Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Những vấn đề đạt được:

1 Những vấn đề đạt được:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc tiếp cận vốn của DNNVV còn rất nhiều trắc trở do không đáp ứng được những điều

kiện vay vốn dù lãi suất đã giảm. Việc giảm lãi suất không giúp được những DN đang rơi

vào tình trạng khó khăn, tình trạng tài chính khơng đủ chuẩn, khơng có tài sản để đảm

bảo. Các doanh nghiệp với quy mô nhỏ, tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn, TS đảm

bảo khơng có hoặc đã đem đi thế chấp từ những khoản vay cũ. Các DNNVV chưa thoát

được nợ cũ để vay nguồn vốn mới. Mặc dù đã có những ngân hàng chủ động tạo điều

kiện cho các DN vay không cần tài sản thế chấp tuy nhiên điều kiện phải có doanh thu từ

20 tỷ trở lên (đa phần những đối tượng không đủ điều kiện là các DNNVV).

Gia hạn nợ chỉ là giải pháp tạm thời để doanh nghiệp qn đi khó khăn chứ khơng thể

khiến doanh nghiệp khỏe lên. Thực tế nhiều doanh nghiệp khơng còn mặn mà đi vay.

Như vậy khả năng tiếp cận vốn của những DN vẫn còn rất hạn chế.

Qua khảo sát của Viện Phát triển DN (Phòng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam) cho

thấy, 55% trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn

giản cho các DNNVV); 50% trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế

chấp, ngân hàng khơng đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản

thu…); 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp; Các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp

với DNNVV. . Do đó vấn đề tiếp cận vốn của DN vẫn chưa mạnh mẽ để hỗ trợ tăng sức

mua và giải phóng hàng tồn kho. Việc giải quyết tồn tại như nợ xấu, giảm thuế thu nhập

DN, thủ tục vay…chưa được triệt để.

-



Về giải pháp thuế



Tuy nhiên, giải pháp về Thuế vẫn còn nhiều hạn chế như tính lan tỏa chưa cao. Việc miễn

giảm thuế TNDN chỉ đem lại lợi ích cho những DN có lợi nhuận trong khi những DN

đang thực sự khó khăn đứng trước bờ vực phá sản lại không được hưởng lợi từ chính

sách này.

Trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay, nhiều chuyên gia đánh giá việc gia hạn nộp

thuế cho DN là đã muộn khi nhiều DN đã thua lỗ chẳng còn gì để nộp thuế. Ngồi ra,

việc giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) là liều thuốc chưa đủ mạnh để các công ty hạ giá

thành, giá bán, vì đầu vào của sản xuất còn nhiều thứ khác, trong khi niềm tin của người

tiêu dùng suy giảm, sức mua yếu thì hàng tồn kho của DN vẫn khơng giảm được đáng kể.

Ngồi ra, việc chính sách thuế thay đổi liên tục mà thiếu đồng bộ khi triển khai khiến DN

gặp rắc rối trong quá trình tuân thủ thực hiện. DN thuộc diện được hoàn thuế nhưng lại

chậm được giải quyết hồ sơ cũng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh do

thiếu vốn.



[Type text]



Page 13



CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM THÁO GỠ

KHÓ KHĂN CHO CÁC DNNVV Ở VIỆT NAM

1. Nguyên nhân những khó khăn của DNNVV

1.1 Nguyên nhân khách quan

Sự suy giảm, biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thị

trường bất động sản, chứng khốn đóng băng, hàng hóa tồn kho ứ đọng không tiêu thụ

được làm cho lợi nhuận giảm, ảnh hưởng nặng nề đến khả năng tái sản xuất kinh doanh

của DNNVV.

Thủ tục phức tạp cũng gây nên khó khăn nhất định cho DNNVV, điển hình là việc tiếp

cận nguồn vốn ưu đãi. Qua khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi cho

thấy có đến 40% trong số 100 doanh nghiệp e ngại khi phải vượt qua quá nhiều thủ tục

rườm rà, rắc rối, mất rất nhiều thời gian từ phí các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi. Thêm

vào đó, các kết quả khảo sát cũng cho thấy các chính sách cung cấp ưu đãi tín dụng cho

các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn nhận ưu đãi là chưa đủ minh bạch và cũng khơng được

cập nhật một cách cơng khai. Có tới 55% số doanh nghiệp trả lời rằng họ không hề có

thơng tin về các khoản vay ưu đãi và khơng rõ thủ tục để được xin vay.

