Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng số 1: Hình thức sở hữu nhà ở tại thành phố Hồ Chí Minh

Bảng số 1: Hình thức sở hữu nhà ở tại thành phố Hồ Chí Minh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nguồn: Sở Địa chính - Nhà đất thành phố Hồ Chí Minh: “báo cáo về

chương trình phát triển nhà ở TP HCM giai đoạn 1991-2000 và định

hướng đến 2010” tại Hội nghị nhà ở toàn quốc lần thứ III.

Từ biểu trên cho thấy sở hữu nhà ở thuộc Nhà nước và tập thể ngày

càng giảm, nhà ở thuộc sở hữu tư nhân ngày càng tăng. Điều này phán ánh

việc đầu tư phát triển nhà ở của các hộ gia đình, cá nhân ngày càng nhiều

và chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng quỹ nhà của toàn Thành phố.

Đầu tư phát triển nhà ở các quận mới đã thu hút được nhiều dự án

lớn, làm thay đổi nhanh cơ cấu sử dụng đất, tác động mạnh đến q trình

đơ thị hố. Tính từ 1991 đến 2000 diện tích được giao để xây dựng nhà

theo dự án đạt gần 5 triệu m2, bình quân khoảng 500.000 m2 mỗi năm.

Nhiều khu dân cư được hình thành với quy mơ lớn như An Lạc (110 ha),

Bình Hưng (100ha) thuộc huyện Bình Chánh, An Phú An Khánh (143 ha)

thuộc Quận 2… Vốn đầu tư cho xây dựng nhà ở tăng nhanh, chỉ tính riêng

5 năm (1996-2000) tổng vốn đầu tư đạt 22.021 tỷ đồng. Phần lớn vốn được

huy động từ dân, năm 1991 vốn từ dân chỉ chiếm 65% thì đến năm 2000

đạt 80%.

Từ tháng 3 năm 2003, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có chủ

trương về "xây nhà cho người có thu nhập thấp" và hình thành quỹ hỗ trợ

mua nhà cho người có thu nhập thấp nhưng đến nay hầu như mọi việc vẫn

dậm chân tại chỗ.

Theo chủ trương này, từ 2003 đến 2010, thành phố sẽ xây dựng

70.000 căn hộ chung cư và 18.000 phòng cho th và mua trả góp với tổng

vốn đầu tư cho tồn bộ chương trình dự kiến khoảng 15.000 tỷ đồng.

Dự án này với mục tiêu ngoài việc đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho

người nghèo còn góp phần bình ổn thị trường bất động sản, sắp xếp lại dân

cư trên địa bàn thành phố. Sau hơn 1 năm ban hành chủ trương, chương

trình này vẫn mới ở điểm xuất phát. Trong số 100 dự án đăng ký mới chỉ có

73



4 dự án xây nhà cho công nhân đang được thi công, 53 dự án đang còn

trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Nguyên nhân chính của tình trạng này là

do khơng chuẩn bị được quỹ đất và thiếu vốn. Riêng về vốn, theo dự toán

tổng số tiền xây dựng là 15.000 tỷ đồng, trong đó nguồn từ ngân sách thành

phố cho xây dựng cơ sở hạ tầng là 4 tỷ đồng và phần còn lại dự kiến huy

động trong nhân dân, từ người mua nhà, từ các đơn vị tham gia xây dựng

và vay từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong và ngồi nước. Tuy

nhiên, khoản vay ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn do thành phố chưa có

văn bản quy định về cho vay xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp.

Thêm vào đó đang còn một khó khăn khác là việc xác định chính xác đối

tượng được mua nhà nhằm khống chế các hoạt động thao túng, đầu cơ thị

trường làm cho giá BĐS tăng cao trong khi nhà ở dân dụng không đến tay

những đối tượng có nhu cầu sử dụng thực sự.

 Cung nhà ở tại Hà nội:

Thành phố Hà Nội có quỹ nhà ở đứng thứ hai trong cả nước. Tổng

quỹ nhà ở là 15 triệu m2, chiếm khoảng 15% quỹ nhà ở toàn quốc. Trong đó

nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có khoảng 5 triệu m 2, chiếm hơn 30 % quỹ

nhà của toàn Thành phố, nhà ở thuộc sở hữu tư nhân khoảng 10 triệu m 2,

chiến gần 70% tổng quỹ nhà.

