Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 8,47%, trong đó, lĩnh vực cơng nghiệp

tăng 8,43%, lĩnh vực xây dựng tăng 8,65%, đóng góp vào tăng trưởng chung của

tỉnh là 1,52% trong tổng số 8,63%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) tăng bình quân 5,66%/năm. Nhiều doanh nghiệp

đầu tư chế biến lúa gạo và thủy sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu với quy mô, công suất

lớn. Ngành Công nghiệp có mức tăng trưởng khá, cơ cấu giá trị sản xuất (theo giá

hiện hành) giữa các thành phần kinh tế dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng công

nghiệp nhà nước, tăng tỷ trọng cơng nghiệp ngồi nhà nước. Việc thay đổi cơ cấu

sản xuất cơng nghiệp đã có tác động tích cực, đẩy nhanh tốc độ phát triển, góp

phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế của tỉnh.

1.3. Khu vực dịch vụ

Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 11,09%, đóng góp vào tăng trưởng chung

của tỉnh là 6,49% trong tổng số 8,63%. Thương mại nội địa tăng gấp 02 lần so với

giai đoạn 2006 - 2010. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2015 đạt 73.610

tỷ đồng (tăng 2,05 lần so năm 2010), bình quân đạt 15,43%/năm (tăng 0,4% so kế

hoạch). Công tác xúc tiến thương mại đem lại hiệu quả tích cực và kết nối thị

trường của cộng đồng doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng thương mại phát triển khá,

nhất là hệ thống chợ nông thôn.

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,65 tỷ USD (đạt 95,6% so kế hoạch và tăng 52,86%

so với giai đoạn 2006 - 2010), tăng bình quân 8,45%/năm (Nghị quyết tăng

11,38%/năm). Thị trường xuất khẩu tiếp tục mở rộng.

Ngành Du lịch từng bước được củng cố, hoạt động đi dần vào nền nếp. Các mơ

hình du lịch cộng đồng, sinh thái, nông nghiệp, trang trại... ngày càng phát triển,

thu hút đông đảo du khách. Tổng lượt khách đến các khu, điểm du lịch 5 năm qua



19



đạt 28,3 triệu lượt (bình quân trên 5,6 triệu lượt khách/năm), tăng bình quân đạt

2,9%/năm.

1.4. Thu, chi ngân sách

Tổng thu ngân sách trên địa bàn 5 năm qua đạt 26.163 tỷ đồng (đạt 83,47% so

Nghị quyết), tốc độ tăng thu bình quân đạt 7,62%/năm. Tỷ lệ huy động vào ngân

sách bình quân đạt 7% GDP. Tổng chi ngân sách của tỉnh là 44.212 tỷ đồng (tăng

13% kế hoạch, tốc độ tăng chi bình quân 12,5%/năm). Quản lý chi ngân sách chặt

chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đảm bảo nguồn lực cho đầu tư

phát triển và thực hiện các chính sách an sinh - xã hội, quốc phòng - an ninh.

1.5. Khoa học - cơng nghệ

Có 382 đề tài, dự án, mơ hình được triển khai thực hiện, góp phần đáng kể trong

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đã hỗ trợ 26 doanh nghiệp thực hiện nghiên

cứu, đổi mới cơng nghệ; có 276 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất được hỗ trợ đăng ký

bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ cho doanh nghiệp thực hiện áp dụng các hệ

thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh,

giảm chi phí sản xuất.

1.6. Cơng tác thu hút đầu tư

Trong 5 năm qua, có 3.284 doanh nghiệp được thành lập mới, tăng bình quân

15%/năm, với số vốn đăng ký mới 13.873 tỷ đồng (bình quân một doanh nghiệp

đăng ký khoảng 4,2 tỷ đồng) so với giai đoạn 2006 - 2010 về số doanh nghiệp tăng

gần 75%, số vốn đăng ký mới gấp 1,87 lần. Đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 29

dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký khoảng

189 triệu USD, tổng vốn đầu tư thực hiện khoảng 36 triệu USD. So với năm 2009

trở về trước số dự án FDI tăng 29 (tăng 650%), tổng vốn đăng ký tăng 174 triệu

USD, tổng vốn đầu tư thực hiện tăng 21 triệu USD (tăng 171%).

20



2. Hạn chế

Tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với chỉ tiêu Nghị quyết (12,5%). Chuyển dịch nội

ngành của từng khu vực kinh tế vẫn chưa đảm bảo đúng định hướng.

