Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiệp định có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (còn gọi là Hiệp định P4 có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 quốc gia: Singapore, Chile, New Zealand và Brunei). Ngày 05/10/2015, Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình

Hiệp định có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (còn gọi là Hiệp định P4 có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 quốc gia: Singapore, Chile, New Zealand và Brunei). Ngày 05/10/2015, Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình

Tải bản đầy đủ - 0trang

cả Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO và các hiệp định thương mại tự do thế hệ

trước). Đàm phán về lao động trong TPP tập trung vào các cam kết liên quan tới

các quyền lao động cơ bản (hầu hết đã có trong các Cơng ước của Tổ chức Lao

động quốc tế - ILO) nhưng lại đặt ra những thách thức lớn cho hầu hết các nước

tham gia đàm phán TPP (nhiều nước trong số này chưa phải thành viên các Công

ước liên quan của ILO).



III, Thực trạng, cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực Việt Nam sau khi

tham gia TPP.

1, Thực trạng của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/4/2016

ước tính là 54,4 triệu người, tăng 761,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm

2015, bao gồm: Lao động nam 28,2 triệu người, chiếm 51,8%; lao động nữ 26,2

triệu người, chiếm 48,2%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở

lên khu vực thành thị là 17,3 triệu người, chiếm 31,7%; khu vực nông thôn là 37,1

triệu người, chiếm 68,3%. Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao

động ước tính 47,8 triệu người, tăng 128,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm

trước, trong đó lao động nam 25,9 triệu người, chiếm 54,2%; lao động nữ 21,9

triệu người, chiếm 45,8%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực

thành thị là 15,7 triệu người, chiếm 32,8 %; khu vực nông thôn là 32,1 triệu người,

chiếm 67,2%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong q I năm nay ước tính là 53,3 triệu

người, bao gồm 22,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và

thủy sản, chiếm 42,3% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,0 triệu người,

chiếm 24,4%; khu vực dịch vụ 17,8 triệu người, chiếm 33,3%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi q I/2016 ước tính là 2,23%,

trong đó khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,87%. Tỷ lệ thất

nghiệp của lao động trong độ tuổi có trình độ đại học trở lên của cả nước là

3,96%[21](cao hơn 1,73 điểm phần trăm so với tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong

độ tuổi), trong đó khu vực thành thị là 3,39%; khu vực nông thôn là 5,29%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 - 24 tuổi) q I ước tính là 6,47%,

trong đó khu vực thành thị là 9,51%; khu vực nông thôn là 5,35%. Tỷ lệ thất



nghiệp của người từ 25 tuổi trở lên quý I là 1,27%, trong đó khu vực thành thị là

1,79%; khu vực nông thôn là 1,02%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là

1,77%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,77%; tỷ lệ thiếu việc

làm khu vực nông thôn là 2,25% (Tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2015 tương ứng là

2,43%; 1,15%; 3,05%).

2, Cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực Việt Nam sau khi tham gia TPP

a) Cơ hội của nguồn nhân lực sau khi Việt Nam tham gia TPP

- Đòn bẩy kinh tế mà TPP đem lại cho Việt Nam là một cánh cửa lớn đối với

lao động trong nước.Theo cam kết của hiệp định, các dự án và nhà đầu tư nước

ngoài vào Việt Nam sẽ tăng lên. Điều này tạo ra rất nhiều cơ hội cho lao động

trong nước được tiếp xúc với môi trường làm việc chuyên nghiệp, nhiều kinh

nghiệm từ các quốc gia có bề dày phát triển.

- Người lao động sẽ có cơ hội cải thiện các quyền lợi hợp pháp của mình cả

về thu nhập tối thiểu, môi trường làm việc và môi trường sống, cũng như về hiệp

hội và cơng đồn, kể cả tìm kiếm cơ hội việc làm mới trong nước hoặc ở các nước

thành viên TPP.

- Đồng thời, cạnh tranh trong TPP tạo áp lực buộc người lao động phải chủ

động nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tay nghề, tinh thần liên kết và cạnh

tranh việc làm gắn với các nhóm lao động đặc thù (trong đó có lao động trong khu

vực phi chính thức) và lợi ích xã hội khác nhau trong môi trường quốc tế ngày

càng cao.

- Ngoài ra khi tham gia vào TPP cũng mang lại cho nguồn nhân lực Việt

Nam cơ hội việc làm nhiều hơn như việc các tập đoàn lớn đang suy xét về việc đầu

tư vào Việt Nam, tăng áp lực cho ngành giáo dục đào tạo và tự nâng cao trình độ để

tìm kiếm cơ hội việc làm cho nguồn lao động Việt Nam đặc biệt là lao động trẻ.



