Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới

II. Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

vào các số liệu được Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) sử dụng

qua những Báo cáo phát triển con người thường niên.



12



Bảng 1- Các chỉ số phát triển liên quan tới giới (GDI) một số nước chọn lọc

năm 2005

Tỷ lệ nhập

Các



chỉ



số



phát triển liên



Tên quốc



quan tới giới



gia



(GDI)



Tỷ lệ biết chữ



học gộp các



Tuổi thọ



của



bậc giáo dục



(tuổi)



lớn(% người từ



tiểu



2005



15 tuổi trở lên)



trung học và



1995-2005



đại



người



học,

học(%)



(Nguồn:

Thu



nhập



ước



tính kiếm được



hợp



(USD PPP)



“Báo cáo



2005



phát



Iceland



Giá



hạng



trị



1



Na Uy



3



Nhật



13



Mỹ



16



Thái Lan

Trung

Quốc

Thổ Nhĩ





71

73

79



Việt Nam



91



Senegal



135



Nigeria



139



Angola



142



Ethiopia 149



0,96

2

0,95

7

0,94

2

0.93

7

0,77

9

0,776



Nữ



Nam



Nữ



Nam



Nữ



từ



triển con



2005



Xếp



Tổng



Nam



Nữ



Nam



người

2008”



83,1 79,9



99



99



101 90



28637 40000



10



3074



UNDP)



82,2 77,3



99



99



85,7 78,7



99



99



85



87



80.4 75,2



99



99



98



89



65,5



90,5



94,9



72



71



6695



10732



qua



71,0



86,5



95,1



69



70



5220



8213



những



69,0



79,6



95,3



64



73



4385



12368



71,9



86,9



93,9



62



66



2540



3604



60,4



29,2



51,1



37



42



1256



2346



46,0



60,1



78,2



51



61



652



1592



40,1



54,2



82,9



24



28



1787



2898



50,5



22,8



50,0



36



48



796



1316



74,

5

74,



0,76



3

73,



3

0,73



9

75,



2

0,49



7

64,



2

0,45



4

47,



6

0,43



1

43,



9

0,39



3

53,



3



1



3



95



của



9



40000



17802 40000



Có thể



2500



nhận



5



40000



thấy



nghiên cứu mới đây nhất của UNDP về bất bình đẳng giới, hầu hết các nước

phát triển đều có thứ hạng cao, điển hình như Na Uy, Nhật, Mỹ và những thứ

hạng thấp nhất giành cho các nước đang phát triển kém phát triển. Qua các chỉ

số thành phần để hình thành nên GDI 2005 có thể nhận thấy sự chênh lệch ở



13



các chỉ số giữa nam và nữ. Đặc biệt là chỉ số thu nhập phân bổ đồng đều, hầu

hết các quốc gia đều có sự chênh lệch rất lớn về thu nhập giữa nam giới và nữ

giới. Tuy nhiên để đánh giá sự phân phối mất cân đối một cách rõ rệt nhất cần

sử dụng đến chỉ số phát triển con người HDI trong mối quan hệ với chỉ số phát

triển giới GDI.

Bảng 2 – So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc

năm 2005

HDI

Tên nước

Iceland

Na Uy

Úc

Nhật

Mỹ

Lucxămbua

Thái Lan

Trung Quốc

Việt Nam

Nam Phi

Campuchia

Ca mơ run



Giá trị

0,986

0,986

0,962

0,953

0,951

0,944

0,781

0,777

0,733

0,674

0,598

0,532



GDI

Xếp



Giá trị



hạng

1

2

3

8

12

18

78

81

105

121

131

144



0,962

0,957

0,960

0,942

0.937

0,924

0,779

0,776

0,732

0,667

0,594

0,524



Xếp hạng HDI

Xếp



trừ đi xếp hạng



hạng

1

3

2

13

16

23

71

73

91

107

114

126



GDI

0

-1

1

-5

-4

-5

0

1

3

-1

1

0



(Nguồn: tổng hợp từ “Báo cáo phát triển con người 2008” của UNDP)



Qua bảng số liệu có thể nhận thấy ở các nước trong khối hợp tác và phát

triển kinh tế có giá trị HDI gần với giá trị của GDI, thậm chí có nước còn có

thứ hạng GDI cao hơn như Na Uy, Luc Xam bua, đều đó cho thấy một sự phân

phối bình đẳng hơn về phát triển con người. Ngược lại, các nước đang phát

triển như Việt Nam, Camơrun, Campuchia có thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng

HDI, ở đó tồn tại sự phân phối khơng bình đẳng và phát triển giữa nam và nữ.

