Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Chỉ số tuổi thọ trung bình giai đoạn 2000-2014

a. Chỉ số tuổi thọ trung bình giai đoạn 2000-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Brunei

Malayxia

Thái Lan

Trung Quốc

PHilippin

Việt Nam

Inđônexia

Ấn độ

Mianma



76.7

73.2

71.5

72.5

71

73.2

69.7

63.7

60.8



Chỉ số tuổi thọ được tính bằng cơng thức: T =



0.862

0.812

0.776

0.792

0.767

0.812

0.745

0.645

0.569



(25 là tuổi thọ min, còn



85 là tuổi thọ max trên thế giới)



Ngồi các yếu tố có tính tự nhiên, tuổi thọ cao của người Việt Nam còn là

kết quả của việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khoẻ con người, được thể hiện

trên nhiều mặt. Cụ thể:

Tỷ suất sinh đã giảm nhanh từ 19,9‰, năm 1999 xuống còn 17,0‰, năm

2013. Tỷ số giới tính khi sinh là 112,2 bé trai/100 bé gái. Theo kết quả Điều tra

dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,09 con/phụ

nữ và duy trì xu hướng ở dưới mức sinh thay thế. Trong đó khu vực thành thị là

1,85 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,21 con/phụ nữ.

Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 36,7‰ năm 1999 xuống còn

15,3‰ năm 2013. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử

vong/1000 trẻ sinh ra sống) là 22,4‰, trong đó khu vực thành thị là 13,1‰; khu

vực nông thôn là 26,9 %.

Tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn có bác sỹ, có nhân viên hộ sinh hoặc y

sỹ sản nhi, đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng

đầy đủ các loại vaccine đã tăng lên. Số cơ sở khám chữa bệnh cơng lập đến năm

2013 có 13.120; số giường bệnh (không kể trạm y tế) năm 2013 đạt 283.000;

12



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



bình quân 1 vạn dân đạt 25,5 giường; số bác sỹ đạt 75.000 người; bình quân 1

vạn dân đạt 8,4 bác sỹ… Mạng lưới y tế cơ sở ở Việt Nam không ngừng được

củng cố qua các thời kỳ và đảm bảo được khoảng 70% nhu cầu chăm sóc sức

khỏe của người dân tại tuyến cơ sở. Tính đến năm nay, trên cả nước có 622

bệnh viện tuyến huyện với tổng số 68.959 giường bệnh; 651 phòng khám đa

khoa khu vực với 6.752 giường bệnh; 11.105 trạm y tế xã. Tỷ lệ trạm y tế xã có

bác sỹ làm việc tại trạm chiếm 73,5%; 96,4% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y

sỹ sản nhi; 73,4% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010.

Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chiếm 71,6%; khoảng 78,8% trạm y tế xã đã

thực hiện khám chữa bệnh BHYT. Việc triển khai khám chữa bệnh BHYT tại

TYT xã làm tăng tính tiếp cận dịch vụ y tế của người dân ngay tại tuyến cơ sở.

Tỷ lệ thẻ BHYT đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh viện

huyện chiếm 45% tổng số thẻ đăng ký KCB ban đầu.

Việt Nam hiện nay đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về phòng chống

HIV. Điều trị antiretroviral tăng 22 lần kể từ năm 2005 và tỷ lệ nhiễm mới ở gái

mại dâm và người sử dụng ma túy khá ổn định. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIV của

người sử dụng ma túy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tình

dục đồng giới đang gia tăng , tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm song

ngân sách của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoảng thiếu hụt

này.

2.2.2 Hạn chế

Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm xuống còn 22 trẻ chết/1000 ca