Khó khăn của các doanh nghiệp cũng đến từ phía các TCTD, đặc biệt là các NHTM.

Trong lúc nền kinh tế vẫn đang khó khăn như hiện nay thì việc cẩn trọng khi cho vay là

rất cần thiết. Tuy nhiên, các NHTM vẫn còn có sự phân biệt đối xử giữa các DN lớn với

các DNNVV. Các NHTM cho rằng, khi cho các DN lớn hoặc DN có phần vốn góp của

nhà nước, họ sẽ phải chịu mức độ rủi ro thấp, đặc biệt đối với DN có vốn nhà nước, nếu

các DN này khơng có khả năng trả nợ thì còn có nhà nước đứng đằng sau hỗ trợ, bao bọc.

Còn đối với DNNVV quy mơ vốn nhỏ le thì các khoản nợ sẽ khó được đảm bảo.

Ngồi ra, một ngun nhân nữa khiến doanh nghiệp gặp khó khăn xuất phát từ trình độ

hiểu biết và kinh nghiệm của nhiều cán bộ thẩm định còn hạn chế do chưa được đào tạo

căn bản, thiếu thông tin nên chất lượng thẩm định dự án vay vốn còn chưa cao. Nhiều dự

án tiềm ẩn rủi ro nhưng cán bộ NHTM vẫn chấp nhận cho vạy, ngược lại, nhiều dự án

khả thi nhưng do thiếu thông tin, chưa cập nhật và khả năng dự báo thấp nên có thể từ

chối cho vay làm lỡ cơ hội kinh doanh của các DNNVV.

1.2 Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân lớn nhất cho những khó khăn phải bắt nguồn từ chính yếu tố nội tại doanh

nghiệp. DNNVV còn rất nhiều thiết xót và yếu điểm:

- Phần lớn các DNNVV chưa chủ động xây dựng chiến lược phát triển lâu dài và

còn thiếu kế hoạch kinh doanh, đào tạo, quản lý cụ thể. Một số lớn các DNNVV lập

phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan, áp

đặt của lãnh đạo DN, hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần túy; nội dung của phương án kinh

doanh, kế hoạch sản xuất đôi khi được thiết lập sơ sài nên thiếu thuyết phục kho xem xét

thẩm định cho vay.

[Type text]



Page 14



- Việc công khai tài chính của các DNNVV còn thiếu minh bạch nên chưa tạo

lòng tin với ngân hàng, kiến các ngân hàng buộc DNNVV phải đáp ứng các yêu cầu khắt

khe hơn so với các DN lớn về tài sản thế chấp. Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty

TNHH, tài sản pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất

khó thẩm định giá về năng lực thực sự của khách hàng; hệ thống sổ sách kế toán, nội

dung và phương pháp hạch toán kế tốn của doanh nghiệp thương khơng đầy đủ, thiếu

chính xác và thiếu minh bạch. Vì thế, đơi khi trong các đơn vị cần vốn để đầu tư phát

triển thì các TCTD vẫn nhìn nhận rằng rủi ro rất cao khi cho các DNNVV vay vốn.

- Trình độ cũng như kỹ năng quản lý của đội ngũ các nhà quản trị DNNVV còn

thấp, nhận thức của họ còn nhiều bất cập về quản trị kinh doanh hiện đại như chiến lược

khinh doanh, quản trị định hướng chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, lao động, maketing,

chi phí kinh doanh,… Cách quản lý của nhiều DNNVV (đa số là DNTN) còn chưa khoa

học, mang nặng tính gia đình, khơng tn theo những chuẩn mực của phương thức quản

lý doanh nghiệp hiện đại. Còn nhiều chủ doanh nghiệp, tự làm tự học, ít được đào tạo bài

bản về quản lý và nghiệp vụ kinh doanh.

