Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá khó khăn khi xuất khẩu cá tra ở tỉnh An Giang

Đánh giá khó khăn khi xuất khẩu cá tra ở tỉnh An Giang

Tải bản đầy đủ - 0trang

người ni thiếu vốn sản xuất, dễ dẫn đến tình trạng treo ao, và xuất hiện tình trạng

thiếu nguyên liệu cho chế biến, gây đình trệ cho sản xuất. Con giống hiện nay trên

thị trường chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng con giống kém nên mức hao hụt

trong q trình ni từ cá giống đến cỡ cá thương phẩm hiện nay phổ biến đến

40% làm chi phí ni tăng cao

ngành hàng cá tra gặp nhiều khó khăn. Hộ ni treo ao, nhiều doanh nghiệp phá

sản và gặp khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ... Nguyên nhân là do tình trạng ni

nhỏ lẻ, manh mún, tự phát, thiếu liên kết trong sản xuất. Bên cạnh đó, sự quản lý

của chính quyền các cấp, của ngành trong quy hoạch vùng ni, chất lượng sản

phẩm còn thả nổi trong thời gian dài đã dẫn đến mất cân đối cung – cầu, làm suy

giảm lợi nhuận của người ni, khó khăn trong tái đầu tư vốn sản xuất và chưa xây

dựng được thương hiệu riêng trên thị trường thế giới.

Tại hầu hết các thị trường lớn, XK gặp rất nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu thụ và NK

chậm, giá bán không tăng, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm khắt khe hơn.

Mỹ và EU là hai thị trường XK lớn nhất nhưng giá trị XK giảm liên tiếp ngay từ

đầu năm.

Vừa khó đưa hàng vào Mỹ vì thuế chống bán phá giá lại chịu sự cạnh tranh gay gắt

từ cá rô phi Trung Quốc, cuối năm 2015, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (FSIS) lại thông

báo về việc quyết định triển khai Chương trình Giám sát cá da trơn đối với cá tra

NK vào Mỹ. Quy định này bắt đầu có hiệu lực từ tháng 3-2016 (90 ngày sau khi

đăng Công báo Liên bang). Mốc thời gian có hiệu lực cũng là thời điểm bắt đầu

giai đoạn chuyển đổi 18 tháng đối với các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài.

Chất lượng giống cá tra trong thời gian gần đây đang gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ

sống và chất lượng giống còn khá thấp, cá giống chết nhiều chiếm tỉ lệ từ 15 – 30

% sau thời gian thả nuôi thương phẩm từ 10 – 15 ngày. Nguyên nhân trên là do tác

26



động của nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến là việc tuyển chọn cá bố mẹ của các

cơ sở sản xuất giống trong tỉnh chưa đạt yêu cầu về kỹ thuật như cá bố mẹ được

chọn từ cá ni thương phẩm, kích cở cá bố mẹ cho sinh sản quá nhỏ (2,5 – 3

kg/con), thức ăn nuôi vỗ chưa đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng (chủ yếu là thức ăn

tự chế). Theo thống kê của chi cục thủy sản An Giang, trong tỉnh hiện có 20 cơ sở

sản xuất giống có đàn cá tra bố mẹ đều không rõ nguồn gốc, chủ yếu được tuyển

chọn từ cá nuôi thương phẩm.

Hiệp hội Thủy sản An Giang cho biết, hoạt động sản xuất- kinh doanh của ngành

Thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, do giá cả nguyên liệu không ổn

định. Đến thời điểm hiện nay, giá cá tra nguyên liệu được doanh nghiệp chế biến

xuất khẩu mua vào từ 20.500-23.200 đồng/kg, giá cá tra nguyên liệu tăng khoảng

5.000-5.500 đồng/kg so với thời điểm này năm trước. Với giá này, người nuôi lãi

khoảng 2.000 đồng/kg, đây cũng là mức giá cao nhất được ghi nhận kể từ năm

2010 đến nay. Nhưng đến thời điểm hiện nay, sản lượng cá đến kỳ thu hoạch tại

các hộ ni khơng còn nhiều do giá cá ngun liệu trong những năm qua không ổn

định nên người nuôi không đầu tư dẫn đến nguồn cá tra nguyên liệu giảm mạnh.