Trong tồn bộ quỹ nhà ở của Hà nội có khoảng 50% là nhà thấp tầng

(1-3 tầng), 50% là nhà cao tầng (4-5 tầng). Những năm gần đây quỹ nhà ở

cao tầng do tư nhân đầu tư xây dựng chiếm khoảng 20% tổng quỹ nhà

thuộc khu vực tư nhân.

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 61 CP của Chính phủ, tính đến

tháng 10 năm 2003, tồn thành phố đã có hơn 75.000 hộ đã mua lại nhà

thuê của Nhà nước với tổng diện tích hơn 2 triệu m 2, chiếm gần 50% số hộ

thuê nhà của Nhà nước.

Về tình hình phát triển nhà ở, trong 10 năm từ 1991 đến 2000, Hà

74



Nội đã xây dựng được trên 5,5 triệu m 2 nhà ở, bình quân mỗi năm tăng hơn

500 ngàn m2. Diện tích nhà ở đơ thị tính theo đầu người bình quân tại Hà

Nội năm 1991 là 4,6m2/ người, đến năm 2000 là khoảng 6m2/ người, trong

khi đó mức trung bình trong cả nước năm 1991 và 2000 lần lượt là 6,7 và

7,5 m2/ người.

Tại Hà Nội, trước năm 1998 nhà ở được xây dựng đơn lẻ, tự phát,

chủ yếu do dân cư tự xây dựng. Từ năm 1998 đến nay việc xây dựng nhà ở

đã được tiến hành theo dự án và đã hình thành các khu đô thị mới trên cơ

sở quy hoạch phát triển đồng bộ cả nhà ở và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ

thuật và hạ tầng xã hội. Trong tổng quỹ nhà từ năm 1996 đến năm 2010 có

71,5% tổng quỹ nhà ở mới xây dựng là do dân cư tự bỏ vốn.

Tốc độ phát triển nhà ở trong những năm gần đây tăng nhanh hơn

nhiều so với các năm trước. Riêng trong 3 năm 2001 -2003 thành phố đã

xây dựng mới được gần 3 triệu m2 nhà, trong đó năm 2001 là 843,44 ngàn

m2, năm 2002 là 936,75 ngàn m2 và năm 2003 là 1.164 ngàn m2, tăng

24,3% so với năm 2002. Trong số nhà xây dựng mới, nhà của các dự án

nhà nước chiếm 69%, đạt 804 ngàn m 2. Như vậy, tính đến năm 2003, tỷ lệ

diện tích xây nhà giữa khối nhà nước bỏ vốn và dân cư bỏ vốn đã thay đổi

đáng kể. Nhà ở phát triển theo dự án chiếm tỷ lệ 79%. Tuy nhiên, ngoài 2

thành phần trên, các thành phần kinh tế khác tham gia phát triển nhà ở còn

rất hạn chế.

Nhà ở do dân cư tự xây dựng chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có của

mỗi gia đình. Trong q trình tự xây dựng nhà ở cho mình, người dân rất ít

quan tâm đến những khía cạnh pháp lý của việc xây dựng và sở hữu nhà ở

cũng như những vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm đi kèm. Toàn thành

phố năm 2003 mới cấp được 3.348 giấy phép xây dựng. Con số này là khá

xa so với thực tế số nhà ở được dân cư xây dựng, nhất là nhà ở tại các quận

mới của thành phố.

75



Quá trình bùng nổ của việc xây dựng nhà ở cá nhân là do:

(1) Kết quả của q trình đổi mới chính sách xóa bỏ bao cấp về nhà ở,

khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở của Nhà

nước.

(2) Thu nhập của các hộ gia đình gia tăng nhanh chóng. Đặc biệt là có sự

tham gia của một bộ phận đáng kể các hộ gia đình thuộc khu vực giải tỏa

cho các cơng trình cơng cộng và các cơ sở kinh doanh được đền bù với

số tiền đáng kể.

(3) Nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu nhà ở cho dân cư.

Tuy nhiên, do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, q trình đơ thị

hóa và sự phát triển của khoa học, công nghệ, sự phát triển của quy mơ gia

đình nên diện tích đất sử dụng vào việc xây dựng nhà ở của các hộ gia đình

bị thu hẹp nhanh chóng, lượng đất có thể cung ứng cho thị trường nhà ở

không những bị giảm sút mạnh mà còn tăng giá đến mức chóng mặt.