- Hầu hết máy móc thiết bị trong các DNNVV đều đã cũ kỹ và lạc hậu nhưng vẫn

được sử dụng để sản xuất nên sản phẩm làm ra kém khả năng cạnh tranh về mẫu mã, giá

cả do mức tiêu hao nguyên liệu cho một sản phẩm và tỷ lệ phế phẩm đều cao. Trên thực

tế, có rất nhiều DN hiện đang sử dụng trang thiết bị không đồng bộ và pha tạp do nhiều

nước sản xuất. Có nhiều nguyên nhân làm cho các DNNVV không đầu tư được máy móc

thiết bị hiện đại nhưng nguyên nhân đáng kể nhất hiện nay là tình trạng huy động vốn tín

dụng của hầu hết doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là rất khó khăn, muốn vay được phải

có tài sản thế chấp nhưng đối với DNNVV , việc có được tài sản để thế chấp vay những

khoản tín dụng lớn là hết sức nan giải. Nói chung, dù doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới

thiết bị nhưng nếu khơng có sự hỗ trợ về mặt tài chính thì tự bản thân doanh nghiệp cũng

khó long thực hiện được.

- Thêm một nguyên nhân nữa có tác động đến hiệu quả hoạt dộng của DNNVV là

việc ứng dụng thương mại điện tử vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thương mại

điện tử sẽ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với các DNNVV do lâu nay họ ít có cơ hội

giao dịch, thiếu thông tin, thiếu đối tác. Thương mại điện tử sẽ đẩy nhanh hơn tiến độ

tồn cầu hóa nền kinh tế Việt Nam nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Tuy nhiên thực

tế các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được tiện ích của những thương mại điện tử

để rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong khi đó, tiềm

năng và lợi tích do thương mại điện tử mang lại cho các DNNVV là rất lớn, các doanh

nghiệp xuất khẩu có thể lấp đầy các cửa hàng ảo với chi phí thấp so với cửa hàng thực ở

nước ngồi. Như vậy, DNNVV sẽ ít dựa vào người trung gian hơn và còn có thể quảng

cáo, tun truyền thơng qua internet.

[Type text]



Page 15



Khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay từ NHTM của các DNNVV đến từ cả nguyên nhân

khách quan và nguyên nhân chủ quan. Đặc trưng của khối doanh nghiệp này là quy mô

nhỏ, khả năng sinh lời để tái đầu tư ít, trong khi chưa thể huy động vốn trên thị trường

thơng qua chứng khốn, cổ phiếu hay trái phiếu. Đồng thời việc tìm đầu ra tiêu thụ sản

phẩm cuảng là bài tốn rất nan giải. Có thể tóm tắt ngun nhân trong việc các doanh

nghiệp khơng tiếp cận được vốn vay như biểu đồ dưới đây:



2. Định hướng và mục tiêu phát triển DNVVN của Nhà nước đến năm 2015

2.1 Định hướng phát triển

Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011 - 2015 đã được cụ thể hoá qua quyết định

1231/QĐ-TTg ngày 7/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ, với nhiệm vụ trọng tâm là phát

triển kinh tế của quốc gia, bao gồm:

[Type text]



Page 16



- Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là chiến lược lâu dài, nhất quán và xuyên

suốt trong chương trình hành động của Chính phủ, là nhiệm vụ trọng tâm trong chính

sách phát triển kinh tế của quốc gia.

- Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi cho

doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh

lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển.

- Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo phương châm tích cực, vững chắc,

nâng cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, bảo vệ mơi trường, góp

phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích

phát triển cơng nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn;

ưu tiên phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người

tàn tật v.v... làm chủ doanh nghiệp; chú trọng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ, sản xuất một số lĩnh vực có khả năng cạnh

tranh cao.

- Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm thực hiện các mục tiêu quốc

gia, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.

* Theo Chỉ thị Số: 06/CT-NHNN ban hành ngày 9/11/2012, Thống đốc NHNN đã định

hướng cho các NHTM trong việc cấp tín dụng cho đối tượng khách hàng nói chung và

cho DNNVV nói riêng:

1. Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp huy động vốn, chủ động cân đối

giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo thanh khoản, đáp ứng kịp thời nhu cầu

tín dụng đối với nền kinh tế, các nhu cầu thanh toán.

2. Thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả để hỗ trợ tăng trưởng kinh

tế ở mức hợp lý và góp phần kiềm chế lạm phát theo chỉ đạo của Chính phủ, tăng

cường kiểm sốt chất lượng tín dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh và đảm bảo

an tồn hệ thống:

- Điều hành hoạt động tín dụng theo quy định của pháp luật và trên cơ sở

đánh giá thực trạng, khả năng mở rộng tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và

đảm bảo an tồn tín dụng; bố trí nguồn vốn để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng đối

với nền kinh tế; ưu tiên tập trung vốn phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản

xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao

động, dự án, phương án có hiệu quả.

