Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Kinh tế phát triển

dùng dịch vụ chấm dứt quá trình tiêu dùng dịch vụ của mình thì đó cũng là

lúc mà người cung ứng dịch vụ chấm dứt quá trình cung ứng dịch vụ).

- Tính khơng đồng nhất. khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá

được chất lượng của dịch vụ. (Thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng

khơng có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói

chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì

dịch vụ mang tính vơ hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây

chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng

– nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay

đổi rất nhiều).

- Tính lưu trữ. Tính khơng thể cất trữ là hệ quả của tính vơ hình và khơng thể

tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ

cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo.

1.3 Phân loại dịch vụ

1.3.1 Theo các lĩnh vực của quá trình tái sản xuất

Ai cũng biết, quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm ba khâu theo trật tự

truyền thống là: sản xuất, lưu thông (thương mại) và tiêu dùng. Còn trật tự

theo quan điểm Marketing thì ngược lại bởi vì mọi hoạt động sản xuất của

nền kinh tế thị trường phải bắt đầu từ nhu cầu của giới tiêu dùng. Do vậy, toàn

bộ dịch vụ được chia theo ba khâu là: dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ thương mại

và dịch vụ sản xuất (hình 9.2). Trong mỗi lĩnh vực này lại bao gồm những

dịch vụ cụ thể.



Page 5



Kinh tế phát triển



Về cơ bản, cách phân loại này đơn giản nhưng khái quát được kịp thời các

loại dịch vụ, thể hiện được tính hệ thống tương đối rõ ràng. Tuy nhiên khơng

có cách phân loại nào hoàn thiện và đầy đủ được, cách phân loại chỉ mang

tính tương đối.

1.3.2 Theo phương thức thực hiện

Mc Graw Hill chia tồn bộ dịch vụ ra hai nhóm lớn: nhóm dịch vụ được

thực hiện bởi máy móc và nhóm dịch vụ được thực hiện bởi con người (do lao

động trực tiếp của con người). Từng nhóm này lại chia ra các tiểu nhóm. Ví

dụ nhóm dịch vụ được thực hiện bởi máy móc gồm: tự động hố, máy móc

kết hợp với con người (MM kết hợp CN), hệ thống điều khiển. Từ đó, các tiểu

nhóm này lại chia ra những dịch vụ cụ thể (Hình 9.3)



Page 6



Kinh tế phát triển



Ưu điểm nổi bật của cách phân loại này là hàm lượng công nghệ hay đặc

điểm công nghệ của từng dịch vụ, từ đó có cơ sở để đánh giá chất lượng dịch

vụ và định giá dịch vụ.

1.3.3 Một số cách phân loại khác

Ngồi ra, còn khá nhiều cách phân loại khác như:



Theo

mục

đích

kinh

doanh,



Dịch

vụ



mục

đích

Dịch vụ vì mục đích phi lợi nhuận (mục đích nhân đạo).



thể

lợi



chia



ra:

nhuận,





Theo

chế

độ

sở

hữu,

người

Dịch

vụ

chính

phủ

(dịch

vụ

Dịch

vụ



Dịch vụ kết hợp chính phủ và tư nhân thực hiện.



ta



chia



ra:

nước),

nhân,



phân



loại:

bản,



– Theo nội dung hoạt động

Những

dịch

Những dịch vụ bổ sung, hỗ trợ…



kinh

vụ



doanh,



nhà



có thể





Page 7



Kinh tế phát triển

Nhìn chung, có nhiều cách phân loại khác nhau, dựa theo từng tiêu thức được

lựa chọn. Tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu hoặc mục tiêu kinh doanh thực

tế trong từng trường hợp cụ thể để có thể lựa chọn cách phân loại thích hợp.

1.4 Vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế

Đầu tiên ta tìm hiểu về cơ cấu của ngành dịch vụ :

Dịch vụ bao gồm một tập hợp các hoạt động kinh tế, rất rộng lớn và phức

tạp. Đó là các hoạt động đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con

người, được chia thành các dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ

cơng cộng.



Vai trò của dịch vụ trong phát triển kinh tế

1.4.1 Dịch vụ trong sản xuất và đời sống

Nhờ có các hoạt động vận tải thương mại mà các ngành kinh tế nông, lâm,

ngư nghiệp và công nghiệp được cung cấp nguyên liệu, vật tư sản xuất; đồng

thời sản phẩm của các ngành này cũng được tiêu thụ. Các hoạt động dịch vụ

cũng tạo ra các mối liên hệ giữa các ngành sản xuất, các vùng trong nước và

giữa nước ta với nước ngoài.

Các ngành dịch vụ thu hút ngày càng nhiều lao động, tạo nhiều việc làm, góp

phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân và đem lại nguồn thu nhập lớn

cho nền kinh tế.

