Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU:

Tải bản đầy đủ - 0trang

khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa

khoa, hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh.

- Người có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở

KCB tuyến xã chuyển tuyến đến bệnh viện huyện.

- Thông tư số 40/2015 quy định người có thẻ bảo hiểm y tế được bệnh viện

tuyến huyện chuyển tuyến đến trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh hoặc BV đa

khoa, BV chuyên khoa, viện chuyên khoa tuyến tỉnh cùng hạng hoặc hạng thấp

hơn.

- Trường hợp cấp cứu:

+ Người bệnh được cấp cứu tại bất kỳ cơ sở KCB nào.

+ Sau giai đoạn điều trị cấp cứu, người bệnh được chuyển vào điều trị nội trú tại

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã tiếp nhận cấp cứu người bệnh hoặc được

chuyển đến cơ sở KCB khác để tiếp tục điều trị hoặc được chuyển về nơi đăng

ký khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu sau khi đã điều trị ổn định.

- Trường hợp người bệnh được chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT có

bệnh khác kèm theo, bệnh được phát hiện hoặc phát sinh ngoài bệnh đã ghi trên

giấy chuyển tuyến, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi tiếp nhận người bệnh thực

hiện việc KCB đối với các bệnh đó trong phạm vi chun mơn.

- Theo Thơng tư 40/2015/TT-BYT, trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế đi

công tác, học tập, làm việc lưu động hoặc tạm trú dưới 12 tháng tại địa phương

khác thì được khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

trên địa phương đó tương đương với tuyến của cơ sở KCB ban đầu ghi trên thẻ

bảo hiểm y tế. Trường hợp địa phương đó khơng có cơ sở y tế tương đương thì

người tham gia bảo hiểm y tế được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác

có tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu.

2.3. Các thông tư liên quan:

2.3.1. Thông tư 37/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2014:

Thông tư 37/2014/TT-BYT hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu

và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT.

Tại điều 8 của thông tư này quy định:

- Người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế được chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh

theo quy định của Bộ Y tế về việc chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh.

5



- Người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã chuyển tuyến đến bệnh viện huyện đã được

xếp hạng là bệnh viện hạng I, hạng II thuộc huyện nơi người tham gia bảo hiểm

y tế cư trú được xác định là đúng tuyến.

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám

bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã hoặc phòng

khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh

bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa, hoặc bệnh viện

tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh.

- Đối với trường hợp cấp cứu, sau giai đoạn điều trị cấp cứu, người bệnh được

chuyển vào điều trị nội trú tại các khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi tiếp

nhận người bệnh hoặc được chuyển tuyến đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

khác để tiếp tục điều trị theo yêu cầu chuyên môn.

2.3.2. Thông tư 14/2014/TT-BYT ngày 14 tháng 4 năm 2014:

Thông tư này quy định việc chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Điều kiện chuyển tuyến tại điều 5:

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển người bệnh từ tuyến dưới

lên tuyến trên khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị, danh

mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt hoặc bệnh phù hợp

với năng lực chẩn đoán và điều trị, danh mục kỹ thuật của cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền về y tế phê duyệt nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh đó khơng đủ điều kiện để chẩn đoán và

điều trị;

+ Căn cứ vào danh mục kỹ thuật đã được cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền về y tế phê duyệt, nếu cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh tuyến trên liền kề khơng có dịch vụ kỹ thuật phù hợp thì

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới được chuyển lên tuyến

cao hơn;

+ Trước khi chuyển tuyến, người bệnh phải được hội chẩn và có

chỉ định chuyển tuyến (trừ phòng khám và cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh tuyến 4).

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển người bệnh từ tuyến trên

về tuyến dưới phù hợp khi người bệnh đã được chẩn đoán, được

6



điều trị qua giai đoạn cấp cứu, xác định tình trạng bệnh đã

thuyên giảm, có thể tiếp tục điều trị ở tuyến dưới.

- Điều kiện chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh cùng tuyến:

+ Bệnh không phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về

y tế phê duyệt hoặc bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền về y tế phê duyệt nhưng do điều kiện khách quan

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khơng đủ điều kiện chẩn đốn và

điều trị;

+ Bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh cùng tuyến dự kiến chuyển đến đã được cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt.

- Chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên các

địa bàn giáp ranh để bảo đảm điều kiện thuận lợi cho người

bệnh:

+ Giám đốc Sở Y tế hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến đối với

các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh trong

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản

lý;

+ Giám đốc các Sở Y tế thống nhất, phối hợp hướng dẫn cụ thể

việc chuyển tuyến đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên

địa bàn giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương thuộc thẩm quyền quản lý.

- Các trường hợp chuyển người bệnh theo đúng quy định tại các

khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này được coi là chuyển đúng tuyến. Các

trường hợp chuyển người bệnh không theo đúng quy định tại

các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này được coi là chuyển vượt tuyến.

Trường hợp người bệnh không đáp ứng điều kiện chuyển

tuyến theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này nhưng

người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp của người bệnh vẫn

yêu cầu chuyển tuyến thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh giải

quyết cho người bệnh chuyển tuyến để bảo đảm quyền lựa

chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh. Cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh nơi chuyển người bệnh đi phải cung cấp thông

tin để người bệnh biết về phạm vi quyền lợi và mức thanh tốn

7



chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế khi khám bệnh,

chữa bệnh không theo đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật.

2.3.3 Hướng dẫn số 52 HD/BTCTW ngày 02 tháng 12 năm 2005 của

Ban Tổ chức Trung ương Đảng

Hướng dẫn số 52 HD/BTCTW ngày 02 tháng 12 năm 2005 của Ban tổ

chức Trung ương Đảng hướng dẫn về việc điều chỉnh, bổ sung đối tượng được

đăng kí KCB ban đầu tại một số cơ sở y tế của trung ương, cụ thể là tại Bệnh

viện Hữu Nghị (Hà Nội), Bệnh viện Thống Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh),

Bệnh viện C (Đà Nẵng).

2.4. Một số báo cáo, nghiên cứu liên quan:

Thông tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) là người có BHYT

được lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh tốt nhất, thuận tiện nhất từ tuyến huyện

trở xuống trên địa bàn tỉnh hoặc tại các bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn toàn

quốc mà không cần phải đến nơi khám chữa bệnh ban đầu. Ngày 1/3, tại Nhà

Quốc hội, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức phiên họp toàn thể lần

thứ 5 nghe Bộ trưởng Bộ Y tế, Tổng giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam giải

trình về việc triển khai thực hiện lộ trình thơng tuyến trong khám, chữa bệnh

bảo hiểm y tế.

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến: số lượt khám, chữa bệnh

BHYT năm 2015 có 130 triệu lượt; tần suất khám, chữa bệnh trung bình là 1,85

lần/người/năm. Năm 2016, có 148 triệu lượt người; tần suất khám, chữa bệnh

trung bình là 1,89 lần/người/năm. Tần suất khám, chữa bệnh này phù hợp với

nhu cầu chăm sóc sức khỏe, tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh của người dân.

Chỉ số này tương đối ổn định trong nhiều năm qua (trung bình một người đi

khám chữa bệnh 2 lần/ năm). Điều này cho thấy việc thông tuyến không làm

gia tăng số lượt khám chữa bệnh chung.[5]

Tổng Giám đốc BHXH Nguyễn Thị Minh cho biết: năm 2015, số thẻ

BHYT đã đạt gần 70 triệu thẻ, bao phủ 76,2% dân số cả nước. Đến năm 2016,

số người tham gia đạt xấp xỉ 76 triệu người (tăng 8,3% so với 2015), bao phủ

81,7% dân số. Con số đó, theo phân tích, cho thấy người dân đã tin tưởng và

nhận thấy lợi ích của chính sách BHYT.[5] Sau đây là tỷ lệ dân số tham gia

BHYT qua các năm:



8



Tỷ lệ dân số tham gia BHYT qua các năm

90

81.7

80



76.2



70



66.44

60.92



60

50



71



43.9



43.76



2006



2008



40

30

21.1

20

10

0

2004



Column2

2010



2012



2014



2015



2016



(Theo Niên giám y tế năm 2014)



Theo thông tin tại của Sở y tế Bà Rịa-Vũng Tàu, tại Trung tâm Y tế

(TTYT) huyện Xuyên Mộc, quý I-2016, có 41.500 lượt bệnh nhân đến khám

chữa bệnh (KCB), tăng 30% so với cùng kỳ năm 2015. Trong số đó, có tới 20%

trên tổng số lượt KCB đăng ký BHYT ban đầu tại các tuyến xã lên khám. Trong

khi đó, số lượt bệnh nhân đến khám BHYT tại các trạm y tế lại giảm 20% so với

cùng kỳ năm 2015, đặc biệt là tại các trạm y tế ở gần TTYT huyện Xuyên Mộc.