[Type text]



Page 17



- Nghiên cứu để xem xét triển khai các gói sản phẩm tín dụng dựa trên các

chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí hoạt động

cho vay, hỗ trợ khách hàng vay vốn đầu tư, sản xuất - kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm,

như cho vay theo chuỗi người nuôi, thu mua, chế biến thủy sản xuất khẩu, cho vay liên

kết giữa chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp vật liệu xây dựng và người mua

nhà.

- Tổ chức, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, như: Chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nơng

nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của

Chính phủ; chính sách cho vay đối với chăn ni, cá tra theo chỉ đạo của Thủ tướng

Chính phủ tại cơng văn số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012; chính sách hỗ trợ nhằm giảm

tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản theo quy định tại Quyết định

số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày

02/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ; cho vay thu mua, tạm trữ lương thực, cà phê...

- Tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ

tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín

dụng ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời góp phần hỗ trợ doanh

nghiệp và người dân duy trì, phát triển sản xuất - kinh doanh, như cơ cấu lại thời hạn trả

nợ (điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ), miễn, giảm lãi vốn vay trên cơ sở khả năng tài

chính của tổ chức tín dụng... Trường hợp phát sinh khó khăn vướng mắc về cơ chế, chính

sách, thì báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để xem xét, xử lý kịp thời.

2.2 Mục tiêu phát triển

- Mục tiêu tổng quát:

Đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và

vừa, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các doanh nghiệp nhỏ

và vừa đóng góp ngày càng cao vào phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc

gia và hội nhập kinh tế quốc tế.

- Mục tiêu cụ thể:

+ Số doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới giai đoạn 2011 - 2015 dự kiến đạt 350.000

doanh nghiệp; tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2015 cả nước có 600.000 doanh

nghiệp đang hoạt động;

+ Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 25% tổng

kim ngạch xuất khẩu toàn quốc;

[Type text]



Page 18



+ Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;

+ Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 40% GDP; 30% tổng thu ngân

sách nhà nước;

+ Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo thêm khoảng 3,5 - 4 triệu chỗ làm việc mới trong giai

đoạn 2011 - 2015.

3. Đề xuất một số nhóm giải pháp tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho các

DNNVV ở Việt Nam

3.1 Giải pháp về tín dụng

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo ví von rằng: “Nền kinh tế là cơ thể,

doanh nghiệp là tế bào, vốn là máu. Thiếu máu cơ thể sẽ yếu, chính vì thế vấn đề cốt lõi

vẫn phải giải quyết được nguồn vốn”.

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục cung ứng vốn qua nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ tái

cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, điều hành chính sách tiền

tệ linh hoạt để điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, nhằm tạo điều kiện tối đa để

những doanh nghiệp vừa và nhỏ được ưu tiên về vốn vay.

Hệ thống pháp luật, đặc biệt là các chính sách tài chính - tín dụng và vốn cần phải được

tiếp tục hồn thiện, phù hơp với q trình chuyển đổi theo cơ chế thị trường. Xây dựng

môi trường kinh doanh thuận lợi, thơng thống cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế nói chung đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngồi quốc doanh

nói riêng trong việc tiếp cận các nguồn vốn, nguồn tài trợ, tạo ra một sân chơi bình đẳng

về tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

khi có nhu cầu vay đều phải tuân thủ những quy định công bằng như nhau.



Đối với ngân hàng

Đơn giản hóa thủ tục cho vay, vì nếu những chính sách về lãi suất và tín dụng được ban

hành nhưng quy trình thủ tục phức tạp sẽ khiến DN bỏ lỡ kinh doanh, cơ hội được hỗ trợ.

Cơ chế thế chấp, tín chấp cần có sự đổi mới, chỉnh sửa pháp lệnh về đăng ký giao dịch

đảm bảo. Ngân hàng có thể áp dụng hình thức đảm bảo bằng các khoản phải thu của

[Type text]



Page 19



doanh nghiệp chỉ cần doanh nghiệp cam kết thu tiền hàng qua hình thức chuyển khoản

vào tài khoản của doanh nghiệp mở tại ngân hàng. Ngân hàng có thể thu nợ bằng cách

trích trừ vào tại khoản của doanh nghiệp.

