Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần 2: Đánh giá quá trình phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2000-2014

Phần 2: Đánh giá quá trình phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2000-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Việt Nam cũng có những tiến bộ đáng kể.Để đánh giá mức độ phát triển con

người của một quốc gia,chúng ta sử dụng chỉ số phát triển con người(HDI).Chỉ

số phát triển con người(HDI) là một chỉ số thống nhất các mục tiêu kinh tế xã

hội cần đạt được và phản ánh toàn bộ các khía cạnh của cuộc sống.HDI chứa

đựng ba yếu tố cơ bản của phát triển con người,đó là: mức sống, y tế và chăm

sóc sức khỏe, giáo dục.

2.1. Về mức sống

2.1.1. Thành tựu

Trong giai đoạn 2000- 2014,Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc về

tăng trưởng kinh tế,mức thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn này đã

tăng đáng kể.Thành tựu duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cũng như

mức thu nhập bình qn khơng ngừng tăng lên.



Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2014(đơn vị:%)



Hình 2.2: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn

2000-2013(tính theo giá hiện hành,đơn vị : USD)



6



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Nguồn: wordbank.org

Qua bảng số liệu trên,có thể thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam

trong giai đoạn này được duy trì khá ổn định.Trong giai đoạn 2000-2010,Viêt

Nam tiếp tục đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, GDP hàng năm tăng từ 6-8% trừ

những năm ngay sau khủng hoảng kinh tế,trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tế

chỉ đạt 6.31% vào năm 2008 và 5,32% vào năm 2009 trước khi phục hồi vào

năm 2010.GDP bình quân đầu người cũng tăng nhanh trong giai đoạn này từ

433.3%(năm 2000) lên 1333.6$ (năm 2010) và năm 2013 là 1910$.Có thể thấy,

tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2006-2013 nhanh hơn giai

đoạn 2000-2005.Thu nhập bình qn đầu người gia tăng đã góp phần gia tăng

đáng kể chỉ số HDI của Việt Nam trong những năm vừa qua.Đóng góp của chỉ

số thu nhập vào tăng trưởng HDI năm 2004 là 44% đến năm 2008 là 79,7%.

Cơ cấu thu nhập qua các năm cũng có sự chuyển biến đáng kể,cơ cấu thu

nhập năm 2012 của hộ gia đình cho thấy tỷ trọng khoản thu về tiền lương, tiền

công tăng, thu từ nông, lâm nghiệp-thuỷ sản giảm. Cụ thể: 46,2% từ tiền công,

tiền lương; 19,8% từ nông, lâm nghiệp-thuỷ sản chiếm 19,8%; từ dịch vụ chiếm

17,3%; từ công nghiệp-xây dựng chiếm 4,8%; từ các nguồn khác chiếm

11,9%.Mức chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu bình quân đạt khoảng 397.000

đồng/tháng. Tính ra, tổng chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu của tồn bộ dân

cư tích luỹ vào khoảng 422,7 nghìn tỷ đồng. Và theo báo cáo tình hình kinh tế

xã hội năm 2014 của Tổng cục Thống kê thì doanh thu các dịch vụ như lưu trú

ăn uống,du lịch có sự gia tăng đáng kể (tăng 8% so với năm 2013) điều này đã

cho thấy mức sống của người dân Việt Nam đã có sự gia tăng đáng kể.Tình

trạng thiếu đói đã giảm (Theo báo cáo của các địa phương, trong năm cả nước

có 314,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26,2% so với năm trước, tương ứng với

1340,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,3%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014

ước tính khoảng 8,2%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2013).



7



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Nhờ thu nhập bình quân đầu người tăng lên mà Việt Nam đã thoát khỏi

danh sách các nước đang phát triển có thu nhập thấp. Năm 2009,Việt Nam đã

chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình với tổng thu nhập quốc

gia(GNI) bình quân đầu người là 1020 USD và năm 2010 là 1110 USD.Theo

báo cáo phát triển con người năm 2014,hiện nay có sự chênh lệch lớn về thu

nhập bình quân giữa các quốc gia. Các nước phát triển con người rất cao đã đạt

mức thu nhập bình quân đầu người cao trên 21000$(theo PPP 2011) như Quatar

133,713$, Luxembourg 86,587$ , Hoa Kỳ 50,859 $ thì vẫn có những nước có

thu nhập bình quân đầu người rất thấp dưới 1000$ như ở các nước phát triển

con người thấp như Liberia chỉ là 782$, Malawi 739$, Mozambique 971$.Tổng

thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là 4912$.