Ngược lại, những trạm y tế ở cách xa TTYT huyện (từ 10km trở lên) có điều

kiện trang bị tốt hơn thì lại tăng số lượt bệnh nhân đến khám. Bác sĩ Hồ Văn

Hải, Giám đốc TTYT huyện Xuyên Mộc cho biết, việc thông tuyến BHYT đã

tạo điều kiện thuận lợi cho người KCB tại tuyến xã có thể lên thẳng tuyến

huyện để KCB mà không cần phải làm giấy chuyển tuyến. Khi được thơng

tuyến trên cùng một địa bàn, người có thẻ BHYT sẽ chọn nơi KCB có điều kiện

hơn. Do đó lượt bệnh nhân di chuyển từ tuyến xã lên tuyến huyện tăng, làm cho

Trung tâm y tế huyện vốn đã quá tải nay càng thêm quá tải.[6]

Số lượng bệnh nhân đến KCB BHYT tăng cao nhất sau khi thông tuyến

KCB BHYT phải kể đến là các phòng khám đa khoa tư nhân. Thống kê của

BHXH tỉnh cho thấy, 3 tháng đầu năm nay, số lượt KCB ở các phòng khám đa

khoa tư nhân bình quân tăng 78,02%. Bên cạnh đó, chi phí KCB BHYT của các

phòng khám cũng tăng khoảng 79,21% (so với cùng kỳ). Theo khảo sát ý kiến

bệnh nhân, sở dĩ các phòng khám tư nhân thu hút họ đến KCB là do những cơ

sở này có đội ngũ bác sĩ kinh nghiệm, bệnh nhân được phục vụ tận tình, niềm

nở khi đến KCB.

9



Số liệu thống kê của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam cho thấy, tần

suất khám, chữa bệnh bằng BHYT tại các cơ sở tuyến huyện trong năm qua đã

tăng lên gần 20% so với năm 2015. Và sau một thời gian thực hiện thơng tuyến,

cơ sở khám, chữa bệnh nào có chất lượng tốt thì thu hút được nhiều người đến

khám hơn. Ngược lại, một số bệnh viện tuyến huyện lại giảm số bệnh nhân do

chất lượng chưa tốt như ở Quảng Nam, Bắc Giang… Thông tuyến khám, chữa

bệnh cũng làm tăng mức độ hấp dẫn của chính sách BHYT, thu hút người dân

tham gia BHYT, thúc đẩy lộ trình BHYT tồn dân. Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Y

tế và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cũng đã chỉ ra hàng loạt bất cập khi thực hiện

quy định thông tuyến, nhất là tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT có xu

hướng ngày càng gia tăng. Có nhiều cơ sở khám, chữa bệnh cạnh tranh để thu

hút người có bảo hiểm đến khám không đúng quy định như tặng quà khuyến

mại, tặng vé xe ô tô, chỉ định tăng các xét nghiệm cận lâm sàng, nhất là các dịch

vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, các loại thuốc đắt tiền…

Đại biểu Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học và Truyền máu

Trung ương chia sẻ: BHYT là vấn đề sống còn của người dân. Việc thông tuyến

đã tạo điều kiện để người dân chăm lo sức khỏe của mình, vấn đề quản lý tốt,

tránh bị trục lợi là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng, vấn đề thông tuyến là

đảm bảo quyền lợi của người dân khi khám, chữa bệnh nhưng thông tuyến đã

tạo ra hệ lụy là vượt tuyến lớn, quá tải tuyến trên, bỏ tuyến dưới và chi phí tăng

lên. Giải pháp đột phá được Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đưa ra là tăng

cường cho y tế cơ sở, đổi mới về phương thức hoạt động, cơ chế tài chính, đầu

tư cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường hơn hoạt động chăm

sóc sức khỏe ban đầu và dự phòng, quản lý hồ sơ cá nhân và mơ hình bác sỹ gia

đình… Như vậy, mới có thể tạo phân tuyến tốt.

Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh khẳng định, ứng

dụng công nghệ thơng tin là vấn đề sống còn để quản lý, giám định BHYT, hạn

chế trục lợi, thực hiện tốt việc quản lý Quỹ BHYT. Do những điều kiện chuẩn bị

chưa đầy đủ nên khi thông tuyến huyện đã xảy ra tình trạng lạm dụng, trục lợi.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Thông tuyến là chủ trương

đúng đắn vì quyền lợi của người dân. Lần đầu chúng ta thực hiện nên có khơng

ít khó khăn, có xuất hiện hiện tượng tiêu cực nhưng khơng vì thế mà làm lùi

quyết tâm thông tuyến khám, chữa bệnh tuyến huyện mà cần phải thơng tuyến

sớm ngày nào tốt hơn ngày đó cho người dân”.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý, khơng vì thơng tin có hiện tượng khám vượt

tuyến nhiều và các khó khăn khác mà đặt ngược lại vấn đề thơng tuyến. Bởi lẽ,

các con số đều “biết nói” rằng khi thực hiện thơng tuyến, người dân được hưởng

lợi. Do đó, Chính phủ quyết tâm đẩy mạnh vấn đề này. Cũng theo Phó Thủ

tướng, Bộ Y tế phải ban hành được gói dịch vụ y tế mới dùng được tiền quỹ

10



BHYT để chi trả, phải vận dụng các chính sách để lo cho dân, phấn đấu nhanh

nhất có thể để mọi người dân được kiểm tra sức khỏe thường xuyên.

3. NHẬN XÉT:

3.1. Ưu điểm:

3.1.1. Đối với người tham gia BHYT:

- Mở rộng quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi đi khám chữa

bệnh, người dân được quyền khám bất cứ chỗ nào.

- Người có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám chữa bệnh ban đầu ở trạm y tế phạm

vi tuyến xã, phòng khám đa khoa khu vực hoặc các bệnh viện huyện có thể lựa

chọn bất kỳ một cơ sở khám chữa bệnh nào để đi khám. Hay nói cách khác là

thơng các cơ sở y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh.

- Trên phạm vi tồn quốc, nếu người có thẻ bảo hiểm y tế đi khám chữa bệnh

ban đầu ở bệnh viện tuyến huyện nào cũng được đảm bảo quyền lợi theo quy

định của Luật trong phạm vi mức hưởng.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám chữa bệnh cho người dân ở khu vực

khó khăn về giao thơng, kinh tế,… như các xã, huyện miền núi, hải đảo,…

- Người tham gia bảo hiểm y tế có thêm cơ hội tiếp cận và lựa chọn cơ sở khám

chữa bệnh đáp ứng nhu cầu.

3.1.2. Đối với các cơ sở KCB:

- Việc thông tuyến khám chữa bệnh đã giúp gia tăng số lượng khám chữa bệnh

bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện đặc biệt là các cơ sở có

chất lượng tốt.

- Thơng tuyến KCB BHYT còn là động lực để các cơ sở KCB tuyến xã, huyện

mạnh dạn thay đổi, quyết tâm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế bằng việc đầu tư

đúng mức về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị để thu hút sự lựa chọn của

người dân.

3.2. Bất cập:

- Tình trạng lạm dụng trục lợi quỹ BHYT có xu hướng ngày càng gia tăng:

+ Xuất hiện tình trạng nhiều người có bảo hiểm đi khám, chữa bệnh nhiều lần

trong ngày, tuần, tháng để lấy thuốc. Theo số liệu thống kê của BHXH, từ tháng

7/2016 đến tháng 2/2017, có trên 1,2 triệu người tham gia BHYT đi khám, chữa

bệnh từ 2 lần trở lên mỗi tháng; 3 triệu lượt khám nhiều lần trong cùng ngày,

11



nhiều lần trong tháng. Thậm chí, có trường hợp đi khám, lấy thuốc đến trên 300

lần ở 23 nơi trong 8 tháng (ở TP Hồ Chí Minh) hay đi khám 160 lần tại 20 cơ sở

khác nhau chỉ trong 3 tháng cuối năm 2016.

+ Một số cơ sở y tế lợi dụng để tiếp nhận và làm thủ tục chuyển người bệnh lên

tuyến trên nhằm hưởng chế độ BHYT đúng tuyến.

+ Một số bệnh viện tuyến tỉnh đã xin xuống tuyến huyện để được áp dụng quy

định thông tuyến.

