Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I.Đánh giá tình trạng sản xuất của mặt hàng xuất khẩu cá tra tại An Giang

I.Đánh giá tình trạng sản xuất của mặt hàng xuất khẩu cá tra tại An Giang

Tải bản đầy đủ - 0trang

cố gắng mở rộng diện tích vùng ni ở vị trí các cồn bãi có nguồn nước tốt, trang

bị thêm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, thả ni với mật độ cao 350.000 450.000 con/ha nên năng suất cũng tăng lên khoảng 50 tấn/ha.



Diện tích ni trồng cá tra tại tỉnh An giang từ giai đoạn 2010-2015 ( ha)

2010



2011



2012



2013



2014



2015



18.11%

13.61%



14.16%

17.26%

17.99%



13



18.87%



Sản lượng cá tra

270000

260000

250000

240000

230000

220000

210000



2010



2011



2012



2013



2014



2015



Sản lượng cá tra



Bảng số liệu:

Năm



Diện tích(ha)



Số lượng(tấn)



2010



999



231070



2011



960



267990



2012



1331.1



245690



2013



1269.25



242524



2014



1218



236218



2015



1278



248064



Theo báo cáo của Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến Thủy sản tỉnh An Giang (AFA),

tình hình sản xuất kinh doanh thủy sản của tỉnh trong 3 tháng đầu năm 2015 vẫn

tiếp tục trầm lắng, giá nguyên liệu vẫn giữ ổn định ở mức thấp, diện tích ni và



14



sản lượng tăng ít so cùng kỳ, tình hình dịch bệnh phát sinh đã ảnh hưởng sản xuất

của nông dân.

Sự ra đời của Nghị định 36, từ lâu đã được các doanh nghiệp và người nuôi cá tra

Việt Nam rất kỳ vọng. Tuy nhiên, từ khi bắt đầu triển khai thực hiện đến nay, Nghị

định 36 đã vấp phải sự phản ứng từ phía doanh nghiệp cá tra Việt Nam và đã có

kiến nghị sửa đổi, tập trung chủ yếu các vấn đề về tỷ lệ mạ băng, hàm ẩm và thủ

tục đăng ký xuất khẩu.

Tổng sản lượng thủy sản đến tháng tháng 3 năm 2015 là 52.000 tấn, bằng 104,8%

so cùng kỳ trong đó sản lượng cá tra là 44.000 tấn, bằng 102,1% so với cùng kỳ

năm 2014.

Cũng theo Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến Thủy sản tỉnh An Giang, giá nguyên

liệu đầu vào tăng bình quân 5- 15%, nên dù giá ngun liệu cá tra có tăng nhưng

nơng dân vẫn khơng đảm bảo có lãi, chưa thực sự yên tâm đầu tư sản xuất.

Thủy sản (cá tra, basa) xuất khẩu trong tháng 3, đạt 13 ngàn tấn tương đương kim

ngạch đạt trên 30,94 triệu USD. Cộng dồn 3 tháng đầu năm đạt 32,64 ngàn tấn

tương đương kim ngạch đạt 76,62 triệu USD, bằng 85,72% về sản lượng và bằng

85,14% về giá trị so cùng kỳ (giá xuất khẩu bình quân tháng 3/2015 đạt 2.380

USD/tấn, so tháng trước tăng 10 USD/ tấn, so cùng kỳ giá xuất hiện nay cao hơn

khoảng 80 USD/tấn).

Các thị trường xuất khẩu cá tra lớn của Việt Nam:

 Thị trường EU: là thị trường tiêu thụ chính của cá tra Việt Nam. Để xuất

khẩu được cá vào thị trường EU, cá chế biến phải đảm bảo tiêu chuẩn thực hành

sản xuất nông nghiệp tốt tồn cầu (Global GAP). Ngồi ra còn có SQF (bao gồm

SQF 2000 CM và SQF 1000 CM): tiêu chuẩn an toàn thực phẩm xác định các yêu

cầu cần thiết trong hệ thống quản lý chất lượng nhằm nhận diện các mối nguy đối

15



với an toàn thực phẩm và chất lượng cũng như thẩm tra/giám sát các phương thức

kiểm soát.

Cuối năm 2010, Cá tra Việt Nam bị các thành viên của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên

nhiên (WWF) ở 6 nước EU (Đức, Áo, Thuỵ Sỹ, Bỉ, Na Uy và Đan Mạch) chuyển

từ "danh sách da cam" (sản phẩm có thể cân nhắc sử dụng) sang "danh sách đỏ"

(sản phẩm không nên sử dụng). Sau hơn 1 tháng kể từ buổi ký kết Biên bản Thỏa

thuận hợp tác phát triển cá tra Việt Nam theo hướng bền vững, WWF ở các nước

EU đã cho cá tra Việt Nam ra khỏi danh sách đỏ. Tuy nhiên điều đó đã làm ảnh

hưởng đến hình ảnh cá tra Việt Nam trên thị trường thế giới. Tính từ đầu năm đến

giữa tháng 6 năm 2011, Việt Nam đã xuất 90.74 nghìn tấn cá tra (giảm 6.7% so với

cùng kỳ năm 2010), trị giá 242.737 triệu USD_chiếm 32.6% tổng giá trị kim ngạch

xuất khẩu cá tra.