Mặt khác, nếu xét bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế, ở các quốc gia

đang phát triển tỷ lệ nữ giới trong hoạt động kinh tế là 52.4% , các quốc gia

OECD là 52,8% trong khi tỷ lệ đó của thế giới là 52,5%.



14



Thực trạng này cho thấy, bất bình đẳng giới tồn tại trong mỗi quốc gia, nhưng

thể hiện với các mức độ khác nhau. Và có thể nói, sự bất bình đẳng về giới ở

những nước đang phát triển nhiều hơn, sự chênh lệch về phân phối sự phát triển

giữa nam và nữ cao hơn so với các nước đang phát triển. Nhận thấy một thực tế

rằng, các nước phát triển, có tiềm lực về kinh tế, có sự đầu tư tốt hơn, tạo điều

kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống hay phát triển con người cao hơn. Còn

những nước đang phát triển, kinh tế khó khăn, thêm vào đó là văn hóa, chính

trị, xã hội vẫn tồn tại những hạn chế , hay nói cách khác bất bình đẳng giới vẫn

chưa suy giảm. Ở đó, sự chêch lệch về việc làm, về thu nhập, về giáo dục giữa

nam giới và nữ giới còn cao, vị thế của phụ nữ trong xã hội vẫn chưa được cải

thiện. Một số biểu đồ so sánh về bất bình đẳng giới các nước trên thế giới

1. Bản đồ phân biệt đối xử giới tính trên thế giới



Nguồn:

http://www.oecd.org/document/55/0,3343,en_2649_34487_42278391_1_1_1_1,00.html



15



2.Biểu đồ so sánh các tỷ lệ nữ so với nam giữa các nước

Nguồn: Báo cáo "Đưa vấn đề giới vào phát triển" của Ngân hàng thế giới 2000



1.2. Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và phát triển



1.2.1 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và đói nghèo:

Như chúng ta đã xem xét các hình thái của bất bình đẳng giới ở phần

trên, trong phần này chúng ta cũng sẽ chỉ xem xét mối quan hệ giữa đói nghèo

và bất bình đẳng giới về khía cạnh giáo dục, việc làm và thu nhập. Bất bình

đẳng giới tồn tại cả trong nhóm người giàu và nghèo nhưng dường như có xu

hướng gay gắt hơn trong nhóm người nghèo.

Trước tiên chúng ta sẽ xem xét về mặt giáo dục. Năm 1999, Filmer đã

tiến hành phân tích sự khác biệt trong tỷ lệ đến trường ở độ tuổi 6 đến 14 bằng

việc sử dụng kết quả điều tra nhân khẩu của hơn 41 nước trong các vùng Trung

Á, Nam Á và Đông Nam Á, châu Phi và hạ Sahara, châu Mỹ Latinh và vùng

Caribê. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân biệt giới về tỷ lệ đi học trong

nhóm người nghèo có xu hướng lớn hơn trong nhóm người giàu. Sự phân biệt

16



giới trong tỷ lệ đi học ở độ tuổi 6 đến 14 được Filmer thể hiện bằng tỷ số giữa

tỷ lệ số nam sinh chia cho tỷ lệ số nữ sinh. Filmer đã phân ra làm 2 nhóm quốc

gia, trong đó khoảng cách về giáo dục trong nhóm nghèo cao hơn trong nhóm

giàu. Trong 1 phân nhóm sự bất bình đẳng giới ở mức thấp hoặc vừa phải trong

nhóm giàu( tỷ lệ của nam so với nữ nhỏ hơn 1,5) và ở mức vừa phải trong

nhóm nghèo (tỷ lệ này là 1,1 đến 1,5). Trong nhóm thứ 2 thì sự bất bình đẳng

thấp và vừa phải trong nhóm giàu( tỷ lệ dưới 1,5) nhưng lại lên tới trên 1,5

trong nhóm nghèo. Còn theo Todaro (2006), ở hầu hết các quốc gia đang phát

triển, trẻ em gái được học hành ít hơn trẻ em trai. Trong những năm gần đây, 66

trong số 108 quốc gia được nghiên cứu có tỷ lệ trẻ em gái nhập học cấp tiểu

học và trung học thấp hơn trẻ em nam ít nhất khoảng 10%. Nếu tính trung bình

cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% so

với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và

tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơn

tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam.