- Tình trạng cạnh tranh khơng lành mạnh của các cơ sở y tế:

+ Một số cơ sở y tế có những biểu hiện tiếp thị trong khám chữa bệnh, nhằm thu

hút người đến khám như: tặng quà khuyến mại, tặng vé xe ô tô, chỉ định tăng

các xét nghiệm cận lâm sàng, nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, các

loại thuốc đắt tiền… khơng cần thiết cho người bệnh

- Hạn chế hoạt động của trạm y tế xã, phường:

+ Việc thông tuyến làm giảm hẳn số lượt người có thẻ BHYT đi khám chữa

bệnh tại trạm y tế xã (năm 2016 giảm 14,1% so với năm 2015). Người dân

không lựa chọn tuyến xã mà lên thẳng các cơ sở KCB tuyến huyện vì điều kiện

KCB tốt hơn. Điều này khơng chỉ ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước là

hướng về y tế cơ sở mà còn làm:

 Gia tăng chi phí khám chữa bệnh (do tăng số lượt KCB ở tuyến trên,

trong khi chi phí tại tuyến xã khơng giảm), làm lãng phí về nguồn lực của

xã hội.

 Gây quá tải tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện, về phía người

bệnh thì họ bị thiệt thòi, khơng được chăm sóc kĩ lưỡng, về phía bệnh

viện cán bộ y tế thì phải làm tăng khối lượng công việc.

- Hạn chế hoạt động với một số cơ sở KCB khơng có vị trí địa lý thuận lợi, chưa

được đầu tư trang, thiết bị, nhân lực... khiến họ gặp khó khăn, do người bệnh

khơng lựa chọn bệnh viện của họ để đến khám và điều trị.

- Gây khó khăn cho việc thực hiện phương thức thanh tốn BHYT theo định

suất:

Bởi vì quy định quỹ định suất xác định cho các cơ sở KCB bao gồm cả

chi phí của bệnh nhân đăng kí ban đầu tại đó đi KCB ở nơi khác. Khi người

bệnh chọn nơi KCB là cơ sở khác với đăng kí ban đầu sẽ làm quỹ KCB của một

số cơ sở y tế sẽ bị bội chi lớn do tăng phí đa tuyến.

- Tạo ra tình trạng “xin-cho” giấy chuyển viện, cơ sở KCB chuyển tuyến theo

đề nghị của người bệnh trong khi cơ sở mình chữa được bệnh đó. Tình trạng

12



này nếu khơng kiểm sốt tốt khơng những khơng giảm tải cho y tế tuyến trên

mà còn làm gia tăng chi phí KCB BHYT do càng KCB tuyến trên thì giá dịch

vụ càng cao, cả người bệnh và quỹ BHYT cùng phải chi trả càng nhiều.

- Thông tuyến KCB cũng ảnh hưởng lớn đến các bệnh viện chuyên khoa tuyến

tỉnh, bệnh viện y học cổ truyền trong việc thiếu người bệnh để duy trì hoạt

động.

4. ĐỀ XUẤT:

Đứng trước những bất cập của chính sách thơng tuyến khám chữa bệnh Bảo

hiểm Y tế, nhóm em xin đưa ra một số kiến nghị:

- Cần tăng cường đầu tư về cả nhân lực, vật lực, tài lực cho y tế tuyến xã, huyện

nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, khám chữa bệnh cho người dân, tăng niềm

tin của người dân với y tế cơ sở ở địa phương.

- Cơ sở y tế các địa phương cần có giải pháp thu hút người bệnh ở tuyến xã,

huyện 1 cách thiết thực hiệu quả. Tăng cường hơn hoạt động chăm sóc sức khỏe

ban đầu và dự phòng, quản lý hồ sơ cá nhân và mơ hình bác sỹ gia đình.

- Đổi mới về phương thức hoạt động, cơ chế tài chính để tránh tình trạng có

bệnh viện thì q tải, có bệnh viện lại khơng có bệnh nhân, đảm bảo phân tuyến

tốt.

- Nâng cấp trình độ, chất lượng phục vụ của y bác sĩ và cả bộ phận hành chính

nhằm tăng sự hài lòng của bệnh nhân.

- Sử dụng phần mềm tin học để quản lý việc khám chữa bệnh BHYT, thông

tuyến chuyển tuyến nhằm thực hiện khoa học, tránh lạm dụng, trục lợi, tiết kiệm

thời gian và thuận lợi cho bệnh nhân, thực hiện tốt việc quản lý quỹ BHYT.

- Tiến đến thông tuyến đối với các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh trên phạm

vi cả nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thông tư số 40/2015/TT-BYT ngày 16 tháng 11 năm 2015

2. Thông tư 37/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2014

3. Thông tư 14/2014/TT-BYT ngày 14 tháng 4 năm 2014

4. Luật bảo hiểm y tế 2008



13



5. Cổng thông tin điện tử Bắc Giang, Phiên giải trình về thơng tuyến khám,

chữa bệnh bảo hiểm y tế

6. Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×