Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI XUẤT

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

vừa coi tái xuất như là biện pháp hạn chế thâm hụt cán cân thương mại vừa coi là biểu hiện

của chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý sang lĩnh vực dịch vụ.

Tất nhiên, tái xuất cũng không phải là giải pháp mang tính chiến lược cho các quốc gia phát

triển bền vững. Bản chất của tái xuất chỉ là thương mại kiếm lời, vì thế nó sẽ khơng mang

lại sức mạnh thực sự trong quan hệ kinh tế song phương và đa phương. Tự do hóa thương

mại càng cao thì dịch vụ tái xuất sẽ càng bị hạn chế vì các bên xuất khẩu và nhập khẩu có

cơ hội quan hệ trực tiếp với nhau. Càng nhiều rào cản thương mại bị xóa bỏ thì càng nhiều

doanh nghiệp cung ứng trực tiếp hàng hóa tiếp cận với khách hàng tiềm năng. Nếu chú

trọng quá mức vào buôn bán tái xuất thì tính bền vững trong kinh doanh quốc tế sẽ khơng

cao.

1.3. Các loại hình tái xuất

Tái xuất là hoạt động kinh doanh đòi hỏi nghiệp vụ có trình độ cao nên không phải quốc gia

nào cũng thực hiện được những giao dịch buôn bán lớn. Thông thường, các nước nhập khẩu

chấp nhận mua hàng hóa thơng qua bên trung gian tái xuất vì những lý do chính trị như bị

cấm bận thương mại hay rào cản thương mại… Tùy vào các cấp độ hạn chế quan hệ khác

nhau mà ben tái xuất lựa chọn việc giao hàng trực tiếp từ nước xuất khẩu sang nước nhập

khẩu hay phải chuyển qua quốc gia tái xuất. Do đó, có thể chia ra tái xuất theo 2 hình thức:

tái xuất thơng thường và chuyển khẩu

1.3.1. Tái xuất thông thường

Tái xuất thông thường là giao dịch mà hàng hóa sẽ chuyển dịch từ nước xuất khẩu sang

nước tái xuất, rồi mới sang nước nhập khẩu.

Ngược chiều với sự vận động của hàng hóa là sự vận động của đồng tiền: Bên tái xuất trả

tiền cho bên xuất khẩu và thu tiền của bên nhập khẩu.

Đường đi của hàng hóa và đồng tiền trong tái xuất đúng nghĩa được mô tả trong sơ đồ sau:

Người XK



Người tái xuất



Người NK



Page | 2



Bên cạnh đó, hình thức tái xuất này do một đơn vị thực hiện nên hoạt động đó thường được

gọi là tạm nhập tái xuất. Hình thức tạm nhập tái xuất nhấn mạnh rõ mục đích nhập khẩu

khơng vì mục đích tiêu dùng trong nước mà người nhập khẩu sẽ xuất khẩu hàng hóa sau đó

một thời gian nhất định. Thời gian này thường khơng kéo dài và do chính đơn vị nhập khẩu

thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu trong khai báo thông quan hàng hóa.

Tuy nhiên, nếu hoạt động tạm nhập tái xuất khơng được kiểm sốt chặt chẽ thì dễ dẫn tới

gian lận thương mại, đó là nhập khẩu hàng hóa về để tiêu thụ trong nước nhưng lại khai báo

với hải quan là tái xuất để được hoàn thuế.

Trường hợp người tái xuất muốn giấu xuất xứ hàng hoá (thường thì phải thoả thuận trước

với người mua) thì người tái xuất phải thay đổi bao bì, vẽ lại mẫu mã và như vậy có nghĩa là

hàng hố đã được gia công chế biến một phần cho nên khi tái xuất phải nộp thuế xuất khẩu

cho phần giá trị gia tăng đó, nếu pháp luật quy định.

1.3.2. Chuyển khẩu

Chuyển khẩu được quy định trong Quy chế này là việc thương nhân Việt Nam mua hàng

của một nước để bán cho một nước khác mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và

không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

Phương thức chuyển khẩu được thực hiện dưới các hình thức:

-



Hàng hố được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa

khẩu Việt Nam.