Theo số liệu thống kê cho thấy phụ nữ có ít quyền hơn đối với một loạt

các nguồn lực thuận lợi, bao gồm giáo dục, đất đai, thơng tin, và tài chính. Ở

Nam Á, trung bình thời gian phụ nữ được đến trường chỉ bằng khoảng một nửa

thời gian của nam giới, và tỉ lệ học sinh nữ nhập học ở cấp trung học vẫn chỉ là

1/3 so với tỉ lệ nam học sinh. Nhiều phụ nữ khơng có quyền sở hữu đất đai, và

những người có quyền thì thường sở hữu ít đất hơn so với nam giới. Ở phần lớn

các nước đang phát triển, các công ty do phụ nữ điều hành có xu hướng thiếu

vốn, tiếp cận kém hơn tới máy móc, phân bón, mở rộng thơng tin, và tín dụng

so với các cơng ty do nam giới điều hành. Những bất bình đẳng như thế, dù

trong lĩnh vực giáo dục hay trong các nguồn lực thuận lợi khác, làm suy giảm

khả năng tham gia vào quá trình phát triển của người phụ nữ và góp phần nâng

cao mức sống cho gia đình họ.

Mặc dù các thành quả về giáo dục cho phụ nữ có tăng, họ vẫn bị trả

lương thấp hơn so với nam giới trong thị trường lao động – dù họ có cùng bằng

17



cấp và thâm niên làm việc như nam giới. Phụ nữ ở các nước đang phát triển

thường bị giới hạn ở một số loại nghề nghiệp và hầu như bị loại trừ ra khỏi các

chức vụ quản lí trong các ngành nghề chính thống. Ở các nước công nghiệp

phát triển, phụ nữ làm trong các ngành nghề được trả lương có thu nhập trung

bình bằng 77% so với thu nhập của nam giới; ở các nước đang phát triển, co số

này là 73%. Chỉ 1/5 khoảng cách về thu nhập là có thể giải thích được bằng sự

khác biệt giới trong giáo dục, kinh nghiệm làm việc và đặc điểm nghề nghiệp.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), năm 2006 có 1,2 tỉ trong số 1,9 tỉ

người lao động trên toàn thế giới là phụ nữ. Ngày càng có nhiều phụ nữ tham

gia vào thị trường lao động ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á. Song, trong

khoảng 10 năm trở lại đây, tỉ lệ cơ cấu lao động là nữ đã khơng tăng, thậm chí

còn có xu hướng giảm ở nhiều khu vực. Rõ nét nhất là ở Nam Á, chỉ có 3 trong

số 10 phụ nữ có việc làm. Đặc biệt tỉ lệ phụ nữ thất nghiệp ngày càng tăng, lên

tới 22,7% so với năm 1996. Có một thực tế nữa là phụ nữ thường phải làm

những công việc thu nhập thấp. Nhiều khi thu nhập ấy không đủ để có thể vực

chính bản thân họ và gia đình thốt khỏi sự nghèo đói. ILO đã tính được rằng

trong năm 2006, có tới 60% sốphụ nữ có việc làm là những cơng việc có thu

nhập thấp. Nhiều phụ nữ làm việc dưới dạng "thành viên làm việc trong gia

đình khơng được trả lương". Khoảng 21% số phụ nữ có việc làm ở khu vực

Đơng Á và 37% số PN có việc làm ở khu vực Đông Nam Á làm việc trong điều

kiện trên.

1.2.2 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và năng suất, tăng trưởng:

Ta nhận thấy bất bình đẳng giới còn giảm năng xuất lao động ở các nông

trại và các doanh nghiệp và như vậy hạ thấp triển vọng xố đói nghèo và bảo

đảm tăng trưởng kinh tế. Bất bình đẳng giới còn làm cho việc điều hành đất

nước yếu kém do đó giảm hiệu quả của các chính sách phát triển. Mặc dù các

thành quả về giáo dục cho phụ nữ có tăng, họ vẫn bị trả lương thấp hơn so với

nam giới trong thị trường lao động – dù họ có cùng bằng cấp và thâm niên làm

việc như nam giới. Phụ nữ ở các nước đang phát triển thường bị giới hạn ở một

18



số loại nghề nghiệp và hầu như bị loại trừ ra khỏi các chức vụ quản lí trong các

ngành nghề chính thống.

Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như

nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn,

thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn

trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn. Quan trọng hơn là điều đó làm khả

năng thiên bẩm trung bình của những đứa trẻ được học hành sẽ thấp hơn so với

những trường hợp cả trẻ em trai và trẻ em gái cùng có cơ hội học tập như nhau.