Bảng 2.1: Tổng thu nhập bình quân đầu người của một số quốc gia trên

thế giới(tính theo PPP năm 2011)

Quốc gia

Qatar



GDP(tỷ USD)

274.2



GDP/người( USD)

133,713



Luxembourgh



46.0



86,587



Singapore



379.7



71,475



United States



15,965.5



50,859



Malaysia



640.3



21,897



Thailand



907.3



13,586



China



14,548.6



10,771



Indonesia



2,186.3



8,856



Iraq



473.3



14,527



Viet Nam



436.1



4,912

8



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Mozambique



24.5



971



Ethiopia



111.8



1,218



Liberia



3.3



782



Nguồn :Báo cáo phát triển con người năm 2014(UNDP)

Nguyên nhân của sự gia tăng đáng kể là do trong những năm gần

đây,Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách quan trọng như sự ra đời

của hàng loạt các luật như Luật Doanh Nghiệp được thông qua năm 2000,Luật

Đầu tư năm 2005... đã tạo điều kiện cho khoảng 60.000 doanh nghiệp ra đời và

tạo ra khoảng 1,5 triệu cơng việc cũng góp phần quan trọng và việc tạo thu nhập

và giảm nghèo thông qua việc hỗ trợ kinh tế tư nhân và việc làm trong khu vực

phi nông nghiệp. Đặc biệt năm 2014,tiến hành sửa đổi hệ thống pháp luật như

Luật đất đai,Luật đầu tư,Luật Doanh nghiệp, Luật thuế …cùng với đó là tiến

hành tự do hóa thương mại,tích cực mở cửa thị trường đã góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng cơng nghiêp hóa-hiện đại hóa,nâng cao

mức sống người dân.

2.1.2. Hạn chế

Tuy nhiên bản thân sự tiến bộ tăng trưởng kinh tế chưa đủ lực để tạo nên

những bước đột phá về mặt xã hội cho con người.Những tiến bộ đáng kể về thu

nhập vẫn không đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu về tiến bộ

trong phát triển con người.Mặt khác chính bản thân cách thức thực hiện mục

tiêu tăng trưởng của Việt Nam cũng đã làm giảm dần hiệu ứng của mơ hình tăng

trưởng vì con người.Hiện nay,Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia về trình độ

phát triển con người,đã thoát khỏi danh sách quốc gia đang phát triển có thu

nhập thấp sang thu nhập trung bình thấp,nhưng khoảng cách về thu nhập trung

bình của Việt Nam so với các nước trong nhóm này có sự chênh lệch khá lớn

thu nhập bình quân đầu người của Gabon gấp 3,7 lần , Nam Phi gấp 2,4 lần thu

nhập bình quân đầu người Việt Nam(theo PPP 2011).So sánh với các quốc gia

9



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



trong khu vực như Philipin,Indonesia thì thu nhập bình quân đầu người của Việt

Nam cũng thấp hơn khá lớn(thu nhập bình quân đầu người của Indonesia là

8,856 $,của Philipin là 6005$ trong khi của Việt Nam là 4912$).Theo Thứ

trưởng bộ Kế hoạch đầu tư Nguyễn Chí Dũng “Trong khu vực ASEAN, GDP

bình quân đầu người của Việt Nam chỉ hơn Lào, Campuchia, Đông Timo,

Myanmar(Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2013, GDP bình quân đầu

người của Việt Nam là 1.910 USD/người, Lào 1.645 USD/người,Campuchia

1.007 USD/người, Myanmar 900USD/người).Nếu vẫn phát triển như hiện nay,

các nước này chỉ mất 3-5 năm tới là vượt mình, đó là điều đáng buồn”.Trong

khi kinh tế Việt Nam bắt đầu xu thế giảm từ năm 2007. Tới năm 2012, tăng

trưởng kinh tế ở mức thấp nhất trong 15 năm. Từ 2013 tới nay, tăng trưởng cao

hơn trước, nhưng chưa như kỳ vọng.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do các tác động tăng trưởng truyền

thống đã tới hạn, nền kinh tế mất cân đối và kém hiệu quả. Tăng trưởng dựa

nhiều vào vốn và lao động, hiệu quả đầu tư thấp.Do đó cần có những biện pháp

cụ thể,rõ ràng để giải quyết tình trạng trên.