Đa dạng hóa các hình thức cho vay phù hợp với tính chất sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là tạo ra các sản phẩm tín dụng mới (cho vay thấu chi, bao

thanh toán, chiết khấu thương phiếu, tín dụng thuê mua,…) để tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận gần hơn với hoạt động của các ngân hàng khi chưa đủ

các điều kiện vay vốn bắt buộc.

Nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm dịch vụ cho vay ưu đãi hơn đối với các DNNVV. Kết

hợp nhiều sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng để hạ lãi

suất cho vay, hỗ trợ các doanh nghiệp quản trị hiệu quả hơn, nắm bắt các điều kiện thị

trường đầy đủ hơn, kịp thời hơn. Thiết kế các gói sản phẩm cấp tín dụng linh hoạt, phù

hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp, với hồn cảnh của từng thời kỳ của nền kinh tế.

Nghiên cứu chứng khoán hoá các khoản cho vay và các tài sản khác cũng là một phương

pháp huy động vốn và hạn chế rủi ro đơn giản của ngân hàng. Đồng thời việc nghiên cứu

sâu rộng về các loại hình chứng khốn nhằm phục vụ hoạt động cung cấp tín dụng cho

mọi đối tượng nói chung và cho DNNVV nói riêng.

Cơ cấu lại nợ, giãn nợ, ưu đãi tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh

trong lĩnh vực nông nghiệp, nếu những doanh nghiệp này chứng minh được các nguồn

thu để trả nợ ngân hàng; phát triển hình thức th tài chính để giúp doanh nghiệp nhanh

chóng đổi mới cơng nghệ. Chủ động ngồi lại với doanh nghiệp vừa vả nhỏ, đánh giá lại

các khoản nợ, bàn bạc, gia hạn nợ, đáo nợ, cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, phục

hồi sản xuất.

Chủ động phòng ngừa rủi ro từ phía khách hàng bằng cách có nhiều biện pháp như hỗ

trợ, tư vấn cho các DNNVV trong việc nâng cao năng lực quản lý tài chính. Trợ giúp các

doanh nghiệp trong khâu lập dự án kinh doanh. Các ngân hàng không nên chỉ dừng lại ở

việc mở rộng tín dụng thơng qua việc cung cấp các sản phẩm tín dụng mà còn nên có các

sản phẩm, dịch vụ tư vấn tài chính. Từ đó, khách hàng có thể sử dụng các sản phẩm tín

dụng của ngân hàng một cách hiệu quả hơn, nâng cao khả năng trả nợ cho ngân hàng,

đảm bảo chất lượng của các khoản tín dụng dù trong thời điểm nền kinh tế biến động.

Xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng hiệu quả cao; Hệ Thống Xử Lý Các Khoản Vay

Điện Tử (ELBS), nhằm giảm bớt thời gian giải quyết đơn xin vay DNNVV.

Một số doanh nghiệp do thiếu thông tin nên chưa am hiểu các điều kiện và thủ tục vay

của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng phải mở rộng thông tin, hướng dẫn thủ tục cho

[Type text]



Page 20



doanh nghiệp trên các phương tiện truyền thông hoặc qua các cuộc hội thảo,… Tăng

cường tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ chính thức hoặc thơng qua các chương trình, dự án

của các tổ chức, tạo nguồn với lãi suất thấp...

Khuyến khích thành lập các tổ chức đại diện hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đối với DNVVN

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần mở rộng và tăng cường hơn việc huy động vốn thông

qua thị trường chứng khốn, các nguồn vốn từ nước ngồi để vừa tiếp cận được các

nguồn lực tài chính, lại đồng thời có thể tranh thủ được công nghệ và kinh nghiệm tiên

tiến của nước ngồi.

Bên cạnh đó bản thân doanh nghiệp cần có các biện pháp để nâng cao uy tín,sức cạnh

tranh,tiềm lực tài chính để tạo niềm tin nơi các TCTD:

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải tăng cường năng lực quản trị đi đôi

với việc tăng cường khai thác các nguồn lực, nhất là các nguồn lực từ các quan hệ tín

dụng của doanh nghiệp.