Sản xuất nông nghiệp phát triển nhưng thiếu ổn định, nhất là thị trường. Sức cạnh

tranh mặt hàng nơng nghiệp còn thấp, chưa đảm bảo lợi nhuận cho nơng dân; các

mơ hình liên kết theo chuỗi giá trị còn ở giai đoạn thí điểm.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến các hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân và kêu gọi đầu tư. Hiệu quả đầu tư

phát triển các khu, cụm cơng nghiệp còn thấp, có khu đã hoàn thành nhưng tỷ lệ

lấp đầy nhà đầu tư còn ít. Các ngành nghề dịch vụ chưa phát triển tương xứng về

tiềm năng và lợi thế.

Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hằng năm đạt thấp so với mục tiêu đề ra.

Nguồn lực ngân sách cho đầu tư phát triển còn thấp so nhu cầu, nguồn vốn đầu tư

các cơng trình trọng điểm hạn hẹp, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành. Huy động

vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khó khăn hơn, mơi trường đầu tư và các chính

sách chưa đồng bộ…, thu hút nguồn vốn ODA gần như không đáng kể.



ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH KINH TẾ, CÁC LĨNH VỰC

Nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản

Đảm bảo diện tích trồng lúa nước theo quy hoạch phát triển nông nghiệp, đảm bảo

an ninh lương thực quốc gia và phát triển theo huớng sản xuất hàng hóa. Hướng

phát triển là nâng cao năng suất cây trồng, sản xuất sản phẩm nơng nghiệp sạch,

trong đó có lúa nước.



21



- Duy trì quan điểm “đưa ngành thủy sản thành một trong những ngành kinh tế mũi

nhọn của tỉnh”, nhưng hướng trọng tâm phát triển thủy sản vào khâu nâng cao chất

lượng sản phẩm. Diện tích và sản lượng thủy sản có thể khơng tăng, nhưng giá trị

và doanh thu không giảm.

- Xác định sản phẩm gạo và cá tra, cá ba sa là sản phẩm đặc biệt, sản phẩm chiến

lược của tỉnh; quan tâm phát triển thêm một số sản phẩm khác có giá trị kinh tế

cao.

- Xây dựng viện công nghệ sinh học cao nghiên cứu giống cây trồng, vật ni của

tồn vùng ĐBSCL.

- Xây dựng nơng thơn mới với 19 tiêu chí theo Quyết định 491/QĐ-TTg ngày

16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ và 20 tiêu chí theo Quyết định số 1036/QĐUBND ngày 07/6/2010 của UBND tỉnh An Giang.

- Quan tâm đến trữ lượng nước cục bộ cho tiêu dùng và sản xuất.

Công nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp

- Xây dựng hồn chỉnh các khu cơng nghiệp tập trung, gồm KCN Vàm Cống (TP.

Long Xuyên) với diện tích 500ha, KCN Hội An (huyện Chợ Mới) với diện tích

100ha và một số CCN-TTCN cấp huyện khác, ưu tiên cơng nghệ cao.

- Mở rộng KCN Bình Hòa lên 281,7ha và KCN Bình Long lên 180,6ha.

- Phấn đấu đến năm 2020 lấp đầy các KCN theo hướng ưu tiên, khuyến khích phát

triển cơng nghiệp cơng nghệ cao.

- Cơng nghiệp chế tạo, sửa chữa cơ khí: Tiếp tục nghiên cứu, cơ giới hóa các khâu

gieo sạ, gặt, tuốt, cải tiến các thiết bị sấy đáp ứng yêu cầu về chất lượng hàng hóa;

nâng cao năng lực chế tạo máy nơng nghiệp.



22



- Cơng nghiệp khai khống và sản xuất VLXD: Khai thác tài ngun khống sản

gắn chặt với việc bảo vệ mơi trường sinh thái và cảnh quan du lịch; nâng cao chất

lượng các sản phẩm VLXD của tỉnh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và

xuất khẩu.

- Phát triển ngành công nghiệp may, da giày, lắp ráp điện tử, công nghệ thông tin

phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

- Các ngành thủ công truyền thống: Phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

phục vụ du lịch và nâng cấp các mặt hàng đặc sản truyền thống của An Giang.

- Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản: Nâng cao giá trị thương mại của lâm sản,

nhất là các sản phẩm từ rừng trồng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.

Thương mại - dịch vụ- du lịch

- Thương mại: Phát triển khu vực TP. Long Xuyên và thị xã Châu Đốc thành những

trung tâm thương mại lớn, năng động của tỉnh; khu vực Tân Châu–Vĩnh Xương và

trục Tịnh Biên–Tri Tôn–Núi Sập thành những “đầu tàu” kinh tế của tỉnh để lôi kéo

các vùng khác phát triển.