Theo quy hoạch, thành phố Hà Nội có 56 dự án lớn, 140 dự án nhỏ

với quỹ đất 2000 ha, tương đương 25 triệu m 2 nhà ở và khoảng 6 triệu m 2

trụ sở, cơng trình cơng cộng, đảm bảo cho 37 vạn người trong nhà ở cao

tầng (tiêu chuẩn 35m2/ người) và 15 vạn người trong nhà ở thấp tầng (tiêu

chuẩn 4 người/ biệt thự 200m2).

Đến năm 2004, Hà Nội đã triển khai 115 dự án phát triển nhà với

diện tích đất xây dựng theo quy hoạch là 3,8 triệu m 2, diện tích đất xây

dựng cơ sở hạ tầng xã hội là 1,2 triệu m 2, diện tích đất xây dựng hạ tầng kỹ

thuật là 5,4 triệu m2 và diện tích đất cho các cơng trình kinh doanh là

694.000m2.

Trong những năm vừa qua, thành phố đã có những chính sách ưu đãi,

hỗ trợ cho phát triển nhà ở. Tham gia vào phát triển nhà ở Hà Nội gồm

nhiều các đơn vị như: Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội; Tổng

76



công ty Phát triển Nhà và đô thị; Công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt

Nam; Tổng Công ty xây dựng Hà Nội; Công ty kinh doanh nhà; Công ty

Đầu tư Phát triển hạ tầng đô thị; Tổng cơng ty Xây dựng sơng Đà…

Tuy nhiên, nhìn chung, thị trường nhà ở cho người có thu nhập thấp

còn chưa phát triển, những cơng cụ tài chính hỗ trợ cho thị trường yếu, các

cơ chế chính sách đối với nhánh thị trường này còn chưa theo kịp những

diễn biến thực tế, chưa đáp ứng được những nhu cầu thực sự của nhóm

người có thu nhập thấp. Tại Hà Nội, 52,4% hộ nghèo đang phải thuê nhà

hay ở nhà người dân. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển á Châu,

trong giai đoạn 2001 - 2010, bình quân mỗi năm Việt Nam cần xây dựng

khoảng 5,6 triệu m2 nhà ở để đáp ứng nhu cầu về nhà cho các đối tượng có

thu nhập thấp.

Theo Ban quản lý phát triển nhà Hà Nội, quỹ nhà dành cho người có

thu nhập thấp của thành phố từ các dự án xây dựng trong giai đoạn 2001 2005 là khoảng 440.000m2. Riêng năm 2003, Hà Nội có 5 dự án phát triển

nhà cho người có thu nhập thấp: tại Nghĩa Đơ - Dịch Vọng (nhà chung cư 6

tầng) với diện tích sàn 3.365m2 gồm 90 căn hộ; tại Xuân Đỉnh - Từ Liêm

(nhà chung cư 9 tầng) với 120 căn hộ; tại Xuân La - Tây Hồ (nhà chung cư

5 tầng) với 36 căn hộ; tại Cầu Diễn - Từ Liêm (nhà chung cư 5 tầng) gồm

16 căn hộ và nhà chung cư 7 tầng với 36 căn hộ; 5 dự án trên với số vốn

đầu tư 54,184 tỷ đồng, diện tích xây dựng 8,880m 2 được dự kiến dành bán

cho những người có thu nhập thấp (thu nhập từ 300.000 - 500.000 đồng/

tháng), hiện chưa có nhà ở hoặc diện tích chật hẹp dưới 6m 2/ người và chủ

yếu là dành bán cho cán bộ công chức nhà nước. Dự kiến mức giá khơng

q 4 triệu đồng/ m2, trả góp với 50% trả lần đầu. Thực tế, do nạn đầu cơ

và những lộn xộn trên thị trường nhà đất trong thời gian qua, người có thu

nhập thấp khơng những khơng thể mua được đất mà còn gần như khơng

tiếp cận được với các căn hộ chung cư, nhất là không thể tiếp cận được với



77



giá gốc của các căn hộ.

Qua thực tế trên có thể thấy cung nhà đất tăng lên đáng kể trong thời

gian vừa qua. Việc mở rộng xây dựng đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng giao

thông ở các thành phố về phía vùng nơng thơn, ngoại thành đã biến đất

nông thôn lâu nay sử dụng với hiệu quả thấp trở thành nguồn cung đất rất

lớn cho xây dựng nhà ở và các cơng trình thuộc kết cấu hạ tầng khác. Q

trình đơ thị hố đã làm chuyển dịch khả năng sử dụng đất đai, làm cho tăng

cung về đất cho những nhu cầu xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng đô thị.