-



Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có quan cửa khẩu

Việt Nam nhưng khơng làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất

khẩu ra khỏi Việt Nam.



-



Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt

Nam và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không

làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.



Trên thực tế phương thức chuyển khẩu thường được thực hiện bằng hai cách:

-



Cơng khai: Các chứng từ hàng hố từ người bán ban đầu giữ nguyên chỉ các chứng từ

làm thủ tục chuyển khẩu.



-



Bí mật: Thay lại tồn bộ chứng từ hàng hoá kể cả tên và địa chỉ người bán.



Page | 3



1.4. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tái xuất

Người kinh doanh tái xuất thường ký một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu.

Hai hợp đồng này phải phù hợp với nhau về hàng hố bao bì, mã hiệu v.v. Việc thực hiện

hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất

khẩu.

Một vấn đề rất quan trọng cần phải lưu ý trong kinh doanh theo phương thức tái xuất là

công tác khách hàng, phải chú ý tìm được khách hàng đứng đắn, có khả năng thanh toán

cao. Thực tế ở Việt Nam cho thấy có nhiều doanh nghiệp đã phá sản do cơng tác này lỏng

lẻo (nhập khẩu hàng hố rồi nhưng khơng biết bán cho ai vì đối tác từ chối nhận hàng –

không tái xuất được).

Để thực hiện các hợp đồng một cách nghiêm chỉnh người ta thường áp dụng các biện pháp

như: đặt cọc, chế tài hay L/C

1.4.1. Đặt cọc (deposit)

Là một khoản tiền mà một bên có nghĩa vụ phải giao cho bên kia để đảm bảo thực hiện hợp

đồng, nếu vi phạm sẽ mất khoản tiền đặt cọc đó.

Trên thực tế đây là một vấn đề rất phức tạp và rắc rối ngay cả khi đã có đặt cọc thì khả năng

vi phạm hợp đồng vẫn có thể xảy ra. Cho nên khi tiến hành giao dịch cần phải chọn kỹ đối

tác, phải cảnh giác cao.

Để tránh rủi ro người ta thường hay yêu cầu ngân hàng bảo lãnh số tiền gửi hoặc tiền ứng

trước. Tuy nhiên nếu yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thì phải trả phí bảo lãnh ngân hàng .

1.4.2. Chế tài

Biện pháp phạt tiền thường được áp dụng theo các hình thức:

-



Trả một khoản tiền quy định trong hợp đồng (có thể là ngoại tệ có thể là nội tệ)



-



Mua hàng trên thị trường và người vi phạm phải trả tiền chênh lệch so với giá hợp đồng.



1.4.3. Phương thức tín dụng giáp lưng (back to back L/C)

Sau khi nhận được L/C của người nhập khẩu mở cho mình người kinh doanh tái xuất (hoặc

chuyển khẩu) dùng L/C này để thế chấp mở L/C thứ hai cho người xuất khẩu hưởng lợi với

nội dung gần giống L/C mà người nhập khẩu mở cho mình. L/C thứ nhất gọi là L/C gốc,

còn L/C thứ hai gọi là L/C giáp lưng.



Page | 4



1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh tạm nhập

tái xuất

1.5.1. Các nhân tố khách quan

Đây là các nhân tố do môi trường kinh tế khách quan tạo nên, nằm ngoài phạm vi điều

chỉnh của doanh nghiệp. Có thể kể đến các nhân tố sau đây:

Mơi trường kinh tế: Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới

nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng, do đó có ảnh hưởng đến hoạt đơng xuất

khẩu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế cũng ảnh hưởng tới xu hướng nhập

khẩu hàng hóa của các nước trên thế giới. Trong tình trạng khủng hoảng kinh tế diễn ra trên

toàn cầu như hiện nay, các quốc gia có xu hướng hạn chế nhập khẩu hàng hóa, chuyển cơ sở

sản xuất về nội địa để tạo việc làm và giảm chênh lệch cán cân thương mại quốc tế. Các

nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc

nội (GDP) thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát, tình hình lãi xuất