Và vì thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể

đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, nếu chúng ta giả

định rằng, lao động nam và nữ trong một số ngành không thể là đầu vào thay

thế hoàn hảo cho nhau tức là đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với nam giới

đồng nghĩa với việc đầu tư nhiều hơn cho chất lượng đầu vào của ngành sử

dụng nhiều lao động nam và ngược lại đối với ngành sử dụng nhiều lao động

nữ. Theo quy luật, năng suất cận biên giảm dần, hiệu quả của một đơn vị vốn

đầu tư thêm cho giáo dục đối với ngành sử dụng nhiều lao động nam sẽ giảm

dần và tổng hiệu quả trong nền kinh tế sẽ cao hơn, nếu chúng ta chuyển một

phần kinh phí đầu tư đó sang cho việc đào tạo nữ lao động trong ngành sử dụng

nhiều lao động nữ.

Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào

tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong

gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con

cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như khả

năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho

giáo dục đối với con cái. Ngồi ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò

quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái. Trong các gia

đình có cùng mức thu nhập, số trẻ em chậm phát triển trong các gia đình với

trình độ của người mẹ cao hơn đã giảm hơn hẳn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa

khi các nghiên cứu chỉ ra rằng, sự gia tăng về thu nhập của gia đình không

19



không phải lúc nào cũng dẫn đến sự cải thiện sức khỏe và giáo dục cho các

thành viên trong gia đình (Todaro, 2006).Tuy nhiên, trong dài hạn, các tác động

này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động

trung bình của tồn xã hội sẽ được nâng lên.

Bất bình đẳng giới được thể hiện thông qua sự tiếp cận hạn chế của phụ nữ

đối với các nguồn tín dụng, hoặc hạn chế quyền sử dụng các tài sản thế chấp để

vay vốn hoặc khơng có quyền quyết định việc phân bổ đầu vào trong các hoạt

động sản xuất. Do đó, các đầu vào được tập trung hầu hết cho các hoạt động

sản xuất của nam giới. Theo quy luật, năng suất cận biên của các đầu vào giảm

dần, tổng sản lượng sẽ tăng lên khi tổng đầu vào được phân chia đều hơn cho

cả các hoạt động sản xuất của cả nam và nữ.

Bằng việc cản trở tích tụ tư bản con người trong việc nhà và trên thị trường

sức lao động, bằng việc loại trừ một cách có hệ thống phụ nữ hoặc nam giới

khỏi sự tiếp cận với nguồn lực, với các dịch vụ xã hội, hoặc với các hoạt động

có lợi, phân biệt đối xử về giới làm giảm khả năng tăng trưởng và khả năng

nâng cao mức sống của một nền kinh tế.

• Các thiệt hại trong đầu ra là kết quả của sự phân bố không hiệu quả các

nguồn lực thuận lợi giữa nam giới và phụ nữ trong phạm vi hộ gia đình.Trong

các hộ gia đình ở Burkina Faso, Cameroon, và Kenya, sự kiểm soát đầu vào và

kiểm sốt thu nhập từ nơng nghiệp của phụ nữ và nam giới công bằng hơn sẽ

tăng sản lượng nông nghiệp thêm 1/5 của sản phẩm đầu ra hiện nay.

• Đầu tư thấp đối với giáo dục cho phụ nữ cũng giảm sản phẩm đầu ra nói

chung của đất nước. Một cuộc khảo sát dự báo rằng nếu các nước ở Nam Á,

vùng cận Sa ha ra của Châu Phi, Trung đông và Bắc phi bắt đầu giảm khoảng

cách về giới trong chỉ số thời gian đi học trung bình như các nước Đông Á đã

tiến hành trong năm 1960, và nếu họ thu hẹp khoảng cách giới trong chỉ số nói

trên với tốc độ như các nước Đơng Á đã đạt được trong giai đoạn 1960-1992,

thì thu nhập bình quân đầu người của họ đã tăng thêm 0,5-0,9% mỗi năm - một

mức tăng đáng kể vào tỉ lệ tăng trưởng thực tế. Một nghiên cứu khác dự đoán

20



rằng thậm chí đối với các nước thu nhập khá và thu nhập cao có mức dân trí

khởi đầu cao hơn, tỉ lệ phụ nữ được giáo dục trung học tăng 1% đồng nghĩa với

tỉ lệ thu nhập bình quân đầu người tăng 0,3%. Cả hai cuộc nghiên cứu nói trên

đều có các biến đối chứng thường được nói đến trong các nghiên cứu tăng

trưởng.