2.1.2.3. Cầu trong thị trường BĐS ở nước ta

Theo kết quả điều tra nhà ở năm 1999 trên phạm vi cả nước đã

chứng minh rõ nét khả năng đáp ứng nhu cầu cải thiện nhà ở: Diện tích nhà

ở của 1 hộ gia đình: Số hộ có diện tích trên 60 m 2 chiếm 24,2%; từ 49-59

m2 chiếm 13,1%; từ 37-48 m2 chiếm 24,6%; từ 25-36m2 chiếm 25,7%, từ

15-24 m2 chiếm 10,1%; dưới 15 m2 còn 2,2%.

Trong 10 năm từ 1990-2000 diện tích nhà ở trung bình đầu người tại

khu vực đơ thị tăng từ 6,7 lên 7,5m 2, khu vực nông thôn từ 7,5 lên 8,6m 2,

đến năm 2005 diện tích bình qn nhà ở đô thị tăng lên 10,8 m 2/ người.

Mặc dù chất lượng nhà ở đã được cải thiện nhưng chưa nhiều, tỷ lệ nhà ở

bán kiên cố và tạm vẫn còn cao. Theo số liệu của Bộ Xây dựng tình trạng

các loại nhà ở đơ thị nước ta như sau:

Bảng số 2: Tỷ trọng các loại nhà ở đô thị hiện nay

STT Loại nhà ở



Tỷ lệ (%)



1



Nhà biệt thự



0,21



2



Nhà ở nhiều tầng, nhà phố (từ 2 tầng trở lên)



14,27



3



Nhà chung cư cao tầng



4,80



4



Nhà ở kiên cố, nhà phố (1 tầng)



19,79



78



5



Nhà ở bán kiên cố



41,65



6



Nhà tạm



19,37



Cộng



100,00



Nguồn:Bộ Xây dựng: “Chương trình phát triển nhà ở đô thị 5 năm

2001-2005” tại Hội nghị Nhà ở Toàn quốc lần thứ III, tháng 3 năm 2002

.

Tại các thành phố lớn, tập trung đông dân cư như Hà Nội, thành phố

Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và một số đơ thị loại 2, số lượng các hộ

sống trong những nhà chật chội, nhà tạm bợ trên hoặc ven kênh rạch, các

“xóm liều” vẫn còn tồn tại. Tại thành phố Hỗ Chí Minh có 25.044 căn hộ,

chiếm 2,5% tổng quỹ nhà ở, với tổng diện tích đất 1.321.240 m 2 và diện

tích nhà 1.728.782 m2 được làm trên kênh rạch nội thành cần được di dời

và tái định cư và 47.877 căn nhà lụp xụp, chiếm 4,8% tổng quỹ nhà, cần rỡ

bỏ. Thành phố Hà Nội có 620.000 m2 nhà ở với 22.140 căn hộ cần được cải

tạo, trong đó có 1.100 căn hộ với diện tích 31.000 m 2 cần phá đi để xây

dựng lại.

Về diện tích ở nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu ở hiện nay, tỷ lệ hộ

sống trong các căn nhà diện tích hẹp dưới 40 m 2 còn chiếm hơn 50 % tổng

số hộ gia đình. Nhiều căn hộ trước đây khi xây dựng chỉ dành cho 1 gia

đình ở, đến nay đã có tới 2-3 gia đình ở cùng một căn hộ. Nhiều căn hộ còn

thiếu các cơng trình phụ như bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh và môi trường vệ

sinh trong khu ở thấp kém trầm trọng. Theo điều tra của viện Xã hội học tại

2 phường Tân mai và Bạch đằng, TP Hà nội có tới 45,5% số hộ ở trong căn

nhà diện tích nhỏ hơn 35 m2 và 40% số hộ sử dụng chung nhà tắm, bếp và

cơng trình vệ sinh, thiếu nước sạch để dùng. Có tới 71,1% số người được

hỏi khơng thoả mãn với nhà ở hiện nay của họ.

Mặc dù cầu về nhà ở trong những năm gần đây đã được đáp ứng một

phần, song cầu BĐS nhà ở vẫn là vấn đề nóng bỏng trong nhiều đơ thị.