Mơi trường luật pháp quốc tế: Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế

hợp tác giữa các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của

một nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh

nghiệp. Xu hướng thắt chặt việc kiểm soát thương mại thông qua các hàng rào kĩ thuật để

bảo hộ việc sản xuất trong nước đã và đang là xu hướng bảo hộ chủ yếu của các quốc gia

phát triển hiện nay. Bên cạnh đó, luật pháp của các quốc gia trên thế giới về thương mại

quốc tế rất chặt chẽ và chi tiết. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu rõ về luật pháp và

các quy định của thị trường xuất khẩu nhằm hạn chế các rủi ro xảy ra và có hướng giải

quyết trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại.

Mơi trường văn hố xã hội: Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường

xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các

quyết định mua hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh

nghiệp. Xu hướng tiêu dùng của thị trường xuất khẩu cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng

xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Các nhân tố văn hóa xã hội có thể kể đến như

thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán kinh doanh, truyền thống văn hóa, các tập tục

sử dụng hàng hóa trong đời sống của người dân.

Mơi trường cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh

nghiệp, các cơng ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường



Page | 5



xuất khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp

muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình. Mơi trường cạnh tranh

quyết định khả năng tồn tại cũng như thị phần của doanh nghiệp. Trong môi trường cạnh

tranh quốc tế ngành càng lớn hiện nay, nhất là trong thời kì khủng hoảng kinh tế, mọi

doanh nghiệp cần nỗ lực rất lớn để tồn tại trong những thị trường có tính cạnh tranh cao.

Sức ép cạnh tranh quốc tế sẽ thải loại những doanh nghiệp yếu kém ra khỏi cuộc chơi và

tiếp nhận những doanh nghiệp đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.

1.5.2. Các nhân tố quốc gia

Đây là các nhân tố ảnh hưởng bên trong đất nước nhưng ngồi sự kiểm sốt của doanh

nghiệp. Các nhân tố đó bao gồm:

Nguồn lực trong nước: Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kiện thuận lợi để doanh

nghiệp trong nước có điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao động.

Về mặt ngắn hạn, nguồn lực đuợc xem là khơng biến đổi vì vậy chúng ít tác động đến sự

biến động của xuất khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều kiện

thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công mỹ nghệ,

may mặc giầy dép...

Nhân tố công nghệ: Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế

xã hội, và mang lại nhiều lợi ích, trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả cao. Nhờ sự

phát triển của bưu chính viễn thơng, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán với

các bạn hàng qua điện thoại, fax, ... giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian. Giúp các nhà kinh

doanh nắm bắt các thơng tin chính xác, kịp thời .Yếu tố công nghệ cũng tác động đến q

trình sản xuất, gia cơng chế biến hàng hố xuất khẩu. Khoa học cơng nghệ còn tác động tới

lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất khẩu, kỹ thuật nghiệp vụ trong ngân hàng... Nhân tố cơng

nghệ có thể thúc đẩy quá trình kinh doanh diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí

của doanh nghiệp. Trong xu thế ứng dụng cơng nghệ vào nhiều quy trình kinh doanh hiện

nay, các doanh nghiệp được tiếp cận với quy trình kinh doanh hiện đại và tiện lợi, loại bỏ

được những khó khăn do sử dụng con người tạo ra.

Cơ sở hạ tầng: Đây là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cũng như

nhập khẩu. Cơ sở hạ tầng của một nền kinh tế cũng phản ánh trình độ phát triển kinh tế của

một quốc gia. Một quốc gia có cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại sẽ thúc đẩy sự phát triển

kinh tế nhanh hơn, việc vận tải hàng hóa diễn ra dễ dàng. Hệ thống cảng biển, cảng hàng

không, cửa khẩu, bến bãi chính là nơi diễn ra hoạt động giao thương xuất nhập khẩu hàng

Page | 6



hóa với nước ngồi. Cơ sở hạ tầng càng hồn thiện thì hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra

càng nhanh chóng và thuật lợi. Bên cạnh đó, ngày nay người ta thường nói đến cơ sở hạ

tầng thông tin viễn thông, hệ thống ngân hàng. Hệ thống cơ sở hạ tầng này hỗ trợ cho q

trình tìm kiếm thơng tin, xúc tiến thương mại, các hoạt động giao dịch với khách hàng, khả

năng thanh toán .Cơ sở hạ tầng gồm: đường xá, bến bãi hệ thống vận tải , hệ thống thông

tin,hệ thống ngân hàng... có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu nó thúc đẩy hoặc kìm

hãm hoạt động xuất khẩu.