- Hoàn chỉnh quy hoạch chung và đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu

gồm 2 cửa khẩu quốc tế: Tịnh Biên, Vĩnh Xương và 2 cửa khẩu quốc gia: Khánh

Bình, Vĩnh Hội Đơng. Kêu gọi thu hút đầu tư để mở rộng, xây dựng kết cấu hạ

tầng đồng bộ Khu Thương mại Cửa khẩu Tịnh Biên gắn với phân bố dân cư và

phát triển các dịch vụ kinh doanh xuất nhập khẩu.

- Phát triển khu du lịch Ơ Tà Sóc (huyện Tri Tơn) kết hợp với khu du lịch vùng núi

Thất Sơn (huyện Tri Tôn) và sản phẩm thuốc trồng trên vùng núi Thất Sơn để hình

thành tuyến du lịch liên hồn.



23



3.Đánh giá tác động của việc thực hiện với phát triển kinh tế của tỉnh An

Giang

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) vừa cho biết, trong 7

tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường có mức tăng trưởng lớn nhất so với

cùng kỳ năm trước.

Đến hết tháng 7/2016, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc đạt 140 triệu USD (chiếm

15,2% giá trị xuất khẩu cá tra cả nước), tăng trên 65% so cùng kỳ năm trước. Hiện

phần lớn Trung Quốc nhập khẩu cá tra từ Việt Nam để tiêu thụ trong nước và chế

biến xuất khẩu sang Mỹ.

Theo Vasep, trong hai năm trở lại đây, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc liên tiếp

đạt mức hai con số. Đây là thị trường có nhu cầu cao, dân số đông và không quá

khắt khe về tiêu chuẩn

Xuất khẩu cá tra đạt khoảng 1,6 tỷ USD. Cái khó của Việt Nam trong XK thủy sản

cuối năm nay là thiếu hụt nguồn nguyên liệu , cá tra do ảnh hưởng của hạn hán,

xâm nhập mặn hồi đầu năm. Nguyên liệu hải sản cũng bị ảnh hưởng do khai thác

biển gặp khó khăn vì chi phí cao, cơng nghệ bảo quản chưa được cải thiện nhiều,

giá bán không bù đắp giá vốn cho ngư dân.

Là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, cá tra xuất khẩu

mặc dù có tăng, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lại đang gặp khó khăn do

thiếu nguyên liệu, đối mặt với áp thuế chống bán phá giá

Tính đến hết tháng 6-2016, giá trị XK cá tra đạt 790,2 triệu USD, tăng 5,4% so với

cùng kỳ năm trước. Nửa đầu năm nay, XK cá tra của các DN Việt Nam gặp rất

nhiều khó khăn

24



Trong quý II-2016, giá trị cá tra XK sang Mỹ đạt 106,5 triệu USD, tăng 31,4% so

với quý trước. Tính đến hết tháng 6-2016, giá trị XK cá tra sang Mỹ đạt 187,1 triệu

USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với thị trường EU,quý II-2016, giá trị XK cá tra sang thị trường EU đạt 69,4

triệu USD, giảm 6,6% so với quý trước. Tính đến hết tháng 6-2016, giá trị XK cá

tra sang EU đạt 133 triệu USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,

giá trị XK cá tra sang Tây Ban Nha và Đức tăng trưởng tốt, lần lượt: 17,9% và

4,4% nhưng XK sang Hà Lan lại giảm 13%; sang Anh giảm 22,5% so với cùng kỳ

năm 2015.

Quý II-2016, giá trị XK sang Trung Quốc đạt 72,5 triệu USD, tăng 80,6% so với

quý I-2016. Tính đến hết tháng 6-2016, tổng giá trị XK đạt 117 triệu USD, tăng

66,7% so với cùng kỳ năm trước.



4.Đánh giá khó khăn khi xuất khẩu cá tra ở tỉnh An Giang

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2015, ngành cá

tra tiềm ẩn nhiều rủi ro do hạn chế về kỹ thuật chăn ni, chế biến cũng như khâu

tiêu thụ. Chi phí sản xuất trong nước cao dẫn đến sản phẩm xuất khẩu kém cạnh

tranh.

Khó khăn về vốn, nguồn nguyên liệu cho chế biến: Theo Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn tỉnh An Giang, hiện nay trong tồn tỉnh có 960 ha diện tích mặt

nước ni cá tra, với tổng sản lượng ước khoảng 227.000 tấn. Trong đó, có 274 ha

thuộc vùng nguyên liệu của các doanh nghiệp chủ động, tương ứng khoảng 82.200

tấn ngun liệu, số diện tích ni còn lại nằm rải rác ở các nơi, dẫn tới tình trạng

nguồn nguyên liệu thiếu ổn định về chất lượng, cộng với tình hình giá cả bấp bênh,

25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×