79



Nhiều hộ có nhu cầu cải thiện chỗ ở, đặc biệt những hộ có thu nhập cao và

trên trung bình. Theo điều tra của viện Xã hội học nhu cầu cải thiện điều

kiện ở các các nhóm dân cư theo thu nhập như sau:

Bảng số 3: Tỷ lệ hộ có dự định xây dựng hoặc cải tạo nhà ở

(theo mức thu nhập)

Mức thu nhập của hộ

Tỷ lệ (% so với số người được

hỏi theo nhóm thu nhập)

Thu nhập cao

45,8

Thu nhập trên trung bình

40,3

Thu nhập trung bình

38,6

Thu nhập dưới trung bình

26,7

Hộ nghèo

31,9

Nguồn: Số liệu điều tra về hiện trạng và nhu cầu nhà ở tại Hà nội của

viện Xã hội học, năm 1999

Phần lớn các hộ có thu nhập từ trên trung bình trở lên có nhu cầu cải

thiện điều kiện ở rất lớn và những hộ thuộc diện nghèo. Điều này nó lên

rằng những người có khả năng kinh tế hiện nay đều có nhu cầu mở rộng

diện tích ở và các điều kiện ở, còn những hộ thuộc diện nghèo cũng có nhu

cầu cao. Bởi vì nhà ở của những người nghèo chủ yếu là loại nhà tạm, nhà

“ổ chuột”, lại thiếu nguồn nước sạch và các cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống,

do đó để cải thiện điều kiện ở của nhóm người này cần có sự quan tâm của

các cấp chính quyền và của Nhà nước.

Bên cạnh đó những người hiện đang ở trong các chung cư được xây

dựng trước năm 1990 cũng có những nhu cầu cải thiện chỗ ở. Theo điều tra

xã hội học tại một số tỉnh có thể thấy kết quả sau.

Bảng số 4 : Nguyện vọng được cải thiện chỗ ở trong các nhà chung cư

Số phiếu

điều tra



Đập bỏ



Sửa lại



Mua mới



Tổng cộng



Hà Nội



240



12,5



35,8



10,4



58,7



Việt Trì



151



8,6



70,8



20,6



100,0



Thanh Hóa



216



1,8



25



28,2



55,0



Vinh



238



6,3



83,2



4,8



94,3



Thành phố



% ý kiến theo nguyện vọng



80



Đà Nẵng



123



38,2



37,3



24,5



100



TP HCM



135



2,98



52,2



19,2



74,38



Nguồn: Thời báo kinh tế Sài gòn số 24-2004

Từ biểu trên cho thấy phần lớn người dân sống trong các chung cư

được xây dựng trước năm 1990 đều có nguyện vọng thay đổi chỗ ở, một tỷ

lệ lớn số người được hỏi mong muốn được sửa chữa hoặc mua nhà ở mới.

Đây là một nhu cầu rất lớn hiện nay về BĐS dân cư.

Hơn nữa tốc độ tăng dân số cơ học ở các đô thị lớn vượt xa dự báo

của các cơ quan chuyên môn. Dự báo đến năm 2005 dân số toàn thành phố

Hà Nội sẽ tăng lên 2,9 triệu người, nhưng hiện nay tốc độ tăng dân số cơ

học đã vượt xa tỷ lệ dự kiến. Những người dân từ các địa phương khác có

nhu cầu mua nhà ở tại Hà Nội để ở hoặc cho con cái đã làm tăng đáng kể

lượng cầu về nhà đất

Từ thực trạng trên cho thấy vẫn đang có sự mất cân đối giữa cung và

cầu, cầu vẫn vượt xa cung, trong khi ở tất cả các thành phố trong cả nước

đều có chương trình phát triển nhà ở, nhiều khu đơ thị mới, nhiều dự án nhà

ở đã và đang được triển khai nhưng chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu

nhà ở hiện nay cả về diện tích ở và phương tiện ở.



2.1.2.4. Về giá cả bất động sản

 Về giá đất đai:

Trong thị trường sơ cấp giá đất đai do Nhà nước quy định, còn trong

thị trường thứ cấp giá đất được quyết định bởi quan hệ cung cầu, đồng thời

còn bị một số yếu tố khác chi phối. Giá thị trường đất đai mang tính địa

phương và hay giao động. Giá đất ở các đơ thị thường có biến động lớn và

phức tạp theo tốc độ của q trình đơ thị hố. Sự chuyển đổi mục đích sử

dụng đất diễn ra nhanh, mạnh ở các khu vực ven đô, chủ yếu là chuyển từ

81



đất sản xuất nông nghiệp thành đất xây dựng. Giá đất trên thị trường có

biến động rất lớn và có độ chênh lệch lớn so với khung giá do UBND các

tỉnh xây dựng. Có thể thấy tình hình này qua thị trường đất của Hà Nội.