Hệ thống chính trị pháp luật của nhà nước: bao gồm hệ thống luật pháp, các quy định,

chính sách phát triển và hỗ trợ của nhà nước, các cơ quan quản lý và thi hành luật pháp như

cơng an, viện kiểm sốt, tòa án. Hệ thống chính trị pháp luật quyết định tới mặt hàng kinh

doanh, phương thức kinh doanh cũng như khả năng phát triển. Nhà nước cũng thông qua hệ

thống này để hạn chế hay thúc đấy phát triển ngành kinh doanh nào đó.

Các doanh nghiệp ngoại thương khi tham gia hoạt động xuất khẩu cần nhận biết và tuân

theo các quy định của pháp luật về hoạt động xuất khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh

nói chung. Do vậy doanh nghiệp cần lợi dụng các chính sách của nhà nước về hoạt động

xuất khẩu cũng như không tham gia vào các hoạt động xuất khẩu bị cấm.

Tỷ giá hối đối: Tỷ giá hối đối và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực

hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu. Thế nên

doanh nghiệp cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến việc thu đổi ngoại tệ sang

nội tệ, từ đó ảnh hướng đến hiệu quả xuất của doanh nghiệp. Để biết được tỷ giá hối đoái,

doanh nghiệp phải hiểu được cơ chế điều hành tỷ giá hiện hành của nhà nước, theo dõi biến

động của nó từng ngày. Doanh nghiệp phải lưu ý tỷ giá hối đoái được điều chỉnh là tỷ giá tỷ

giá chính thức được điều chỉnh theo q trình lạm phát. Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng rất

lớn tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Do hoạt động xuất nhập khẩu của doanh

nghiệp sử dụng ngoại tệ để giao dịch. Tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ khiến doanh nghiệp tái

xuất tăng lợi nhuận do nội tệ quy đổi được tăng lên và ngược lại.

Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự

vươn lên của các doanh nghiệp, mặt khác nó cũng dìm chết các doanh nghiệp yếu kém. Mức

độ cạnh tranh ở đây biểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia cùng ngành hoặc các

mặt hàng khác có thể thay thế được. Hiện nay, nhà nước Việt Nam có chủ trương khuyến

khích mọi doanh nghiệp mới tham gia hoạt động tái xuất đã dẫn đến sự bùng nổ số lượng

các doanh nghiệp tham gia do đó đơi khi có sự cạnh tranh khơng lành mạnh. Trong thời kì

Page | 7



khủng hoảng kinh tế như hiện nay, mức độ cạnh tranh diễn ra càng khốc liệt hơn, đòi hỏi

các doanh nghiệp phải tự thay đổi, nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại.

1.5.3. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác động làm thay

đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình. Bao gồm các nhân tố sau:

Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính của doanh nghiệp: Là sự tác đông trực tiếp của

các cấp lãnh đạo xuống các cán bộ, công nhân viên. Một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức

hợp lý cách điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết định tới hiệu quả kinh doanh nói

chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Bộ máy quản lý doanh nghiệp được ví như bộ

não của con người, là nơi ra mọi quyết định liên quan tới việc kinh doanh của công ty.

Trong môi trường kinh tế hội nhập sâu rộng như hiện nay, trình độ quản lý và điều hành của

doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới khả năng hoạt động và tồn tại của doanh nghiệp.