Tuy nhiên, hiện nay cá tra Việt Nam đang gặp khó khăn lớn ở thị trường EU do ở

Anh đã phát hiện hàm lượng nước trong sản phẩm cao hơn so với tự nhiên, và tại

Canada phát hiện dư lượng kháng sinh trong các sản phẩm.

 Thị trường Mỹ: Tuy thị trường Mỹ là thị trường rất khó tính, đòi hỏi và đặt

ra nhiều tiêu chuẩn đối với mặt hàng cá tra nhập khẩu vào. Doanh nghiệp thủy sản

muốn được xuất khẩu vào Mỹ thì phải có HACCP (Hazard Analysis & Critical

Control Point – Phân tích các mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn – do

FAO/WHO ban hành). Bên cạnh đó còn có những rào cản thương mại đối với cá

tra, basa Việt Nam gây khơng ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu loại

thủy sản này như kiện chống bán phá giá cá tra, basa Việt Nam và Mỹ nâng mức

thuế chống bán phá giá đối với cá tra Việt Nam lên tới 130%. Nhưng sau khi Việt

Nam kiện Mỹ về việc áp dụng thuế CBPG thì đến cuối quý I và đầu quý II năm

2011, Mỹ đã giảm mức thuế CBPG xuống còn 0 – 0.2%. Điều đó dẫn đến giá trị



16



xuất khẩu cá tra sang Mỹ từ đầu năm đến 15/06/2011 đạt 118.686 triệu

USD_chiếm 15.9%.

 Thị trường Mehico: Trong những năm vừa qua, Mehico được đánh giá là thị

trường nhập khẩu lớn, ổn định và tiềm năng của cá tra, cá basa Việt Nam. Đây là

thị trường tiêu thụ các tra, cá basa lớn nhất khu vực Trung và Nam Mỹ. Tính đến

15/06/2011, giá trị nhập khẩu các tra, cá basa của Mehico lớn thứ 2 (đạt 46.59 triệu

USD) của Việt Nam chỉ sau Mỹ.



II. Đánh giá tình trạng phát triển kinh tế của tỉnh An Giang

Trong 5 năm qua, cùng với khó khăn chung của cả nước, kinh tế An Giang phải đối

mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân

dân gặp nhiều tác động bất lợi; thiên tai, dịch bệnh diễn biến bất thường. Tuy

nhiên, dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực của

các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của

tỉnh vẫn duy trì sự phát triển ổn định.

Ước mức tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm (2011 - 2015) đạt 8,63% (giá

so sánh 1994), mặc dù không đạt so Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần

thứ IX nhưng xét về giá trị tuyệt đối thì giai đoạn 2011 - 2015 tăng thêm 8.640 tỷ

đồng (giai đoạn 2006 - 2010 chỉ tăng 6.473 tỷ đồng), GDP bình quân đầu người

đến năm 2015 đạt 39,274 triệu đồng (tăng 17,336 triệu đồng so năm 2010; trong

khi giai đoạn 2006 - 2010 chỉ tăng 13,134 triệu đồng so năm 2005); cơ cấu kinh tế

chuyển dịch theo hướng tích cực, nhất là khu vực dịch vụ tăng từ 53,35% năm

2010 lên 60,29 % năm 2015, khu vực nơng nghiệp giảm từ 35,53% năm 2010

xuống còn 27,11% năm 2015, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 11,12%

năm 2010 lên 12,61% năm 2015.



17



III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.Kết quả đạt được

1.1.Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp

Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 2,64%, trong đó, lĩnh vực nơng nghiệp

tăng 3,1%, lĩnh vực thủy sản giảm 0,5%, lĩnh vực lâm nghiệp tăng 0,2%, đóng góp

vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,61% trong tổng số 8,63%.

Ngành Nông nghiệp không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản

xuất, các mơ hình liên kết được nhân rộng trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản;

mơ hình “Cánh đồng lớn” tiếp tục mở rộng diện tích, giúp người dân nâng cao thu

nhập, cải thiện cuộc sống, giúp doanh nghiệp tạo ra sản phẩm gạo với chất lượng

tốt hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước. Việc thực hiện Nghị quyết

số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy về “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh

An Giang giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” mang lại những kết

quả bước đầu với 11/29 mơ hình nơng nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên các

lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản.

Chương trình Phát triển nơng nghiệp, nơng dân, nông thôn đạt nhiều kết quả nổi

bật, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng giúp kinh tế của tỉnh vượt qua khó

khăn, hai mặt hàng nơng nghiệp chủ lực của tỉnh (lúa gạo, cá tra) đạt giá trị kim

ngạch xuất khẩu cao. Diện mạo nông thôn của tỉnh thay đổi đáng kể, kết cấu hạ

tầng thiết yếu từng bước cải thiện, đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt

của người dân. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân đầu người tăng, trình độ

dân trí, tay nghề của người dân nơng thơn được nâng lên. Đến cuối năm 2015, dự

kiến có 12 xã đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới.

1.2. Khu vực công nghiệp - xây dựng

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I.Đánh giá tình trạng sản xuất của mặt hàng xuất khẩu cá tra tại An Giang

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×