Ngoài ra, thời gian gần đây, thương lái TQ ồ ạt thu mua cá tra với giá cao bất

thường, trong khi đó nguồn nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu chế biến xuất khẩu

của các doanh nghiệp trở nên khan hiếm, gây hiện tượng “cầu ảo” ảnh hưởng đến

thị trường cá tra của Việt Nam nói chung và của tỉnh An Giang nói riêngsản lượng

cá tra bột tồn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng vọt từ gần 500 triệu con

vào năm 2000 lên hơn 14 tỷ con cá tra bột vào năm 2011, trong khi đó sản lượng

cá tra giống hiện nay chỉ xấp xỉ 2 tỷ con. Điều này cho thấy sản lượng cá bột tăng

nhưng cá giống khơng tăng, hay nói cách khác đi là tỷ lệ sống trong q trình ương

ni cá tra giống đang giảm. guyên nhân dẫn đến tình trạng này, trước hết là do

mật độ ương quá cao nên thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá bột không đủ, môi

27



trường ao ương xấu gây ảnh hưởng không tốt cho cá giai đoạn hình thành cơ quan

hơ hấp phụ, cá hao hụt nhiều sau 1-2 tuần tuổi. Bón phân gây màu khơng đủ thức

ăn tự nhiên, sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm không phù hợp cũng là nguyên

nhân khiến tỷ lệ ương cá giống thấp. Ngồi ra, còn do bệnh bộc phát trong ao ương

cá tra bột với các tác nhân như nấm, vi khuẩn dạng sợi, ký sinh trùng,…



Phần III: Giải pháp cho những khó khăn sản xuất mặt hàng xuất khẩu cá tra

Khó khăn về vốn, nguồn nguyên liệu cho chế biến

Xác định khâu đầu tiên để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh

doanh và xuất khẩu cá tra trên địa bàn là nguồn vốn phục vụ sản xuất, chế biến

xuất khẩu, tỉnh An Giang đã và đang triển khai thực hiện tạm thời phân loại 4

nhóm doanh nghiệp gồm: nhóm doanh nghiệp đang hoạt động tốt, chiếm 15,3%

tổng số, nhóm doanh nghiệp đang hoạt động khá, chiếm 15,38% tổng số, nhóm

doanh nghiệp đang hoạt động trung bình chiếm 38,46% tổng số, nhóm doanh

nghiệp có nguy cơ ngừng sản xuất, chiếm 30,77% tổng số. Trong đó, nhận định

nguyên nhân làm cho nhóm doanh nghiệp trung bình và nhóm có nguy cơ ngừng

sản xuất chiếm tỷ trọng khá lớn, đến 69,23% là thiếu hụt nguồn vốn.

Đối với doanh nghiệp đang hoạt động, hệ thống ngân hàng xem xét tăng hạn mức

tín dụng vay, đồng thời cơ cấu lại vốn vay chuyển từ ngắn hạn sang trung và dài

hạn, để giúp doanh nghiệp phát huy hiệu quả về vốn. Tiếp tục miễn, giảm, giãn nộp

thuế thu nhập doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông- thủy sản có sử

dụng nhiều lao động. Thực hiện việc liên kết người nuôi cá, doanh nghiệp, người

cung ứng thức ăn, ngân hàng, trong đó vai trò người cung ứng thức ăn cho cá tham

gia để đáp ứng nhu cầu vốn cho người ni và doanh nghiệp.

28



Để tháo gỡ khó khăn cho ngành sản xuất, chế biến, tiêu thụ cá tra

Cục chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối tổ chức hội nghị bàn giải pháp,

chính sách thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ cá tra. Tại hội nghị, các nhà khoa học, nhà

quản lý, doamh nghiệp cũng như hộ nuôi có cùng nhận định cần phải tổ chức lại

sản xuất ngành cá tra theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công

nghệ cao để nâng cao giá trị gia tăng. Vai trò của nguồn vốn tín dụng có tác động

quyết định đến việc đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển liên

kết, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm để phát triển bền vững ngành cá tra

Việt Nam.

giải pháp để nâng cao gía trị gia tăng trong chế biến, tiêu thụ cá tra là cần phải đẩy

mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để tạo ra sản phẩm giá trị

gia tăng; đầu tư thiết bị công nghệ chế biến phụ phẩm từ sản xuất chính để đa dạng

hóa sản phẩm phụ từ đó khai thác triệt để nguồn guyên liệu cá tra góp phần nâng

cao giá trị, giảm giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường. Về giải pháp thị trường,