Page 8



Kinh tế phát triển

1.4.2 Vai trò của các ngành dịch vụ - thương mại trong q trình Cơng

nghiệp

hóa

Hiện

đại

hóa

Lĩnh vực thương mại và dịch vụ nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sức

nhạy cảm và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Việc đẩy

mạnh và mở cửa về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để có

thể xác định và tiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp. Nhằm một mặt

góp phần cùng thành phố và cả nước thực hiện thành công tiến trình mở cửa,

mặt khác cùng góp phần đảm bảo giữ vững độc lập dân tộc, định hướng xã

hội

chủ

nghĩa



nước

ta.

Hoạt động của thương mại và dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:

- Thương mại và dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thơng, phân phối

hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia

cũng như quốc tế. Thật vậy, dịch vụ - thương mại chính là cầu nối giữa các

yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản

phẩm. Bn bán quốc tế, đặc biệt là bn bán hàng hóa sẽ lưu hành như thế

nào nếu khơng có dịch vụ vận tải? Dịch vụ thanh tốn? Chính sự ra đời và

phát triển của dịch vụ vận tải như vận tải đường bộ, đường khơng, đường biển

đã góp phần khắc phục được trở ngại về địa lý, đẩy nhanh tốc độ lưu thơng

hàng hóa, thúc đẩy nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa từ Quốc gia này đến

quốc gia khác, từ khu vực này đến khu vực địa lý khác... Các dịch vụ ngân

hàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra một cách có hiệu quả, giúp

cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu đạt được mục đích trong quan hệ buôn

bán. Các dịch vụ viễn thông, thông tin cũng có vai trò hỗ trợ cho các hoạt

động thương mại trong việc kích cầu, rút ngắn thời gian ra quyết định mua

hàng của người tiêu dùng. Các dịch vụ như dịch vụ đại lý, buôn bán, bán lẻ

giữ vai trò trung gian kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng; đồng

thời góp phần đẩy nhanh q trình tiêu thụ hàng hóa, rút ngắn thời gian hàng

hóa lưu thơng, giúp các nhà sản xuất nhanh chóng thu hồi vốn để đầu tư tái

sản xuất. Như vậy, dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động thương

mại

hàng

hóa.

- Thương mại và dịch vụ tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát

triển. Thơng qua hoạt động dịch vụ - thương mại trên thị trường, các chủ thể

kinh doanh mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất

được tiến hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ được

thơng suốt. Có thể nói, nếu khơng có dịch vụ - thương mại thì sản xuất hàng

hóa

khó



thể

phát

triển

được.

- Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, thương mại và dịch vụ đã trở thành

yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuất

phát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong

sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, phải

Page 9



Kinh tế phát triển

đưa nhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành

và nâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật công nghệ.

- Sự tăng trưởng của các ngành thương mại và dịch vụ còn là động lực cho sự

phát triển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân cơng lao động

xã hội. Nền kinh tế càng phát triển thì thương mại và dịch vụ càng phong phú,

đa dạng. Hiện nay, sự phát triển thương mại và dịch vụ phản ánh trình độ phát

triển kinh tế của mỗi quốc gia. Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế

của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu

ngành kinh tế nước đó càng lớn. Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân cơng lao

động xã hội và chun mơn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát

triển.

- Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu dùng,

nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng

lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao

động

trong



hội.

- Trong xu thế hội nhập quốc tế, thị trường trong nước sẽ liên hệ chặt chẽ với

thị trường nước ngoài thong qua hoạt động ngoại thương, điều này nếu dịch

vụ và thương mại phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng chắc chắn sẽ mở

rộng được thị trường thu hút các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường. Chính

vì điều này, dịch vụ - thương mại thực sự là cầu nối gắn kết giữa thị trường

trong nước với thị trường ngoài nước, phù họp với xu thế hội nhập và mở cửa



nước

ta

hiện

nay.

- Dịch vụ và thương mại luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh

doanh trên thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể

kinh doanh là quan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán.

Cho nên trong hoạt động dịch vụ - thương mại đòi hỏi các chủ thể kinh doanh

luôn phải năng động, sáng tạo, kể cả nghệ thuật để khơng ngừng nâng cao khả

năng cạnh tranh hàgn hóa dịch vụ trên thị trường, góp phần thúc đẩy lực

lượng sản xuất phát triển nhanh chóng và điều này sẽ làm nền tảng vững chắc

giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt như

hiện nay.