Yếu tố con người: Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt

động xuất khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là chủ thể

sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động. Trình độ và năng lực trong hoạt động xuất

nhập khẩu của các bên kinh doanh sẽ quyết định tới tới hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp. Trong thời buổi kinh tế thị trường hội nhập ngảy càng mạnh, cùng với sự phát triển

nhanh của khoa học kĩ thuật, nhiều công việc đã được thay thế bởi máy móc và cơng nghệ.

Tuy nhiên, nó khơng thể thay thế vai trò của con người trong việc điều hành và ra quyết

định kinh doanh. Các doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư nhiều vào nhân tố con người như

một sự đầu tư cho sự phát triển lâu dài trong tương lai.

Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Một trong những yếu tố quan trọng tác động tới

hoạt động xuất của doanh nghiệp là vốn. Bên cạnh yếu tố về con người, tổ chức quản lý thì

doanh nghiệp phải có vốn để thực hiên các mục tiêu về xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra.

Năng lực tài chính có thể làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng của doanh nghiệp vì vốn

là tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động ngoại thương kinh

doanh với nước ngoài cần rất nhiều tiền cũng như phải cạnh tranh với các cơng ty nước

ngồi có tiềm lực tài chính rất mạnh, vì thế các doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng tài

chính vững chắc để duy trì hoạt động kinh doanh, đảm bảo khả năng cạnh tranh với doanh

nghiệp nước ngoài cũng như khả năng đầu tư phát triển trong tương lai.



Page | 8



CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KINH DOANH TÁI XUẤT TẠI VIỆT

NAM

2.1. Các hiệu quả kinh tế đạt được

Trong những năm qua, tận dụng vị trí địa lý, phát huy năng lực nghiệp vụ chuyên môn, quan

hệ bạn hàng ngồi nước, nhanh nhạy về thơng tin kinh tế, thị trường, giá cả... các thương

nhân tạm nhập khẩu (TNK) từ thị trường ngoài nước này những mặt hàng trong nước khơng

có hoặc chưa cần để tái xuất khẩu (XK) sang thị trường ngồi nước khác có nhu cầu.

Phương thức kinh doanh tạm nhập tái xuất (TNTX) tăng trưởng tốt, giá trị kim ngạch hằng

năm đạt hàng chục tỷ USD. Mặt hàng TNTX rất phong phú như xăng, dầu, các loại ngun

vật liệu, khống sản, phân bón, thực phẩm, nơng sản, rượu bia, thuốc lá... Tỷ trọng các mặt

hàng thay đổi từng năm theo tín hiệu thị trường. TNTX mang lại hiệu quả kinh tế cho cả

doanh nghiệp thực hiện TNTX và nền kinh tế Việt Nam.

2.1.1. Đối với doanh nghiệp (DN)

Hưởng chênh lệch giá từ việc mua hàng hóa từ nước này để xuất khẩu sang nước khác có

nhu cầu, sau khi tính đủ chi phí. Doanh nghiệp thu được lợi nhuận lớn khi nhập khẩu được

hàng với giá rẻ và xuất khẩu với giá đắt. Hàng hóa nhiều dẫn đến việc xuất khẩu với giá rẻ

và những nước không có hoặc đang rất cần mặt hàng nào đó sẵn sàng mua với giá cao. Vì

vậy, cơng việc của doanh nghiệp kinh doanh dưới hình thức tạm nhập tái xuất là tìm được

những đầu mối để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình từ đó thu lợi nhuận cao.

Doanh nghiệp không phải tiến hành sản xuất, chế biến hàng hóa sau khi nhập khẩu về nên

khơng cần tốn chi phí đầu vào cho sản xuất như chi phí nguyên vật liệu, nhân cơng sản xuất,

nhà xưởng, máy móc- thiết bị, quy mô doanh nghiệp không cần phải quá lớn.Thực hiện hoạt

động tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp chỉ cần kho bãi và các cơng cụ bảo quản hàng hóa.