Các phân tích trên cho thấy, bất bình đẳng giới trong giáo dục và quyền

quyết định đối với các hoạt động kinh tế, hoặc hạn chế trong việc tiếp cận các

nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất đối với phụ nữ đều hạn chế tăng

trưởng kinh tế. Điều đó càng khẳng định, bình đẳng giới khơng chỉ đơn thuần là

mục tiêu phát triển mang tính chuẩn tắc, mà còn là động lực thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn.

1.2.3 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới và phát triển con người

Giữa bất bình đẳng giới và sự phát triển con người có mối quan hệ rất

chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong thời đại hiện nay, khi vai trò của người phụ

nữ trong xã hội ngày càng được coi trọng. Và tại báo cáo phát triển con người

năm 1995, Human Development Report - HDR (báo cáo thường niên của

chương trình phát triển Liên Hợp Quốc – UNDP), lần đầu tiên chỉ số phát triển

liên quan đến giới, Gender-related Development Index – GDI và chỉ số trao

quyền giới, Gender Empowerment Measure - GEM được đưa ra. GDI và GEM

được sử dụng như các công cụ kiểm tra cho các phân tích và các thảo luận

chính sách về tình hình phát triển con người có liên quan đến giới. Chừng đó

cũng đủ để nhận thấy tầm quan trọng giữa bình đẳng giới với sự phát triển con

người nói chung

Chỉ số phát triển liên quan tới giới GDI phản ánh những bất bình đẳng về

thành tựu giữa phụ nữ và nam giới, một dạng thức của HDI về giới. Theo báo

cáo phát triển của Liên Hợp Quốc hàng năm thì chỉ số GDI của Việt Nam ngày

càng được cải thiện đáng kể, đặc biệt theo báo cáo mới nhất năm 2008 thì Việt

Nam đứng thứ 90 trên tổng số 156 nước được nghiên cứu với chỉ số GDI là

0,732. Điều đó được thể hiện cụ thể hơn qua bảng sau

21



Bảng 3 - So sánh giữa GDI và HDI – một thước đo của sự bất bình đẳng (2008)

Tỉ lệ % giữa Tỉ lệ % tuổi thọ Tỉ lệ % người trên Tỉ lệ trẻ em nhập

GDI và HDI



của nữ giới so với 15 tuổi biết chữ học của nữ giới

nam giới



1.



Maldives 1.



(100,4%)



LB



(123,1%)



của nữ giới so với so với nam giới

nam giới

Nga 1.



Lesotho 1. Các tiểu vương



(122,4%)



quốc







Rập



(126.0%)

……………

………………

………………

……………

7.

LB

Nga 138.

Isarel 85.

Zimbabwe 144.

Syria

(99,8%)

(105.4%)

(93.0%)

8.

Bulgaria 139. New Zealand 86.

(99,8%)

9. Việt

(99,8%)

10.



(105,3%)

Nam 140. Việt

(105,3%)

Latvia 141.



(99,8%)

(105,2%)

11.

Estonia 142.

Cu

(99,8%)



(93.9%)

Malaysia 145.

Swaziland



(92.8%)

Nam 87.

Việt

(92.5%)

Yemen 88.



(93.7%)

Nam 146. Việt



(93.5%)

Indonesia 147.



(92.3%)

Ba 89. Macao (92,1%)



(105,2%)



Nam

Bolivia



(93.3%)

148.

Vanuatu

(92.8%)



Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp

đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và kiến thức của người phụ nữ cũng sẽ

được nâng cao. Khi đó, người phụ nữ sẽ có thể tự mình thiết lập cho mình một

cuộc sống đầy đủ với một mức sống tương đối bằng những kiến thức của mình.

Họ cũng có thể chăm lo cho gia đình tốt hơn, chất lượng cuộc sống không chỉ

của người phụ nữ mà của cả gia đình sẽ được cải thiện và do vậy tuổi thọ của

họ cũng sẽ cao lên. Điều này sẽ được thấy rõ qua 2 ví dụ sau đây:

Ví dụ 1: Trình độ của người mẹ đóng vai trò quyết định trong việc chăm

sóc, ni dạy đối với con cái. Khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia

đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con cái

sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như khả

năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho

giáo dục đối với con cái. Trong các gia đình có cùng mức thu nhập, số trẻ em

chậm phát triển trong các gia đình với trình độ của người mẹ cao hơn đã giảm



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Thực trạng và nguyên nhân của bất bình đẳng giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×