Bên cạnh đó, mức sống vẫn có sự cách biệt giữa thành thị và nơng thơn,

giữa nhóm dân cư giàu và nghèo, giữa một số vùng, đặc biệt vùng Tây Bắc còn

khó khăn nhất so với các vùng khác. Kết quả khảo sát về chênh lệch thu nhập

năm 2012 cho thấy thu nhập bình quân ở khu vực thành thị đạt 3 triệu

đồng/tháng, cao gấp gần 2 lần con số tương ứng ở nơng thơn (1,6 triệu

đồng/tháng).Thu nhập bình qn ở vùng Đơng Nam Bộ (vùng cao nhất đạt 3,2

triệu đồng/tháng), cao gấp gần 2,5 lần con số tương ứng của vùng trung du và

miền núi phía Bắc (thấp nhất). Và nếu chia hộ dân cư thành 5 nhóm, thu nhập

bình qn tháng 1 người của nhóm hộ giàu nhất (nhóm thu nhập 5) ở mức thu

thấp 4,8 triệu đồng, của nhóm hộ nghèo nhất (nhóm thu nhập 1) với mức

512.000 đồng, thì hệ số chênh lệch giàu/nghèo lên đến 9,4 lần, cao hơn các năm

trước (năm 2010 là 9,2 lần, năm 2008 là 8,9 lần, năm 2006 là 8,4 lần, năm 2004

10



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



là 8,3 lần, năm 2002 là 8,1 lần…). Còn kết quả đo lường chênh lệch giàu nghèo

bằng hệ số giữa tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong

tổng thu nhập của toàn bộ dân cư cho thấy xu hướng giảm xuống (năm 2002 là

18%, năm 2004 là 17,4%, năm 2006 là 17,4%, năm 2008 là 16,4%, năm 2008 là

16,4%, năm 2010 là 15% và năm 2012 là 14,9%).

2.2. Về y tế và chăm sóc sức khỏe

Vấn đề chăm sóc sức khỏe, y tế của Việt Nam trong những năm gần đây

đang ngày càng được chú trọng.Qua các năm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã đạt

được những thành tựu đáng kể

2.2.1.Thành tựu

a. Chỉ số tuổi thọ trung bình giai đoạn 2000-2014

Hình 2.3: Tuổi thọ bình quân của Việt Nam giai đoạn 2000- 2014



Nguồn: UNDP



Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam liên tục tăng từ 2000 đến 2014,

đạt mức khá cao từ 68.2 tuổi năm 2000 lên 73.2 tuổi năm 2014 tăng 5 tuổi

tương ứng với 7.33%.

Tuổi thọ trung bình của Việt Nam so với các nước trong khu vực đạt mức

khá cao, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam năm 2014 đạt 73,2 , cao hơn

mức 69,3 tuổi của nhóm nước có HDI trung bình, cao hơn cả mức 72,6 tuổi của

nhóm có HDI cao.

Bảng 2.2: Tuổi thọ trung bình của Việt Nam trong so sánh với một nước

ASEAN và châu Á năm 2014

Nước

Singapore

Hàn quốc



Tuổi thọ

79.4

77.9



T

0.907

0.882

11



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Brunei

Malayxia

Thái Lan

Trung Quốc

PHilippin

Việt Nam

Inđônexia

Ấn độ

Mianma



76.7

73.2

71.5

72.5

71

73.2

69.7

63.7

60.8



Chỉ số tuổi thọ được tính bằng cơng thức: T =



0.862

0.812

0.776

0.792

0.767

0.812

0.745

0.645

0.569



(25 là tuổi thọ min, còn



85 là tuổi thọ max trên thế giới)



Ngồi các yếu tố có tính tự nhiên, tuổi thọ cao của người Việt Nam còn là

kết quả của việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khoẻ con người, được thể hiện

trên nhiều mặt. Cụ thể:

Tỷ suất sinh đã giảm nhanh từ 19,9‰, năm 1999 xuống còn 17,0‰, năm

2013. Tỷ số giới tính khi sinh là 112,2 bé trai/100 bé gái. Theo kết quả Điều tra

dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,09 con/phụ

nữ và duy trì xu hướng ở dưới mức sinh thay thế. Trong đó khu vực thành thị là

1,85 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,21 con/phụ nữ.

Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 36,7‰ năm 1999 xuống còn

15,3‰ năm 2013. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử

vong/1000 trẻ sinh ra sống) là 22,4‰, trong đó khu vực thành thị là 13,1‰; khu

vực nông thôn là 26,9 %.

Tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn có bác sỹ, có nhân viên hộ sinh hoặc y

sỹ sản nhi, đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng

đầy đủ các loại vaccine đã tăng lên. Số cơ sở khám chữa bệnh cơng lập đến năm

2013 có 13.120; số giường bệnh (không kể trạm y tế) năm 2013 đạt 283.000;

12



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



bình quân 1 vạn dân đạt 25,5 giường; số bác sỹ đạt 75.000 người; bình quân 1

vạn dân đạt 8,4 bác sỹ… Mạng lưới y tế cơ sở ở Việt Nam không ngừng được

củng cố qua các thời kỳ và đảm bảo được khoảng 70% nhu cầu chăm sóc sức

khỏe của người dân tại tuyến cơ sở. Tính đến năm nay, trên cả nước có 622

bệnh viện tuyến huyện với tổng số 68.959 giường bệnh; 651 phòng khám đa

khoa khu vực với 6.752 giường bệnh; 11.105 trạm y tế xã. Tỷ lệ trạm y tế xã có

bác sỹ làm việc tại trạm chiếm 73,5%; 96,4% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y

sỹ sản nhi; 73,4% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010.

Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chiếm 71,6%; khoảng 78,8% trạm y tế xã đã

thực hiện khám chữa bệnh BHYT. Việc triển khai khám chữa bệnh BHYT tại

TYT xã làm tăng tính tiếp cận dịch vụ y tế của người dân ngay tại tuyến cơ sở.

Tỷ lệ thẻ BHYT đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh viện

huyện chiếm 45% tổng số thẻ đăng ký KCB ban đầu.

Việt Nam hiện nay đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về phòng chống

HIV. Điều trị antiretroviral tăng 22 lần kể từ năm 2005 và tỷ lệ nhiễm mới ở gái

mại dâm và người sử dụng ma túy khá ổn định. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIV của

người sử dụng ma túy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tình

dục đồng giới đang gia tăng , tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm song

ngân sách của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoảng thiếu hụt

này.

2.2.2 Hạn chế

Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm xuống còn 22 trẻ chết/1000 ca

đẻ sống vào năm 2011 so với con số 50 vào năm 1990 song vẫn còn nhiều bất

bình đẳng.Tỷ lệ trẻ em sơ sinh chết chiểm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng số trẻ

em chết dưới 5 tuổi và trẻ em người dân tộc thiểu số có nguy cơ chết trong năm

đầu tiên cao hơn 3-4 lần.Do đó cần thực hiện các gói dịch vụ tổng hợp về sức

khỏe bà mẹ và trẻ em và dinh dưỡng ở các khu vực còn yếu kém.Đồng thời

13



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



tăng cường số liệu để có thể xác đinh mục tiêu tốt hơn và quản lý tốt hơn nguồn

lực hạn chế dành cho y tế.Mục tiêu về tỷ lệ tử vong đã đạt được khi tỷ lệ tử

vong/100.000 ca đẻ sống giảm từ năm 2000 xuống còn 59 ca vào năm 2010. Tỷ

lệ bà mẹ chết khi sinh ở 62 huyện nghèo nhất cao hơn 5 lần so với tỷ lệ trung

bình trên tồn quốc và tỷ lệ chết của phụ nữ do sinh nở tại nhà cũng cao hơn 5

lần.Phụ nữ ở độ tuổi 15-49 sử dụng các biện pháp tránh thai chỉ tăng 15% kể từ

năm, nhu cầu kế hoạch hóa gia đình cho khoảng 10% các cặp vợ chồng và 30%

phụ nữ độc thân có hoạt động tình dục tích cực vẫn chưa được đáp ứng.

Tỷ lệ nhiễm HIV đã có những chuyển biến tích cực song Việt Nam có

khả năng khơng đạt được mục tiêu này.Tỷ lệ nhiễm HIV của người sử dụng ma

túy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tình dục đồng giới đang

gia tăng. Tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm song ngân sách của

Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoange thiếu hụt này.

Về vấn đề sử dụng nước sạch, năm 2011,96% dân số có nước sạch để

uống,tăng từ 77% năm 2000.Tuy nhiên,trong giai đoạn này,tỷ lệ dân nông thôn

được dùng nước sạch chỉ tăng từ 71% lên 94%.Năm 2011,75% tổng số hộ gia

đình và 67% hộ gia đình nơng thơn có nhà vệ sinh hợp vệ sinh,tăng từ con số

55% và 48% tương ứng trong năm 2000.Thói quen phóng uế bừa bãi vẫn còn

phổ biến trong cộng đồng dân cư nghèo và người dân tộc.Ba khu vực có tỷ lệ sử

dụng nhà vệ sinh thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và khu

vực miền núi phía Bắc.Do đó,cần đầu tư nhiều hơn,đồng thời chính quyền địa

phương và cộng đồng cần quan tâm hơn nhằm thực hiện mục tiêu này,kết hợp

với khu vực tư nhân đưa ra các giải pháp vệ sinh chi phí thấp cho hộ gia đình

nơng thơn.