Đổi mới hệ thống quản trị nội bộ, tăng cường cơng tác phân tích, lập kế

hoạch chiến lược, tăng cường quản lý tài chính...

Minh bạch vấn đề tài chính để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, giảm thiểu

chi phí, rủi ro cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.

Hiểu rõ tình trạng ln chuyển dòng tiền và vấn đề thâm hụt vốn lưu động,

giải phóng tiền mặt từ các hóa đơn xuất khẩu, nâng cao hiệu quả các khoản thu, giảm chi

phí xử lý thanh toán, tận dụng nguồn vốn dư thừa mà vẫn đảm bảo khả năng tiếp cận tiền

mặt, giảm rủi ro và duy trì lợi nhuận…Xây dựng biện pháp quản lý dòng tiền có hiệu

quả.

Xây dựng mối quan hệ liên kết trong sản xuất kinh doanh: Các doanh

nghiệp vừa và nhỏ vốn dĩ bị hạn chế về năng lực và quy mô sản xuất kinh doanh. Vì vậy

để đứng vững và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải tranh thủ mối quan hệ

với các doanh nghiệp lớn để tạo ra sự liên kết, phân phối cần thiết cho sự phát triển của

doanh nghiệp trong sự phát triển chung của cả nền kinh tế.

3.2 Giải pháp về thuế

Xây dựng ngưỡng doanh thu, có nghĩa là xác định một mức doanh thu phù hợp đối với

DNNVV, ở dưới mức đó, DN sẽ được miễn kê khai nộp thuế GTGT. Xây dựng ngưỡng

thuế doanh thu sẽ giảm bớt số lượng DNNVV phải kê khai nộp thuế, làm giảm chi phí

[Type text]



Page 21



tuân thủ thuế tại DN nhỏ dưới ngưỡng. Điều này sẽ giúp cơ quan thuế giảm chi phí quản

lý, tập trung nguồn lực ngăn chặn rủi ro trốn thuế.

Chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định 92/2013/NĐ-CP ban hành

ngày 13/8/2013 hiện chưa hiệu quả và triệt để vì trong thực tế nhiều doanh nghiệp mặc dù

có số lao động lớn hơn 30 người (Theo luật là không phải doanh nghiệp nhỏ) nhưng

doanh thu hàng năm lại rất thấp (thấp hơn nhiều so với mức 20 tỷ đồng, mốc quy định

doanh nghiệp nhỏ) mà vẫn không được hưởng chính sách ưu đãi thuế đối với doanh

nghiệp nhỏ. Do vậy, Nhà nước nên áp dụng chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp có

doanh thu hàng năm dưới 20 tỷ đồng thay vì áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ. Điều

này rất có ý nghĩa vì các doanh nghiệp cần hỗ trợ là doanh nghiệp có khó khăn về tài

chính chứ khơng phải doanh nghiệp có số lượng lao động ít.

Giãn, giảm, hồn nhiều loại thuế. Để giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho

doanh nghiệp hạ giá thành và tiêu thụ sản phẩm. Giảm thuế đối với lĩnh vực bất động sản

nhằm giải quyết vấn đề thuê mặt bằng sản xuất cho các DNNVV. Tiếp tục gia hạn thời

hạn nộp thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có quy mơ vừa và nhỏ (sử dụng dưới 200

lao động làm việc toàn bộ thời gian và có doanh thu năm khơng q 20 tỷ đồng), đặc biệt

tập trung vào các ngành sản xuất, kinh doanh đặc thù như: nông sản, lâm sản, thuỷ sản,

dệt may, da giày…. Giãn tiền phạt, tiền lãi suất cho các DN còn nợ thuế, nếu có thể thì

miễn cho DN, còn nếu khơng thì giảm ít nhất 50%, hoặc cho nộp dần theo từng đợt.

3.3.