đẻ sống vào năm 2011 so với con số 50 vào năm 1990 song vẫn còn nhiều bất

bình đẳng.Tỷ lệ trẻ em sơ sinh chết chiểm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng số trẻ

em chết dưới 5 tuổi và trẻ em người dân tộc thiểu số có nguy cơ chết trong năm

đầu tiên cao hơn 3-4 lần.Do đó cần thực hiện các gói dịch vụ tổng hợp về sức

khỏe bà mẹ và trẻ em và dinh dưỡng ở các khu vực còn yếu kém.Đồng thời

13



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



tăng cường số liệu để có thể xác đinh mục tiêu tốt hơn và quản lý tốt hơn nguồn

lực hạn chế dành cho y tế.Mục tiêu về tỷ lệ tử vong đã đạt được khi tỷ lệ tử

vong/100.000 ca đẻ sống giảm từ năm 2000 xuống còn 59 ca vào năm 2010. Tỷ

lệ bà mẹ chết khi sinh ở 62 huyện nghèo nhất cao hơn 5 lần so với tỷ lệ trung

bình trên toàn quốc và tỷ lệ chết của phụ nữ do sinh nở tại nhà cũng cao hơn 5

lần.Phụ nữ ở độ tuổi 15-49 sử dụng các biện pháp tránh thai chỉ tăng 15% kể từ

năm, nhu cầu kế hoạch hóa gia đình cho khoảng 10% các cặp vợ chồng và 30%

phụ nữ độc thân có hoạt động tình dục tích cực vẫn chưa được đáp ứng.

Tỷ lệ nhiễm HIV đã có những chuyển biến tích cực song Việt Nam có

khả năng không đạt được mục tiêu này.Tỷ lệ nhiễm HIV của người sử dụng ma

túy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tình dục đồng giới đang

gia tăng. Tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm song ngân sách của

Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoange thiếu hụt này.

Về vấn đề sử dụng nước sạch, năm 2011,96% dân số có nước sạch để

uống,tăng từ 77% năm 2000.Tuy nhiên,trong giai đoạn này,tỷ lệ dân nông thôn

được dùng nước sạch chỉ tăng từ 71% lên 94%.Năm 2011,75% tổng số hộ gia

đình và 67% hộ gia đình nơng thơn có nhà vệ sinh hợp vệ sinh,tăng từ con số

55% và 48% tương ứng trong năm 2000.Thói quen phóng uế bừa bãi vẫn còn

phổ biến trong cộng đồng dân cư nghèo và người dân tộc.Ba khu vực có tỷ lệ sử

dụng nhà vệ sinh thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Ngun và khu

vực miền núi phía Bắc.Do đó,cần đầu tư nhiều hơn,đồng thời chính quyền địa

phương và cộng đồng cần quan tâm hơn nhằm thực hiện mục tiêu này,kết hợp

với khu vực tư nhân đưa ra các giải pháp vệ sinh chi phí thấp cho hộ gia đình

nơng thơn.



14



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



2.3. Về giáo dục

2.3.1 Thành tựu

Việt Nam có tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 97% và 88% hoàn thành giáo dục

tiểu học trong năm 2008-2009 và năm 2012 là 97,7%.Trong giai đoạn 20072012,tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đã tăng đáng kể,đạt mức 96,6 % ở cấp giáo dục

tiểu học và trung học phổ thông,99,2% ở cấp trung học cơ sở.

Tỷ lệ biết chữ của người lớn năm 2009 là 94%.Và theo báo cáo phát triển

con người năm 2014 của LHQ thì tỷ lệ biết chữ của người lớn là 93,14%(đối

với độ tuổi từ 15 tuổi trở lên và 97,1% đối với độ tuổi từ 15 tuổi đến 24 tuổi).

Trong những năm qua,tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theo

địa phương đạt tỷ lệ khá cao.Trong đó,khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải

miền Trung đạt tỷ lệ cao nhất,sau đó là Đồng bằng sông Hồng.Khu vực Trung

du và miền núi Bắc Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì có tỷ lệ học

sinh tốt nghiệp thấp hơn nhưng đang có xu hướng tăng nhanh(đặc biệt là đồng

bằng sơng Cửu Long).

Bảng 2.3: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theo địa

phương (đơn vị: %)



CẢ NƯỚC

Đồng



bằng



2009-2010



2010-2011



2011-2012



2012-2013



92,57



95,72



98,97



97,98



97,73



98,79



99,45



98,44



93,25



96,60



99,10



95,93



95,08



96,76



99,04



97,98



sông



Hồng

Trung du và miền

núi phía Bắc

Bắc Trung Bộ và

Duyên

Trung



hải



miền



15



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Đồng



bằng



Cửu Long



sông

81,55



91,28



98,47



98,95



Nguồn:Tổng cục thống kê

Số năm đi học trung bình của Việt Nam đã tăng từ 4 năm (năm 1990) lên

5,5 năm (năm 2011).Và theo báo cáo phát triển con người năm 2014 thì số năm

đi học trung bình của Việt Nam năm 2012 vẫn là 5,5 năm,khơng có sự thay đổi

so với năm 2011.Và so với các quốc gia khác trong khu vực thì số năm đi học

trung bình của Việt Nam năm 2012 thấp hơn Philipin là 8,9 năm; Indonesia là

7,5 năm, Campuchia là 5,8 năm, Singapore là 10,2 năm và chỉ cao hơn Lào là

4,9 năm.