Page 10



Kinh tế phát triển



PHẦN II: THỰC TRẠNG NGÀNH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam

Trong nhiều năm qua, sự phát triển của ngành Dịch vụ đã đạt được nhiều

kết quả đáng ghi nhận, song vẫn chưa xứng với tiềm năng và yêu cầu của phát

triển kinh tế đất nước. Trước bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với

đổi mới mơ hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, yêu cầu phát

triển dịch vụ có ý nghĩa to lớn, khơng chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển mà

còn tạo lập và củng cố sự liên kết, bảo đảm đầu ra cho các ngành công - nông

nghiệp và tác động lan tỏa tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế.

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 - 2015;

phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 và năm 2016 của Chính phủ tại

Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 20-10-2015, tăng trưởng GDP năm

2015 ước đạt hơn 6,5%, cao nhất trong 5 năm qua, vượt kế hoạch đề ra

(6,2%); bình qn 5 năm đạt khoảng 5,9%/năm, trong đó cơng nghiệp, xây

dựng tăng 6,74%/năm, nông lâm thủy sản tăng 3,01%/năm, dịch vụ tăng

6,31%/năm. Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm

2010 lên 82,5% năm 2015. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt khoảng 44% vào

năm 2015.

Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng ngày càng tăng; đã tập trung

phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học,

cơng nghệ cao như công nghệ thông tin, truyền thông, logistics, hàng khơng,

tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử... Mạng lưới thương mại và

dịch vụ phát triển mạnh trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội.

Ngành du lịch tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch

vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, nhất là

tại các vùng du lịch trọng điểm. Khách quốc tế năm 2015 đạt khoảng 7,9 triệu

Page 11



Kinh tế phát triển

lượt, gấp gần 1,6 lần so với năm 2010. Mở rộng miễn thị thực cho người Việt

Nam định cư ở nước ngoài và cơng dân của nhiều nước để khuyến khích phát

triển thương mại, đầu tư và du lịch.

Mạng lưới và cơ cấu đào tạo hợp lý hơn; quy mô, chất lượng và sự công

bằng trong tiếp cận giáo dục được cải thiện. Ứng dụng khoa học và đổi mới

cơng nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, thông tin

truyền thông, y tế, xây dựng. Thị trường khoa học cơng nghệ có bước phát

triển, giá trị giao dịch tăng 13,5%/năm. Số lượng sáng chế và các giải pháp

hữu ích đăng ký bảo hộ gấp gần 2,2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Chỉ số

đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với năm

2010.

Nhiều cơng trình hạ tầng thiết yếu về giao thông, năng lượng, thủy lợi, đô

thị, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục... được đưa vào sử dụng, thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tạo diện mạo mới cho đất nước.

Cơng tác y tế dự phòng và chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Giảm

quá tải bệnh viện đạt những kết quả tích cực. Tập trung đầu tư xây dựng hệ

thống các bệnh viện. Ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào khám chữa bệnh đạt

nhiều kết quả. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 75%. Chất lượng, phương

thức thơng tin ngày càng được đa dạng hóa, đáp ứng nhu cầu thông tin của

người dân, thông tin đối ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của

Nhà nước.

Các dịch vụ tài chính ngân hàng tiếp tục phát triển, đa dạng hóa và hiện đại

hóa. Hoạt động xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần

yếu kém được đẩy mạnh. Đến tháng 9-2015, nợ xấu còn 2,9% (tháng 9-2012

là 17,43%) và đã giảm 17 tổ chức tín dụng. Các cơng ty tài chính, chứng

khốn, bảo hiểm từng bước được cơ cấu lại; công tác kiểm tra, giám sát được

Page 12



Kinh tế phát triển

tăng cường; thông tin ngày càng công khai, minh bạch; hiệu quả hoạt động

được cải thiện. Thanh khoản và an tồn hệ thống được bảo đảm.

Quy mơ thị trường chứng khoán tăng, mức vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt

khoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm

2015. 59 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Quan hệ thị

trường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế, trong đó có 15 quốc

gia trong Nhóm G-20.

Tuy nhiên, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, có tốc độ tăng thấp hơn

giai đoạn trước. Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học và cơng

nghệ phát triển còn chậm. Các ngành dịch vụ mang tính chất "động lực" hay

"huyết mạch", có hàm lượng tri thức cao, như tài chính-tín dụng, khoa học và

cơng nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP

của toàn nền kinh tế. Hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gian

lớn, chưa kết nối thông suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hồ lợi ích giữa

các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ; chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chuyên

nghiệp chưa cao.

Các dịch vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và

hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết

quả đã nghiên cứu được. Thị trường khoa học cơng nghệ còn sơ khai. Cơ sở

vật chất và đầu tư cho khoa học công nghệ còn chưa tương xứng. Đóng góp

của khoa học cơng nghệ vào q trình CNH, HĐH chưa cao. Vị trí của Việt

Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri

thức (KEI) của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Năm 2012, chỉ

số KEI của Việt Nam là 3,51 và thuộc nhóm trung bình thấp. Chỉ số sáng tạo

của Việt Nam năm 2013 đạt 34,82 và xếp thứ 76 trong 141 quốc gia.