đẩy mạnh các họat động xúc tiến thương mại; giải quyết các vướng mắc về thị

trường như: rào cản kỹ thuật , hàng rào thếu quan và phi thuế quan của các nước

như Mỹ, EU, Nga,...; Tận dụng tốt cơ hội trong việc thực hiện các hiệp định tự do

thương mại (FTAs, TPP) để đưa cá tra nâng lên tầm mới; xây dựng thương hiệu cá

tra; đẩy mạnh quản bá hàng giá trị gia tăng, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến và

thị trường tiêu thụ phù hợp với thị hiếu, văn hóa tiêu dùng của từng thị trường

về chính sách tín dụng đối với ngành cá tra : 5 ngân hàng thương mại cân đối

nguồn vốn để cho vay nuôi cá tra, thực hiện miễn giảm lãi, cơ cấu lại thời hạn trả

nợ, tăng cường cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản, kéo dài thời hạn thực hiện

qui định cho phép tổ chức tín dụng được cho vay nba82ng ngoại tệ đối với một số

lĩnh vực ư tiên;…. Khách hàng nuôi cá tra gặp khó khăn được giãn nợ 24 tháng và

được vay mới với lãi suất 7%/năm để tiếp tục sản xuất. Những trường hợp gặp khó

29



khăn trong sản xuất kinh doanh, khơng có khả năng trả nợ do ngun nhân khách

quan, bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh...) sẽ được khoanh nợ tối đa 03 năm, đồng

thời tiếp tục được cho vay mới để phục hồi sản xuất.

Bộ đề xuất quy định điều kiện chất lượng, an toàn thực phẩm đối với sản phẩm cá

tra chế biến cụ thể là: Một, cá tra nguyên liệu dùng chế biến phải được nuôi từ sơ

sở nuôi cá tra thương phẩm đáp ứng điều kiện quy định; Hai, sản phẩm cá tra chế

biến phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản

của Việt Nam và nước nhập khẩu (trường hợp nước nhập khẩu có quy định khác

với pháp luật Việt Nam thì áp dụng theo quy định của nước nhập khẩu); Ba, việc

ghi nhãn sản phẩm cá tra phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và phù

hợp với quy định của nước nhập khẩu (trường hợp nước nhập khẩu quy định ghi

nhãn sản phẩm cá tra khác với pháp luật Việt Nam thì áp dụng theo quy định pháp

luật của nước nhập khẩu).

Đồng thời, dự thảo cũng bãi bỏ quy định về thủ tục đăng ký hợp đồng xuất khẩu

sản phẩm cá tra với Hiệp hội Cá tra. Thay vào đó, Bộ NN&PTNT đề xuất cơ chế

cung cấp thông tin xuất nhập khẩu sản phẩm cá tra do Bộ Tài chính (Tổng cục Hải

quan) quản lý, gửi các Bộ ngành theo biểu bảng báo cáo thống kê.



30



Tài liệu tham khảo

1 . Báo : “ Đại đoàn kết ngày 30/7/2015”

2. Báo :”Hiệp hội thủy sản An Giang”

3.Nguyễn Văn Nam (2005),”Thị trường xuất-nhập khẩu thủy sản”NXB thống kê

Hà Nội

4.Tạp chí thương mại thủy sản các số 4,5,6,10,11,12/2003-4/2008



31



Mục Lục

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU CÁ TRA TẠI AN GIANG..............4

1. Khái niệm..........................................................................................................4

2. Chỉ tiêu đo lường..............................................................................................7

3. Lý thuyết có liên quan....................................................................................12

4. Bài học kinh nghiệm.......................................................................................13

Phần II: Thực trạng của việc sản xuất mặt hàng xuất khẩu cá tra tại An Giang

.................................................................................................................................16

I.Đánh giá tình trạng sản xuất của mặt hàng xuất khẩu cá tra tại An Giang

..............................................................................................................................16

II. Đánh giá tình trạng phát triển kinh tế của tỉnh An Giang........................18

III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ.............................................................................18

3.Đánh giá tác động của việc thực hiện với phát triển kinh tế của tỉnh An

Giang...................................................................................................................25

4.Đánh giá khó khăn khi xuất khẩu cá tra ở tỉnh An Giang..........................26

Phần III: Giải pháp cho những khó khăn sản xuất mặt hàng xuất khẩu cá tra

.................................................................................................................................29



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá khó khăn khi xuất khẩu cá tra ở tỉnh An Giang

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×