Số năm đi học kỳ vọng tăng từ 7,8 năm vào năm 1990 lên 10,4 năm vào

năm 2011 (vẫn thấp hơn mức 11,7 năm bình quân ở khu vực Đơng Á Thái Bình

Dương).Và theo báo cáo phát triển năm 2014 thì số năm đi học kỳ vọng năm

2012 của Việt Nam là 11,9 năm.So với các quốc gia khác trong khu vực

ASEAN thì số năm đi họ kì vọng của Việt Nam cũng khơng có sự chênh lệch

nhiều,chằng hạn như số năm đi học kì vọng của Philipin là 11,3 năm hay Thái

Lan là 13,1 năm, Singapore là 15,4 năm.

Hiên nay, Việt Nam đầu tư chi tiêu cho giáo dục khá lớn,khoản chi này

còn cao hơn cho y tế với tỷ lệ chi tiêu công trong ngân sách nhà nước đã tăng từ

15,5% năm 2001 lên 20% năm 2008.Chi tiêu công cho giáo dục chiếm 5,6%

GDP năm 2008,gấp đôi chi tiêu công cho y tế.So với các nước trong khu

vực.Việt Nam chi tiêu cho giáo dục cao hơn đáng kể.Theo số liệu của

USNESCO,Việt Nam đã dành một tỷ lệ ngân sách cho giáo dục cao hơn so với

phần lớn các nước trong khu vực trừ Thái Lan.Chi tiêu công cho giáo dục trong

tổng GDPcủa Philipin năm 2007 là 2,7 %, của Malaysia năm 2007 là 4,5%,

Trung Quốc là 3,4% trong khi Việt Nam là 5,3%.



16



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Chi tiêu từ hộ gia đình cho giáo dục đã tăng mạnh đối với tất cả các

vùng,các nhóm kinh tế- xã hội và ước tính chiếm tới 50% chi tiêu cho giáo dục

ở Việt Nam,tùy vào cấp học.Chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình đành

cho giáo dục tăng trong giai đoạn 2004-2008 ở tất cả các bậc học trừ trung học

cơ sở.Các hộ gia đình ở thành thị,nhóm dân tộc chiếm đa số Kinh/Hoa,nhóm

giàu nhất,đồng bằng sông Hồng,Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ đã

dành tỷ trọng cao nhất trong chi tiêu cho giáo dục tiểu học và trung học cơ

sở.Hiện nay,các khoản chi tiêu cho giáo dục đang là gánh nặng lớn đôi với các

hộ nghèo và khó khăn,đặc biệt là ở các bậc học cao hơn.

Tuy nhiên,hiệu quả giáo dục của Việt Nam hiện nay kém hơn so với tất cả

các nước này với số năm đi học trung bình,số năm đi học kỳ vọng thấp hơn.Đặc

biệt phần lớn chi tiêu công trong giáo dục dành cho cấp tiểu học và trung

học,mặc dù chi tiêu cho giáo dục mầm non,dạy nghề và đại học cao đẳng đã

tăng từ năm 2001.Bên cạnh đó,cũng giống như chi tiêu y tế,có sự khác biệt đáng

kể giữa các vùng và các tỉnh thành,với sự chênh lệch chi tiêu giữa các tỉnh giàu

hơn và nghèo hơn 4 lần (theo báo cáo phát triên con người Việt Nam năm

2011).Chi tiêu cho giáo dục chủ yếu được phân cho địa phương với 89% tổng

chi tiêu giáo dục là ở cấp tỉnh.Chỉ có giáo dục đại học là có chi tiêu đáng kể từ

cấp quốc gia.Hỗ trợ bên ngòai chủ yếu cho giáo dục cơ bản.