-Việc cho người lao động tham gia việc thực thi chương Lao động tăng sự

bình đẳng của người lao động. Ngồi ra giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn về

người lao động từ đó có những chính sách làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân

lực và có những quyết định sử dụng nguồn nhân lực đúng người đúng chỗ.

- Khả năng cạnh tranh cao đã tạo ra cơ hội cho một số sinh viên trở thành

những “cơng dân tồn cầu”, sống và làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau, tìm

được chỗ đứng của mình trên thị trường lao động quốc tế vốn dĩ rất khắt khe trong

các tiêu chí tuyển dụng và làm việc. Tại thị trường lao động trong nước, khá nhiều

sinh viên được tuyển dụng vào những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có mơi

trường và khơng gian làm việc tốt, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở mặc dù

mức lương có thể chưa được cao như mong muốn.

b/Thách thức của nguồn nhân lực sau khi Việt Nam tham gia TPP

Chúng ta cần nhìn nhận vấn đề ở nhiều khía cạnh, TPP đem lại cơ hội nhưng

kèm theo khá nhiều thách thức như liệu lao động trong nước đã chuẩn bị tốt cho

quá trình hội nhập. TPP được biết đến là một trong những thị trường tự do thương

mại lớn nhất thế giới, do đó sẽ có những đòi hỏi rất cao về nguồn lực lao

động.Đây là lúc chúng ta phải nhìn nhận đúng ưu điểm và yếu điểm của nguồn

nhân lực trong nước để phát huy ưu điểm và khắc phục yếu điểm cho quá trình hội

nhập này.

- Áp lực cạnh tranh cao có thể làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp do tình trạng

giảm bớt nhân công, nhất là lao động phổ thông để tiết kiệm chi phí, nâng cao năng

suất lao động nhờ đổi mới kỹ thuật và quản trị, cũng như do doanh nghiệp kém sức

cạnh tranh, buộc phá sản.

- Sau khi tham gia vào TPP các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó

khăn hơn đó là việc mất sức cạnh tranh trước các đại gia sản xuất và kinh doanh

theo phương thức sản xuất công nghiệp công nghệ cao từ Mỹ, Nhật, Australia…



khi TPP có hiệu lực thì vấn đề này khơng chỉ xuất hiện trong những ngành lợi Việt

Nam có lợi thế như dệt may, chăn nuôi gia súc, gia cầm và một số cây lương thực.

Câu chuyện đùi gà Mỹ 15000 đồng/kg rẻ hơn rau vừa qua một thông điệp có tính

cảnh báo cao về điều này. Vì vậy, cần có những kịch bản tăng cường hỗ trợ cơng

nghệ, đào tạo lao động, chuyển đổi cơ cấu sản xuất-kinh doanh và cả phát triển

nghề mới cho những lao động trong các khu vực này.

-Những tranh chấp giữa người lao động với các chủ sử dụng lao động khu

vực tư nhân với nước ngồi cũng có thể tăng gắn với hệ quả phá sản, tái cơ cấu

kinh tế hoặc vi phạm điều kiện hợp đồng lao động và điều kiện lao động. Tuân thủ

để tránh bị điều tra, bị kiện và bị phạt, cũng như áp lực cạnh tranh nhằm nâng cao

các yêu cầu tối thiểu về an toàn lao động, tiền lương, giờ làm việc, vệ sinh lao

động, cấm lao động cưỡng bức, cấm lao động trẻ em, cùng cơ chế giám sát và chế

tài đặt ra trong các FTA, nhất là TPP… sẽ tạo ra khơng ít thách thức về chi phí và

phát triển văn hóa doanh nghiệp, nhất là khi tham gia vào các chuỗi cung ứng xuất

khẩu khu vực và quốc tế.

- Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong

thời kỳ “dân số vàng”. Tuy nhiên, nguồn nhân lực Việt Nam khá dồi dào, nhưng

chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn

nhân lực từ nơng dân, cơng nhân, trí thức… chưa tốt. Chất lượng và cơ cấu lao

động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập, có khoảng cách

khá lớn so với các nước trong khu vực. Theo kết quả khảo sát của một số quốc gia

châu Á, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trong thang điểm

10 và xếp thứ 11/12 quốc gia được khảo sát. Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt

Nam cũng chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong q trình hội nhập. Những hạn

chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng

đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.



-Hệ thống thông tin của thị trường lao động còn yếu kém. Hệ thống thơng

tin bị chia cắt bởi vùng miền, khả năng bao quát, thu thập và cung ứng thông tin

chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Hệ thống chỉ tiêu về lao động và

sử dụng nguồn nhân lực chưa được hoàn thiện và thống nhất, khó sánh với quốc tế.

-Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp.Theo đánh giá của tổ chức Lao

động thế giới (ILO), năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn 15 lần so với

Singapore, bằng 1/5 năng suất lao động của Thái Lan và Malaysia.Đó là chưa đề

cập đến so sánh với năng suất lao động của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn

Độ,…Đây là yếu tố làm giảm khả năng hấp dẫn lao động Việt Nam trước các nhà

tuyển dụng nước ngồi, thậm chí là khía cạnh để các nhà tuyển dụng tăng tính khắt

khe trong yêu cầu đối với lao động Việt Nam.



IV) Giải pháp cho nguồn nhân lực Việt Nam sau khi tham gia vào TPP

- Nâng cao chất lượng lao động trong nước. Chun mơn hóa các ngành

nghề, đặc biệt cần có định hướng sớm cho nguồn nhân lực nhất là nhân lực trẻ.

Đẩy mạnh phát triển các trường dạy nghề có kiến thức chun sâu, trình độ chun

mơn cao phù hợp với xu thế của thế giới. Ngoài ra chúng ta có thể tăng trình độ

chất lượng của nguồn nhân lực bằng cách đẩy mạnh quan hệ với các nước trong

TPP trao đổi kinh nghiệm hay cử kỹ sư đi học để học hỏi phổ biến nhằm mục đích

tăng hiệu quả của lao động trong sản xuất. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách

khuyến khích, tạo điều kiện để khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ đào tạo, dạy nghề

cho người lao động.

- Mở rộng và hoàn thiện hệ thống thông tin trong sản xuất, cung ứng đầy đủ

kịp thời và đầy đủ những thông tin về việc làm và xu thế phát triển của thế giới.

đặc biệt đưa ra những chứng chỉ quốc tế để nguồn nhân lực Việt Nam tiếp nhận và

học hỏi.

- Đối với tổ chức cơng đồn để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực cần tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người lao động nhận thức được

tầm quan trọng của việc học tập nâng cao trình độ kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề;

phối hợp với các đoàn thể quần chúng tuyên truyền tơn vinh người lao động, xóa

bỏ bệnh sính bằng cấp, hình thành thang giá trị nghề nghiệp trong xã hội. Các cấp

cơng đồn phối hợp chặt chẽ với chun môn đồng cấp xây dựng chiến lược phát

triển, nâng cao kỹ năng nghề cho lao động cấp mình.

- Cần tăng cường hệ thống các công cụ điều tiết thị trường lao động bằng

cách hồn thiện cơng cụ pháp luật bảo vệ người lao động như: Về việc làm, dịch

chuyển lao động, đóng và hưởng BHXH, tăng cường cơng tác giáo dục pháp

luật…; Áp dụng mạnh mẽ các công cụ kinh tế thay cho biện pháp hành chính trong

điều chỉnh quan hệ lao động.



-Gắn kết giữa dạy nghề với thị trường lao động và sự tham gia của doanh

nghiệp, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động. Doanh nghiệp trực tiếp

tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề như xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề,

xác định danh mục nghề, xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập

của người học nghề… Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho các cơ

sở dạy nghề về nhu cầu việc làm và các chế độ cho người lao động; phản hồi cho

cơ sở dạy nghề về trình độ của người lao động. Các cơ sở dạy nghề tổ chức theo

dõi, thu thập tin về học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp; có trách nhiệm tiếp nhận

các thơng tin từ phía doanh nghiệp và thay đổi để thích ứng với nhu cầu của doanh

nghiệp.



Kết Luận

Phát triển nguồn nhân lực được coi là quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối

với sự thành bại trong phát triển của mỗi quốc gia.Những cơ hội và thách thức của

TPP đối với nguồn nhân lực Việt Nam đòi hỏi nguồn nhân lực Việt Nam phải tự

mình nỗ lực tìm tòi để phát triển. Ngồi ra nhà nước và các doanh nghiệp cần có

những chính sách hợp lý để tạo điều kiện tốt nhất cho nguồn nhân lực Việt Nam.

Với những đức tính của nguồn nhân lực Việt Nam như cần cù chăm chỉ thơng minh

thì hy vọng rằng trong tương lai không xa không những nguồn nhân lực của nước

ta được nâng cao mà kinh tế Việt Nam phát triển lớn mạnh.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------(Bài viết sử dụng số liệu của Tổng cục thống kê và các nguồn tham khảo trên

internet)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiệp định có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (còn gọi là Hiệp định P4 có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 quốc gia: Singapore, Chile, New Zealand và Brunei). Ngày 05/10/2015, Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×