Doanh nghiệp khơng phải chịu thuế, do đó doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một khoản

ngân sách đáng kể so với xuất nhập khẩu thông thường. Đối với các mặt hàng xuất nhập

khẩu thông thường, doanh nghiệp luôn phải chịu thuế, từ đó làm giảm lợi nhuận mà doanh

nghiệp thu được. Ví dụ như việc xuất nhập khẩu đồ đơng lạnh, mức thuế doanh nghiệp phải

chịu là 16% (thông tư 182/2015/TT-BTC) tuy nhiên nếu kinh doanh tạm nhập tái xuất thì

doanh nghiệp tiết kiệm được 16% giá lơ hàng so với xuất nhập khẩu thông thường.



Page | 9



TNTX làm đa dạng hóa kinh doanh của DN, giúp cho DN đứng vững, kinh doanh tốt thì

nguồn thu tăng thêm. Hoạt động này cũng làm sôi động quan hệ thương mại, nhất là quan

hệ thương mại biên giới, giúp cho cả hai bên cùng có lợi, đóng góp phát triển hạ tầng, phát

triển DN, phát triển quan hệ thương mại.

2.1.2. Đối với kinh tế Việt Nam

Hoạt động TNTX góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng ngân sách quốc gia. Hàng

hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất khơng phải chịu thuế xuất nhập khẩu, vì thế, nguồn thu

ngân sách nhà nước không phải được tăng lên do thuế mà là do phí sử dụng bến bãi và một

số loại phí có liên quan khác. Hàng năm, các doanh nghiệp tạm nhập tái xuất tại các bến

cảng, cửa khẩu đã đóng góp cho ngân sách một khoản tiền tương đối lớn. Tại cảng Hải

Phòng, các doanh nghiệp này đã đóng góp cho ngân sách nhà nước 40 tỷ đồng/năm, tại

điểm thông quan Co Sa (Lạng Sơn), lượng hàng hóa tạm nhập để tái xuất qua điểm thông

quan Co Sa năm 2015 là 130.000 tấn, trị giá hàng hóa 145 triệu đơ la Mỹ, thu ngân sách tỉnh

đạt trên 46 tỷ đồng trong đó, riêng hàng TNTX từ thời điểm thực hiện thí điểm đạt gần

60.000 tấn, trị giá đạt gần 60 triệu USD, thu ngân sách đạt khoảng 10 tỷ đồng.

Nhiều dịch vụ trong nước liên quan như hậu cần, kho bãi, cảng, vận tải đường bộ, đường

thủy, hàng không, bốc xếp, bảo hiểm... thu được phí và tạo thêm việc làm. Cụ thể như sau:

-



Trên 80% hàng hóa tạm nhập về cảng Hải Phòng (thực phẩm đơng lạnh, ngun liệu sản

xuất, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, phế liệu…) rồi được tái xuất qua các cửa khẩu của

Quảng Ninh, như: Lục Lầm, Ka Long, Bắc Phong Sinh... Cùng với đó, số doanh nghiệp

(DN) tham gia kinh doanh theo những phương thức dịch vụ trên ước tính khoảng hơn

400, tạo việc làm và thu nhập cho 20.000 lao động xã hội bằng các hoạt động, bốc dỡ,

vận chuyển, giao nhận. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, hoạt động kinh doanh TNTX, kho

ngoại quan còn góp phần phát triển dịch vụ logistic tại các khu vực cửa khẩu biên giới.



-



Việc thực hiện thí điểm tại điểm thơng quan Co Sa (Lạng Sơn) đã góp phần giải quyết

tốt cơng ăn việc làm, thu nhập thường xuyên cho hàng trăm lao động địa phương trong

các lĩnh vực phục vụ hoạt động tạm nhập hàng hóa như sang tải, bốc xếp... Qua đó, đời

sống của người dân vùng biên giới ngày càng được cải thiện và nâng cao.



Việc tạo thêm nhiều việc làm cho dân cư vùng biên giới hạn chế tối đa việc dân cư biên giới

xuất cảnh trái phép sang bên kia biên giới làm thuê, đảm bảo an ninh quốc phòng, quan hệ

hợp tác với địa phương biên giới phía bạn, tình hữu nghị, hợp tác, hiểu biết lẫn nhau được



Page | 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×