Nhóm giải pháp đối với DNNVV



Bên cạnh giải pháp nhằm minh bạch báo cáo tài chính của mình, các DNNVV còn cần có

thêm nhiều biện pháp khác nhằm giải quyết khó khăn đang gặp phải. Một số giải pháp

được đưa ra như sau:

- Hoàn thiện bộ máy kế tốn tài chính

Thực tế hiện nay bộ máy kế tốn-tài chính của DNNVV còn rất nhiều bất cập, trình độ

của kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán chưa đúng quy định về trình độ theo Luật kế

tốn số 03/2003 (có hiệu lực từ 01/01/2004) nên cơng tác tổ chức hạch tốn còn nhiều

hạn chế, đa số các DNNVV thuê người ngoài làm báo cáo thuế và báo cáo tài chính

(khơng trực tiếp làm việc tại trụ sở DN) nên việc cập nhật số sách kế tốn khơng kịp thời,

đầy đủ và không tuân thủ chuẩn mực, nguyên tắc và chế độ kế tốn. Do đó, các DNNVV

cần chủ trọng hơn đến công tác này, xem đây là nhiệm vụ sống còn để phát triển.

- Tự nâng cao năng lực của DNNVV



[Type text]



Page 22



Dù Nhà nước và các cấp chính quyền có đưa ra nhiều giải pháp hỗ trợ đến đâu, nếu bản

thân các DNNVV quá yếu kém thì hiệu quả sử dụng giải pháp sẽ không thể là “phép

màu” cứu sống các DN. Do vậy, tự bản thân các DN phải nâng cao năng lực tài chính,

năng lực quản lý vốn và các nguyên liệu đầu vào, trình độ người lao động, trình độ của

nhà quản lý, nâng cao khả năng tiếp cận thơng tin từ đó có thể lựa chọn nhiều hình thức

huy động vốn hay đầu tư tài sản phù hợp với DN, chú trọng đổi mới công nghệ, …

- Tăng cường hợp tác với các DN trong và ngoài nước, tham gia vào cụm liên kết

ngành hoặc khu công nghiệp hỗ trợ.

Việc tăng cường hợp tác với các DN trong và ngoài nước sẽ giúp các DNNVV duy trì

ngành nghề truyền thống, phát huy lợi thế so sánh giữa các DN với nhau cũng như các

quốc giá khác nhau, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nếu việc liên kết, hợp

tác giữa các DN được phát triển các về chiều rộng lẫn chiều sâu sẽ là điều kiện thuận lợi

cho các DNNVV phát huy vai trò của mình, tăng uy tín, tăng năng lực quản lý, tăng khả

năng cạnh tranh từ đó có thể tăng khả năng tiếp cận vốn vay từ các NHTM

3.4 Một số giải pháp tài chính khác

- Hỗ trợ từ các cơng ty cho th tài chính

Ngày nay nghiệp vụ cho thuê tài chính rất thực tế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

chỗ: giao dịch ngắn,thời hạn thuê mua tương đối dài,quy mô của hợp đồng thuê đủ lớn để

đáp ứng trang thiết bị cho DNVVN. Nhưng hiện nay các cơng ty th mua tài chính đang

gặp một số khó khăn về quyền được nhập khẩu thiết bị trực tiếp,cơ sở hỗ trợ và giám sát

hoạt động thuê mua chưa hoàn thiện ,việc thực thi hợp đồng thuê mua vẫn khó khăn rắc

rối, số lượng các cơng ty th mua tài chính bị NHNN hạn chế.Bên cạnh đó q trình

đăng ký gặp nhiều trở ngại,và mất nhiều thời gian. Vì thế để cung cấp vốn một cách khả

thi,có hiệu quả cho các doang nghiệp vừa và nhỏ thơng qua hình thức th mua tài

chính,nên chăng có một số chính sách thơng thống hơn cho ngành th,mua tài

chính.Ngồi ra các DNVVN có thể đề nghị các cơng ty này cho thuê bất động sản và

động sản mà họ dự kiến, ký hợp đồng với các công ty tài chính và có sự hứa hẹn về việc

bán tài sản tùy theo tình hình.

- Xúc tiến thương mại hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tổ chức giới thiệu sản phẩm hàng hóa của DNNVV thơng qua triển lãm trong và ngồi

nước, nhất là các thị trường còn tiềm ẩn, chưa có cơ hội làm ăn. Hỗ trợ tư vấn thơng tin

về các thị trường nước ngồi cho các DNNVV. Tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi kinh

nghiệm giữa các doanh nghiệp với nhau trong việc tìm kiếm và tiếp cận các thị trường

khác nhau. Đào tạo bồi dưỡng kỹ năng hội nhập thị trường trong và ngoài nước để các

[Type text]



Page 23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Những vấn đề đạt được:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x