Đạt được những thành tựu đáng kể đó là nhờ những năm qua các cấp

chính quyền địa phương cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tê đã thực hiện

hóa tiếp cận bình đẳng giáo dục có chất lượng ở mọi cấp,đặc biệt với những

người dễ bị tổn thương,yếu thế,nhất là trẻ em gái.Năm 2013,một số hợp tác của

LHQ với Bộ Giáo dục- Đào tạo đã có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực

này.Bên cạnh đó,năm 2013 lần đầu tiên Bộ GD-ĐT tiến hành đánh giá chung

giáo dục tập trung về giáo dục tiểu học,với sự hỗ trợ của nhóm ngành giáo dục

và LHQ,qua đó góp phần cải thiên chất lượng và hiệu quả hoạt động ngành.



17



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Cùng với đó,đã có thêm nhiều cơ sở giáo dục có khả năng cải thiện kết

quả học tập. Các cơ sở giáo dục có năng lực tốt được tăng cường nhằm thực

hiện các kết quả giáo dục tốt hơn nhằm đổi mới phương pháp dạy và học có

tương tác ở các lớp và xây dựng kỹ năng sống cho học sinh. Điều này đặc biệt

cần thiết để giải quyết những thách thức về chất lượng giáo dục. Năm 2013,

LHQ hỗ trợ xây dựng năng lực của 945 giáo viên từ 63 tỉnh thành về lồng ghép

các phương pháp đưa giáo dục dành cho tất cả mọi người vào chương trình dạy

ở trường và khoảng 1400 nhà quản lý giáo dục về lập kế hoạch và theo dõi các

kết quả trên dựa vào các công cụ đánh giá năng lực.Rào cản về ngôn ngữ đối

với trẻ em dân tộc, kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em nhiễm HIV/AIDS đã

được giải quyết ở 8 tỉnh bằng truyền thông thay đổi hành vi. Chương trình giáo

dục song ngữ bằng cả tiếng mẹ đẻ được LHQ hỗ trợ đã mang lại những tác động

tích cực ở 3 tỉnh thí điểm và các lớp dạy song ngữ thường có kết quả tốt hơn

hẳn so với các lớp không dạy song ngữ thể hiện qua tỷ lệ hoàn thành cấp 1 của

trẻ em người dân tộc thiểu số

Hệ thống quản lý dựa vào chứng từ nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy

và học tập cũng ngày một hoàn thiện.Năm 2013,32 cán bộ quản lý giáo dục từ 8

tỉnh đã được tập huấn về lập kế hoạch giáo dục dựa trên quyền và đã tiếp cận

với 430 cán bộ giáo dục trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó,đã có nhiều chương trình hỗ trợ nhằm giúp người dân tiếp

cận với dịch vụ giáo dục đã được thực hiện như hỗ trợ tiền mặt có điều kiện.

Chương trình hỗ trợ này đã thực hiên ở nhiều quốc gia, trong đó có cả các nước

có trình độ phát triển cao và mức thu nhập trên trung bình như Brazil, Mexico.

Mặc dù có một số khác biệt, nhưng các chương trình đều hỗ trợ tiền mặt trực

tiếp cho hộ gia đình, yêu cầu tuân thủ các điều kiện như nhập học, tham gia

chăm sóc y tế dự phòng cho trẻ nhỏvà hướng vào người nghèo. Các chương

trình này nhằm giảm nghèo tiêu dùng, đồng thời thúc đẩy cải thiện kết quả phát

triển con người. Nhiều chương trình dành cho phụ nữ nhằm nâng cao vai trò và

18



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



vị trí của họ trong gia đình. Các khoản hỗ trợ tiền mặt có điều kiện đã làm tăng

đáng kể việc sử dụng dịch vụ, mặc dù tác động của chúng đối với các kết quả

lâu dài về y tế và giáo dục thì phức tạp hơn.Tại Việt Nam, chương trình đã

thành cơng trong việc giảm 19% khoảng cách đói nghèo và giảm 9% tỷ lệ bỏ

học ở các trường tiểu học và trung học. Số năm đi học cũng đã tăng trong các

đối tượng hưởng lợi, việc sử dụng các dịch vụ y tế công ở khu vực nơng thơn

tăng 35%. Chương trình cũng đã cải thiện sức khỏe của các đối tượng hưởng

lợi, ví dụ thơng qua giảm tỷ lệ thấp còi, góp phần giảm tỷ lệ thấp còi chung

trong tồn quốc ở nhóm 20% nghèo nhất.