14



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



2.3. Về giáo dục

2.3.1 Thành tựu

Việt Nam có tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 97% và 88% hoàn thành giáo dục

tiểu học trong năm 2008-2009 và năm 2012 là 97,7%.Trong giai đoạn 20072012,tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đã tăng đáng kể,đạt mức 96,6 % ở cấp giáo dục

tiểu học và trung học phổ thông,99,2% ở cấp trung học cơ sở.

Tỷ lệ biết chữ của người lớn năm 2009 là 94%.Và theo báo cáo phát triển

con người năm 2014 của LHQ thì tỷ lệ biết chữ của người lớn là 93,14%(đối

với độ tuổi từ 15 tuổi trở lên và 97,1% đối với độ tuổi từ 15 tuổi đến 24 tuổi).

Trong những năm qua,tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theo

địa phương đạt tỷ lệ khá cao.Trong đó,khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải

miền Trung đạt tỷ lệ cao nhất,sau đó là Đồng bằng sông Hồng.Khu vực Trung

du và miền núi Bắc Bộ và khu vực Đồng bằng sơng Cửu Long thì có tỷ lệ học

sinh tốt nghiệp thấp hơn nhưng đang có xu hướng tăng nhanh(đặc biệt là đồng

bằng sông Cửu Long).

Bảng 2.3: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theo địa

phương (đơn vị: %)



CẢ NƯỚC

Đồng



bằng



2009-2010



2010-2011



2011-2012



2012-2013



92,57



95,72



98,97



97,98



97,73



98,79



99,45



98,44



93,25



96,60



99,10



95,93



95,08



96,76



99,04



97,98



sông



Hồng

Trung du và miền

núi phía Bắc

Bắc Trung Bộ và

Duyên

Trung



hải



miền



15



Đanh gia phat triên con ngươi 2000-2014



Đồng



bằng



Cửu Long



sông

81,55



91,28



98,47



98,95



Nguồn:Tổng cục thống kê

Số năm đi học trung bình của Việt Nam đã tăng từ 4 năm (năm 1990) lên

5,5 năm (năm 2011).Và theo báo cáo phát triển con người năm 2014 thì số năm

đi học trung bình của Việt Nam năm 2012 vẫn là 5,5 năm,khơng có sự thay đổi

so với năm 2011.Và so với các quốc gia khác trong khu vực thì số năm đi học

trung bình của Việt Nam năm 2012 thấp hơn Philipin là 8,9 năm; Indonesia là

7,5 năm, Campuchia là 5,8 năm, Singapore là 10,2 năm và chỉ cao hơn Lào là

4,9 năm.

Số năm đi học kỳ vọng tăng từ 7,8 năm vào năm 1990 lên 10,4 năm vào

năm 2011 (vẫn thấp hơn mức 11,7 năm bình qn ở khu vực Đơng Á Thái Bình

Dương).Và theo báo cáo phát triển năm 2014 thì số năm đi học kỳ vọng năm

2012 của Việt Nam là 11,9 năm.So với các quốc gia khác trong khu vực

ASEAN thì số năm đi họ kì vọng của Việt Nam cũng khơng có sự chênh lệch

nhiều,chằng hạn như số năm đi học kì vọng của Philipin là 11,3 năm hay Thái

Lan là 13,1 năm, Singapore là 15,4 năm.

Hiên nay, Việt Nam đầu tư chi tiêu cho giáo dục khá lớn,khoản chi này

còn cao hơn cho y tế với tỷ lệ chi tiêu công trong ngân sách nhà nước đã tăng từ

15,5% năm 2001 lên 20% năm 2008.Chi tiêu công cho giáo dục chiếm 5,6%

GDP năm 2008,gấp đôi chi tiêu công cho y tế.So với các nước trong khu

vực.Việt Nam chi tiêu cho giáo dục cao hơn đáng kể.Theo số liệu của

USNESCO,Việt Nam đã dành một tỷ lệ ngân sách cho giáo dục cao hơn so với

phần lớn các nước trong khu vực trừ Thái Lan.Chi tiêu công cho giáo dục trong

tổng GDPcủa Philipin năm 2007 là 2,7 %, của Malaysia năm 2007 là 4,5%,

Trung Quốc là 3,4% trong khi Việt Nam là 5,3%.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần 2: Đánh giá quá trình phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2000-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×