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Địa chính sự biến động của giá

đất bình quân trên thị trường BĐS Hà Nội như sau (xem hình 1)



Biểu đồ 1: Giá bình quân 1 m2 đất giai đoạn từ 1994-2001

(Khu vực phố Bà Triệu - đường loại 1,vị trí 1,mức A)



Từ số liệu trên cho thấy giá đất có xu hướng tăng liên tục, riêng năm

1996 tăng đột ngột. Nguyên nhân của việc tăng đột ngột ở đây là do ảnh

hưởng của xu hướng chung trên thị trường BĐS trong khu vực, các nhà đầu

tư BĐS đổ xô vào đầu cơ đất đai, xây dựng nhà hàng, khách sạn… đã làm

tăng cầu đất một cách giả tạo. Khi cơ hội kinh doanh khơng có được như

họ tưởng, nhiều nhà kinh doanh BĐS phải bán đất đai, nhà cửa, khách

sạn… với giá thấp để thu hồi vốn và trả nợ ngân hàng, do vậy giá đất trong

những năm 1997-1998 đã giảm đột ngột. Đây chính là thời kỳ xẩy ra cuộc

khủng hoảng tài chính, tiền tệ Châu á. Từ năm 1999 giá đất đi vào ổn định

nhưng ln có xu hướng tăng, điều này cho thấy cầu về đất đai luôn vượt

quá khả năng cung đất, mặc dù Chính phủ đã có nhiều can thiệp thông qua

thay đổi, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai, mở rộng đô thị. Từ cuối



82



năn 2000 giá đất lại có xu hướng tăng cao. Theo điều tra giá đất trên địa

bàn thành phố Hà Nội của Tổng cục Địa chính từ quý 1năm 2001 đến quý 1

năm 2002 cũng chứng minh xu hướng biến động tăng của giá đất (bảng số

5).

Bảng số 5: Giá đất trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội

từ quý 1năm 2001 đến q 1 năm 2002

Loại

đường phố



Vị

trí



Kim Mã



1A



Cầu Giấy



2B



Hồng Quốc Việt



3A



1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4



Đường phố



Giá bình quân trên thị trường (nghìn đ/m2)

Năm

Năm

Giá năm 2002 so với

2001

2002

2001 (lần)

27.465

49.400

1,8

11.200

29.000

2,59

5.888

14.440

2,45

14.108

25.250

52.100

2.06

10.773

20.140

1,87

5.000

10.620

2,12

5.311

9.000

1,7

23.680

10.945

17.200

1,57

5.457

12.330

2,26

4.640

5.600

1,22



Nguồn: Số liệu điều tra của Tổng cục Địa chính

Trong những năm gần đây giá đất vẫn trong xu hướng tăng mạnh,

trong một năm từ 2001-2002 tăng bình quân ở mức gần 2 lần, đặc biệt là

những mảnh đất thuận tiện cho việc buôn bán và dịch vụ. Nguyên nhân

tăng mạnh giá đất vào giai đoạn này là do tăng dân số và tăng thu nhập,

nhưng chủ yếu giá đất của các khu vực tăng là do thay đổi quy hoạch của

Chính phủ. Việc mở rộng giao thông, xây dựng các khu đô thị mới, xây

dựng các khu cơng nghiệp, các khu vui chơi giải trí…đã làm tăng nhu cầu

sử dụng đất để làm nhà ở, làm dịch vụ phục vụ cho đời sống và phát triển

xã hội và một số người có tiền có xu hướng đầu cơ vào đất ở những khu

vực ngoại thành mới quy hoạch nhằm thu lợi nhuận cao. So với giá quy

định trong khung giá đất của Nhà nước giá đất trên thị trường cao gấp từ 45 lần, cá biệt có nơi cao gấp gần 10 lần. Điều này cho thấy sự bất cập trong

83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng số 1: Hình thức sở hữu nhà ở tại thành phố Hồ Chí Minh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×