Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam

1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

Kinh tế phát triển

lượt, gấp gần 1,6 lần so với năm 2010. Mở rộng miễn thị thực cho người Việt

Nam định cư ở nước ngồi và cơng dân của nhiều nước để khuyến khích phát

triển thương mại, đầu tư và du lịch.

Mạng lưới và cơ cấu đào tạo hợp lý hơn; quy mô, chất lượng và sự công

bằng trong tiếp cận giáo dục được cải thiện. Ứng dụng khoa học và đổi mới

cơng nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, thông tin

truyền thông, y tế, xây dựng. Thị trường khoa học cơng nghệ có bước phát

triển, giá trị giao dịch tăng 13,5%/năm. Số lượng sáng chế và các giải pháp

hữu ích đăng ký bảo hộ gấp gần 2,2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Chỉ số

đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với năm

2010.

Nhiều cơng trình hạ tầng thiết yếu về giao thơng, năng lượng, thủy lợi, đô

thị, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục... được đưa vào sử dụng, thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tạo diện mạo mới cho đất nước.

Công tác y tế dự phòng và chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Giảm

quá tải bệnh viện đạt những kết quả tích cực. Tập trung đầu tư xây dựng hệ

thống các bệnh viện. Ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào khám chữa bệnh đạt

nhiều kết quả. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 75%. Chất lượng, phương

thức thông tin ngày càng được đa dạng hóa, đáp ứng nhu cầu thơng tin của

người dân, thông tin đối ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của

Nhà nước.

Các dịch vụ tài chính ngân hàng tiếp tục phát triển, đa dạng hóa và hiện đại

hóa. Hoạt động xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần

yếu kém được đẩy mạnh. Đến tháng 9-2015, nợ xấu còn 2,9% (tháng 9-2012

là 17,43%) và đã giảm 17 tổ chức tín dụng. Các cơng ty tài chính, chứng

khốn, bảo hiểm từng bước được cơ cấu lại; công tác kiểm tra, giám sát được

Page 12



Kinh tế phát triển

tăng cường; thông tin ngày càng công khai, minh bạch; hiệu quả hoạt động

được cải thiện. Thanh khoản và an toàn hệ thống được bảo đảm.

Quy mơ thị trường chứng khốn tăng, mức vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt

khoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm

2015. 59 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Quan hệ thị

trường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế, trong đó có 15 quốc

gia trong Nhóm G-20.

Tuy nhiên, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, có tốc độ tăng thấp hơn

giai đoạn trước. Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học và cơng

nghệ phát triển còn chậm. Các ngành dịch vụ mang tính chất "động lực" hay

"huyết mạch", có hàm lượng tri thức cao, như tài chính-tín dụng, khoa học và

cơng nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP

của tồn nền kinh tế. Hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gian

lớn, chưa kết nối thơng suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hồ lợi ích giữa

các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ; chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chun

nghiệp chưa cao.

Các dịch vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và

hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết

quả đã nghiên cứu được. Thị trường khoa học công nghệ còn sơ khai. Cơ sở

vật chất và đầu tư cho khoa học cơng nghệ còn chưa tương xứng. Đóng góp

của khoa học cơng nghệ vào q trình CNH, HĐH chưa cao. Vị trí của Việt

Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri

thức (KEI) của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Năm 2012, chỉ

số KEI của Việt Nam là 3,51 và thuộc nhóm trung bình thấp. Chỉ số sáng tạo

của Việt Nam năm 2013 đạt 34,82 và xếp thứ 76 trong 141 quốc gia.



Page 13



Kinh tế phát triển

Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp so với

u cầu; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, mất cân đối về bậc học, về ngành nghề,

về vùng lãnh thổ. Dịch vụ y tế còn hạn chế cả về lượng và chất. Việc bảo đảm

vệ sinh an tồn thực phẩm còn nhiều yếu kém. Tệ nạn xã hội một số nơi còn

diễn biến phức tạp. Nhiều biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống gây bức xúc

trong nhân dân. Tai nạn giao thơng vẫn còn nghiêm trọng; ùn tắc giao thơng

tại đơ thị lớn khắc phục chậm. Chất lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu và

cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém còn nhiều khó khăn.

Du lịch chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Ứng dụng cơng nghệ thơng tin, xây dựng Chính phủ điện tử còn chậm. Bảo

đảm an tồn, an ninh thơng tin mạng còn nhiều bất cập. Sự gắn kết giữa cơng

nghiệp-nơng nghiệp với dịch vụ còn nhiều bất cập. Các dịch vụ đối ngoại phát

triển vừa thiếu quy hoạch vừa dưới tiền năng và chưa hiệu quả, chưa phát huy

hết các lợi thế và chuẩn bị tốt các điều kiện cho chủ động hội nhập.

Thống kê cho thấy, đóng góp của ngành Dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế

ngày càng tăng. Cụ thể: Giai đoạn 1991-1995, ngành Dịch vụ có mức tăng

trưởng khá nhanh, đạt 8,6%; Giai đoạn 1996-2000 tốc độ tuy đã chậm lại

song cũng đạt 5,7%; Giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt

6,31%/năm, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm

2010 lên 82,5% năm 2015; Năm 2016, GDP ước tính tăng 6,21% so với năm

2015, trong đó, khu vực dịch vụ tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với 6,98%

với sự đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán buôn và bán lẻ

chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 8,28% so với năm 2015; Hoạt động tài

chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,79%; Hoạt động kinh doanh bất động

sản được cải thiện hơn với mức tăng 4,00%, cao hơn mức tăng 2,96% của

năm trước; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 6,70% so

với mức tăng 2,29% của năm 2015...

Năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước

tính đạt 640 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ

yếu tố giá tăng 5,6% (thấp hơn mức tăng 7,6% của cùng kỳ năm 2016);

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 75,8 nghìn

tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu du lịch lữ hành 2

Page 14



Kinh tế phát triển

tháng đầu năm ước tính đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng

5,1% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng ước tính đạt

71,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng mức và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm

2016…

2.2 Ưu điểm và nhược điểm của nghành dịch vụ Việt Nam

2.2.1 Ưu điểm

Thời gian qua, nước ta đã định hướng tập trung phát triển các ngành Dịch

vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, cơng nghệ cao như cơng

nghệ thơng tin, truyền thơng, logistics, hàng khơng, tài chính, ngân hàng,

du lịch, thương mại điện tử... Mạng lưới thương mại và dịch vụ nhờ đó đã

phát triển mạnh trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển

kinh tế - xã hội.

Thị trường khoa học công nghệ có bước phát triển, giá trị giao dịch tăng

13,5%/năm. Nhiều cơng trình hạ tầng thiết yếu về giao thơng, năng lượng,

thủy lợi, đô thị, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục... được đưa vào sử

dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tạo diện mạo

mới cho đất nước.

2.2.2 Nhược điểm

Tuy nhiên, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, tốc độ tăng chưa bền

vững. Ngành Dịch vụ vẫn chưa thể hiện được vai trò chủ đạo dẫn dắt tốc độ

tăng trưởng nền kinh tế.

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, quy mô và chất lượng dịch

vụ của Việt Nam quá thấp; Tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP của nền kinh tế

theo hướng dịch vụ hóa còn rất chậm, so với 5 năm trước, tỷ trọng của các

ngành Dịch vụ trong GDP hầu như không thay đổi và mức độ tác động lan

tỏa thấp. Hiện ngành Dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 40% GDP, tỷ lệ này thấp

hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở nhóm nước phát triển, dịch

vụ được đánh giá là khu vực trọng điểm cho sự phát triển kinh tế, thơng

thường dịch vụ đóng góp từ 70-80% GDP. Trường hợp của Trung Quốc cho

thấy là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, đến nay nền kinh tế nước này

không đơn thuần chỉ dựa vào sản xuất mà còn hướng đến dịch vụ có giá trị gia

tăng cao.

Trong q trình hiện đại hố nền kinh tế, các dịch vụ tài chính nói chung,

đặc biệt là thị trường chứng khốn, chăm sóc y tế, kinh doanh nhỏ, giáo dục,

Page 15



Kinh tế phát triển

vui chơi giải trí, văn hố, khoa học và nghiên cứu đóng góp trên 50% GDP

Trung Quốc trong năm 2015.

Tại Việt Nam, các ngành dịch vụ thậm dụng tri thức, khoa học và công

nghệ phát triển còn chậm. Các ngành dịch vụ mang tính chất “động lực” hay

“huyết mạch”, có hàm lượng tri thức cao như: Tài chính - tín dụng, khoa học

và cơng nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế… còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong

GDP của toàn nền kinh tế và cũng thấp hơn so với nhiều quốc gia trong khu

vực, phản ánh chất lượng tăng trưởng không cao.

Bên cạnh đó, hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gian lớn,

chưa kết nối thơng suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hồ lợi ích giữa các

khâu từ sản xuất đến tiêu thụ; Chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chun

nghiệp chưa cao; Các dịch vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết

với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng

dụng những kết quả đã nghiên cứu được.

Thực tế cho thấy, thị trường khoa học công nghệ của Việt Nam còn sơ

khai; Cơ sở vật chất và đầu tư cho khoa học cơng nghệ còn chưa tương xứng;

Đóng góp của khoa học cơng nghệ vào q trình cơng nghiệp hố, hiện đại

hố chưa cao; Ứng dụng cơng nghệ thơng tin, xây dựng chính phủ điện tử còn

chậm; Bảo đảm an tồn, an ninh thơng tin mạng còn nhiều bất cập; Sự gắn kết

giữa cơng nghiệp - nơng nghiệp với dịch vụ còn nhiều bất cập; Các dịch vụ

đối ngoại phát triển vừa thiếu quy hoạch vừa dưới tiền năng và chưa hiệu quả,

chưa phát huy hết các lợi thế và chuẩn bị tốt các điều kiện cho chủ động hội

nhập…

Ngoài ra, tuy số lượng doanh nghiệp trong ngành Dịch vụ tăng nhanh

nhưng quy mơ còn rất nhỏ và giá trị gia tăng bình quân của một doanh nghiệp

dịch vụ đang có xu hướng giảm. Có thể nói, các doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.



2.3 Để ngành dịch vụ phát huy được vai trò của mình trong việc tạo động

lực phát triển kinh tế thì Việt Nam cần quan tâm những vấn đê

2.3.1. Định hướng vấn đề

Để ngành dịch vụ phát huy được vai trò của mình trong việc tạo động

lực phát triển kinh tế tập trung vào cải cách cơ cấu kinh tế, chuyển đổi

phương thức, mơ hình tăng trưởng theo hướng bền vững, trong đó chuyển đổi

từ mơ hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang mơ hình tăng trưởng

Page 16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×