2.3.2. Hạn chế

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, nhưng kết

quả vẫn còn thấp so với thế giới, đã kéo chỉ số HDI của Việt Nam xuống. Chính

vì vậy, giáo dục- đào tạo, nhất là vấn đề chất lượng, còn đang là một thách thức

lớn.

Để khắc phục vấn đề này, Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã coi giáo dụcđào tạo là 1 trong 3 khâu đột phá chiến lược với các chỉ tiêu chủ yếu như nâng

tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến năm 2015 đạt 55%, đến năm 2020 đạt 70%

(đến năm 2013 mới đạt dưới 50%, nếu tính theo tiêu chí có bằng cấp như Tổng

cục Thống kê thì mới đạt 17%); tăng số sinh viên bình quân 1 vạn dân đến năm

2020 lên 450 người (đến năm 2013 mới đạt 243,6 người).

Bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục là mối quan

ngại đối với những người nghèo cũng như nhóm dân tộc thiểu số và những

nhóm người dễ tổn thương khác vì những nhóm người này phải dành phần lớn

thu nhập của mình cho các khoản chi chính thức và khơng chính thức liên quan

tới giáo dục.Tỷ lệ nhập học chung ở cấp tiểu học đã giảm từ105% năm 2006

xuống 104,2% năm 2008. Giảm nhẹ về tỷ lệ nhập học chung ở cấp tiểu học là

một tín hiệu tích cực vì nó cho thấy tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đúng tuổi tăng

19



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



lên. Tuy nhiên tỷ lệ nhập học chung ở cấp tiểu học vẫn rất cao ở vùng Tây Bắc

và ở các dân tộc thiểu số như Thái, Khơ me, H’mơng và Dao, có nghĩa là nhiều

trẻ em ở vùng này không đi học đúng tuổi. Tỷ lệ nhập học chung năm 2008 là

96% ở cấp trung học cơ sở và 73,8% ở cấp trung học phổ thông.

Tỷ lệ trẻ học mẫu giáo và nhà trẻ vẫn tương đối thấp so với các cấp khác,

với tỷ lệ 23% số trẻ 3 tuổi, 37% số trẻ 4 tuổi và 40% số trẻ 5 tuổi đi học mẫu

giáo.Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, chênh lệch dai dẳng vẫn tiếp

tục tồn tại ở mọi cấp học, giữa các nhóm kinh tế-xã hội khác nhau. Ví dụ trong

năm 2006, khi ước tích khoảng 57% trẻ em có đi học nhà trẻ và mẫu giáo ở Việt

Nam – một hình thức đào tạo đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ,

thì tỷ lệ này ở trẻ em người Kinh và Hoa là 61%, còn ở trẻ em dân tộc thiểu số

là 40%, ở trẻ em thành thị là 75%, còn trẻ em nơng thơn là 51%. So sánh giữa

các Tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục 80 vùng của Việt Nam: tỷ lệ này là 40% ở

Đồng bằng sông Cửu Long và 80% ở Đồng bằng sông Hồng.Chênh lệch tương

tự cũng xảy ra ở cấp tiểu học – cấp học được trợ cấp nhiều nhất ở Việt Nam. Tỷ

lệ nhập học đúng tuổi ở cấp này là 88,9% đối với ngũ phân vị nghèo nhất,

98,3% đối với ngũ phân vgiàu nhất, 97% với nhóm người Kinh/Hoa, 72,6% với

người H’mông và dao động từ 92% với vùng Trung du và Miền núi phía Bắc tới

98% với vùng Đồng bằng sông Hồng.