Page 13



Kinh tế phát triển

Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp so với

yêu cầu; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, mất cân đối về bậc học, về ngành nghề,

về vùng lãnh thổ. Dịch vụ y tế còn hạn chế cả về lượng và chất. Việc bảo đảm

vệ sinh an tồn thực phẩm còn nhiều yếu kém. Tệ nạn xã hội một số nơi còn

diễn biến phức tạp. Nhiều biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống gây bức xúc

trong nhân dân. Tai nạn giao thơng vẫn còn nghiêm trọng; ùn tắc giao thông

tại đô thị lớn khắc phục chậm. Chất lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu và

cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém còn nhiều khó khăn.

Du lịch chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử còn chậm. Bảo

đảm an tồn, an ninh thơng tin mạng còn nhiều bất cập. Sự gắn kết giữa cơng

nghiệp-nơng nghiệp với dịch vụ còn nhiều bất cập. Các dịch vụ đối ngoại phát

triển vừa thiếu quy hoạch vừa dưới tiền năng và chưa hiệu quả, chưa phát huy

hết các lợi thế và chuẩn bị tốt các điều kiện cho chủ động hội nhập.

Thống kê cho thấy, đóng góp của ngành Dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế

ngày càng tăng. Cụ thể: Giai đoạn 1991-1995, ngành Dịch vụ có mức tăng

trưởng khá nhanh, đạt 8,6%; Giai đoạn 1996-2000 tốc độ tuy đã chậm lại

song cũng đạt 5,7%; Giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng trưởng bình qn đạt

6,31%/năm, tỷ trọng cơng nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm

2010 lên 82,5% năm 2015; Năm 2016, GDP ước tính tăng 6,21% so với năm

2015, trong đó, khu vực dịch vụ tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với 6,98%

với sự đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán bn và bán lẻ

chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 8,28% so với năm 2015; Hoạt động tài

chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,79%; Hoạt động kinh doanh bất động

sản được cải thiện hơn với mức tăng 4,00%, cao hơn mức tăng 2,96% của

năm trước; Dịch vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 6,70% so

với mức tăng 2,29% của năm 2015...

Năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước

tính đạt 640 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ

yếu tố giá tăng 5,6% (thấp hơn mức tăng 7,6% của cùng kỳ năm 2016);

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 75,8 nghìn

tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu du lịch lữ hành 2

Page 14



Kinh tế phát triển

tháng đầu năm ước tính đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng

5,1% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng ước tính đạt

71,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng mức và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm

2016…

2.2 Ưu điểm và nhược điểm của nghành dịch vụ Việt Nam

2.2.1 Ưu điểm

Thời gian qua, nước ta đã định hướng tập trung phát triển các ngành Dịch

vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao như công

nghệ thông tin, truyền thông, logistics, hàng khơng, tài chính, ngân hàng,

du lịch, thương mại điện tử... Mạng lưới thương mại và dịch vụ nhờ đó đã

phát triển mạnh trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển

kinh tế - xã hội.

Thị trường khoa học cơng nghệ có bước phát triển, giá trị giao dịch tăng

13,5%/năm. Nhiều cơng trình hạ tầng thiết yếu về giao thông, năng lượng,

thủy lợi, đô thị, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục... được đưa vào sử

dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tạo diện mạo

mới cho đất nước.

2.2.2 Nhược điểm

Tuy nhiên, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, tốc độ tăng chưa bền

vững. Ngành Dịch vụ vẫn chưa thể hiện được vai trò chủ đạo dẫn dắt tốc độ

tăng trưởng nền kinh tế.

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, quy mô và chất lượng dịch

vụ của Việt Nam quá thấp; Tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP của nền kinh tế

theo hướng dịch vụ hóa còn rất chậm, so với 5 năm trước, tỷ trọng của các

ngành Dịch vụ trong GDP hầu như không thay đổi và mức độ tác động lan

tỏa thấp. Hiện ngành Dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 40% GDP, tỷ lệ này thấp

hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở nhóm nước phát triển, dịch

vụ được đánh giá là khu vực trọng điểm cho sự phát triển kinh tế, thông

thường dịch vụ đóng góp từ 70-80% GDP. Trường hợp của Trung Quốc cho

thấy là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, đến nay nền kinh tế nước này

không đơn thuần chỉ dựa vào sản xuất mà còn hướng đến dịch vụ có giá trị gia

tăng cao.

Trong q trình hiện đại hoá nền kinh tế, các dịch vụ tài chính nói chung,

đặc biệt là thị trường chứng khốn, chăm sóc y tế, kinh doanh nhỏ, giáo dục,

Page 15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×