ chức, quản lý kinh doanh, mà

còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Doanh nghiệp

muốn tồn tại và phát triển thì trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu

quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng đầu tư,

nâng cấp máy móc thiết bị, đổi mới cơng nghệ tiên tiến hiện đại. Kinh doanh có

hiệu quả là tiền đề nâng cao phúc lợi cho người lao động, kích thích người lao động

tăng năng suất lao động và là điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.



1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá

Là những đơn vị kinh doanh mang tính dịch vụ, hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp bảo hiểm là thước đo sự phát triển của bản thân doanh nghiệp và phản

ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanh nhất định,

nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh

doanh bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: tỷ suất lợi nhuận, chi phí quản lý doanh

nghiệp, chi phí bồi thường, năng suất lao động...



21



* Tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số giữa doanh thu, hay lợi nhuận trên tổng chi phí chi

ra trong kỳ của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận được tính theo cơng thức :



Trong đó:

Hd, He: Là hiệu quả kinh doanh tính theo doanh thu và lợi nhuận.

D: Là doanh thu trong kỳ.

L: Là lợi nhuận thu được trong kỳ.

C: Là tổng chi phí chi ra trong kỳ.

Chỉ tiêu (1) là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp được so sánh giữa phần doanh thu và tổng chi phí bỏ ra. Nó cho biết nói lên

cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ, tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

Chỉ tiêu (2) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Nó phản

ánh cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh

nghiệp bảo hiểm.

Hai chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng

lớn.

* Chi quản lý doanh nghiệp / doanh thu phí bảo hiểm và lợi nhuận

Doanh nghiệp bảo hiểm cần phải xem đến việc sử dụng có hiệu quả các

khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp thơng qua chỉ tiêu chi phí cho một đồng

doanh thu phí bảo hiểm và cho một đồng lợi nhuận, qua đó có thể so sánh mức sinh

lợi của đồng vốn bỏ vào kinh doanh và đề ra các biện pháp quản lý nhằm tiết kiệm

chi phí. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại.

* Tỷ lệ chi bồi thường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×