Ở cấp đại học và cao đẳng, giáo dục tiếp tục dành cho những người khá

giả hơn. Năm 2009, tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở cấp này chỉ là 0,6% ở ngũ phân

vị nghèo nhất so với 37,9% ở ngũ phân vị giàu nhất, dưới 1% đối với người

H’mông và 2% với người Khơ Me, so với 18,8% của người Kinh/Hoa, 5,7% ở

vùng Trung du và miền núi phía Bắc so với 27,1% ở vùng Đồng bằng sông

Hồng. Mức chênh lệch này là rất quan trọng do mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo

dục bậc cao với các kỹ năng cần thiết và cơ hội việc làm ỷ lệ người lớn biết chữ

trên toàn quốc là 93,1%, và tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 10-40 ở nam và

nữ là như nhau, 96%. Theo VHLSS 2008, mặc dù 21% người Việt Nam chưa

20



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



bao giờ đi học hoặc chưa bao giờ có bằng cấp cơ bản nhất, nhưng có 23% đã

hoàn thành giáo dục tiểu học và 42% hoàn thành một lớp nào đó của giáo dục

trung học

Tỷ lệ bỏ học và tỷ lệ tốt nghiệp cho phép đánh giá chính xác hơn về kết

quả giáo dục so với tỷ lệ nhập học, và các tỷ lệ này dường như cũng khẳng định

là có sự khác biệt đáng kể trong kết quả giáo dục giữa các nhóm dân khác nhau

và giữa các vùng ở Việt Nam. Tỷ lệ hoàn thành tiểu học rất khác nhau theo

vùng, từ 80,3% tại Tây Bắc đến 93,9% tại Đông Nam Bộ trong năm học 20082009. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cho thấy sự khác biệt tương tự,

với 91,9% tốt nghiệp trung học phổ thông ở đồng bằng sông Hồng, so với

75,1% ở đồng bằng sơng Cửu Long.

Do đó, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là cơ

sở vật chất của trường học,dụng cụ giảng dạy và năng lực quản lý để đáp ứng

nhu cầu của nền kinh tế đang tăng trưởng,cung cấp nhân lực có kỹ năng cho

một xã hội đang thay đổi nhanh chóng,cũng như thúc đẩy phát triển con người

hơn nữa.

2.4. Đánh giá về sử dụng năng lực con người

Một trong số những chỉ tiêu đánh giá việc xã hội sử dụng năng lực con

người là tỷ lệ thất nghiệp.Qua các năm có thể thấy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt

Nam hiện nay có biến động.Điều này được thể hiện thơng qua hình dưới đây



21



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Hình 2.4: Tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2005- 2014(đơn vị:%)



Nguồn : Tổng cục thống kê

Qua hình trên, có thê thấy tỷ lệ thất nghiệp trong những năm gần đây có

sự biến động. Trong giai đoạn 2005- 2014, tỷ lệ thất nghiệp đạt mức cao nhất

vào năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tồn cầu. Những năm sau

đó, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm xuống nhưng vẫn còn khá cao. Song so

với các nước khác, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vẫn thuộc loại thấp so với

nhiều nước. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2014 là 2,08%

(Quý I là 2,21%; quý II là 1,84%; quý III là 2,17%; quý IV là 2,1%), trong đó

khu vực thành thị là 3,43%, thấp hơn mức 3,59% của năm trước; khu vực nông

thôn là 1,47%, thấp hơn mức 1,54% của năm 2013.Tỷ lệ thất nghiệp của thanh

niên (Từ 15 - 24 tuổi) năm 2014 là 6,3%, cao hơn mức 6,17% của năm 2013,

trong đó khu vực thành thị là 11,49%, cao hơn mức 11,12% của năm trước; khu

vực nông thôn là 4,63%, xấp xỉ tỷ lệ năm 2013. Tỷ lệ thất nghiệp của người lớn

từ 25 tuổi trở lên năm 2014 là 1,12%, thấp hơn mức 1,21% của năm 2013, trong

đó khu vực thành thị là 2,07%, thấp hơn mức 2,29% của năm trước; khu vực

nông thôn là 0,7%, thấp hơn mức 0,72% của năm 2013.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2014 là

2,45%, thấp hơn mức 2,74% của năm 2012 và 2,75% của năm 2013, trong đó

khu vực thành thị là 1,18% (Năm 2012 là 1,56%; năm 2013 là 1,48%); khu vực

nông thôn là 3,01% (Năm 2012 là 3,27%; năm 2013 là 3,31%). Tỷ lệ thiếu việc

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Chỉ số tuổi thọ trung bình giai đoạn 2000-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×