Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Chương trình tiêm chủng trên thế giới

2 Chương trình tiêm chủng trên thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

phòng được bệnh tật, mỗi năm có từ 2-3 triệu trẻ chết, thế nhưng ước tính 18,7

triệu trẻ dưới 1 tuổi trên thế giới vẫn còn thiếu những mũi vắc xin cơ bản[6].

1.2.2. Các loại vacxin được sử dụng trong chương

trình tiêm chủng mở rộng trên thế giới

1.2.2.1. Vacxin DTP3

Trong năm 2016, khoảng 86% trẻ sơ sinh trên toàn thế giới (116,5 triệu

trẻ) được tiêm 3 liều vắc-xin bạch hầu - uốn ván (DTP3), bảo vệ chúng chống lại

các bệnh truyền nhiễm có thể gây bệnh nặng và tàn tật hoặc gây tử vong. Đến

năm 2016, 130 quốc gia đã đạt được độ che phủ ít nhất 90% của vắc-xin DTP3

nhưng ước tính có 19,5 triệu trẻ sơ sinh trên tồn thế giới khơng được tiếp cận

với loại vacxin này. Khoảng 60% trẻ em này sống ở 10 quốc gia: Angola, Brazil,

Cộng hòa Dân chủ Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Indonesia, Iraq, Nigeria, Pakistan

và Nam Phi.

1.2.2.2. Vacxin phòng viêm màng não do Hib

Vacxin Hib đã được giới thiệu ở 191 quốc gia vào cuối năm 2016. Mức độ

bao phủ toàn cầu với 3 liều vaccine Hib được ước tính là 70%. Có sự khác biệt

lớn giữa các vùng. Tại khu vực Châu Mỹ của WHO, mức độ bao phủ được ước

tính là 90%, trong khi đó chỉ có 28% ở khu vực Tây Thái Bình Dương của

WHO, khu vực Đơng Nam Á đã tăng mức độ bao phủ từ 56% trong năm 2015

lên 80% trong năm 2016.

1.2.2.3. Vacxin phòng virus HBV

Vacxin viêm gan B cho trẻ sơ sinh đã được giới thiệu trên toàn quốc ở 186

quốc gia vào cuối năm 2016. Bảo hiểm toàn cầu với 3 liều vacxin viêm gan B

được ước tính là 84% và cao tới 92% ở Tây Thái Bình Dương. Ngồi ra, 101

quốc gia đã giới thiệu một liều vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24

giờ đầu tiên của cuộc đời, và mức độ bao phủ toàn cầu là 39%.



1.2.2.4. Vacxin phòng virus HPV

Vi-rút u nhú ở người là loại siêu vi trùng phổ biến nhất trên đường sinh

sản, và có thể gây ung thư cổ tử cung, các loại ung thư khác, và mụn cóc sinh

dục ở cả nam và nữ. Thuốc chủng ngừa papillomavirus ở người đã được giới

thiệu ở 74 quốc gia vào cuối năm 2016, bao gồm bốn quốc gia được giới thiệu ở

một số vùng của đất nước.

7



1.2.2.5. Vacxin phòng bệnh sởi

Vào cuối năm 2016, 85% trẻ em đã được tiêm một liều vacxin sởi vào

ngày sinh nhật thứ hai và 164 quốc gia đã bao gồm liều thứ hai như là một phần

của tiêm phòng thông thường. 64% trẻ em được chủng ngừa hai liều sởi theo

chủng ngừa quốc gia lịch biểu.

1.2.2.6. Vacxin phòng bệnh viêm màng não A

Viêm màng não A là một bệnh nhiễm trùng có thể gây tổn thương não

nghiêm trọng và thường gây tử vong. Vào cuối năm 2016 - 6 năm sau khi được

giới thiệu - hơn 260 triệu người ở các nước châu Phi bị ảnh hưởng bởi căn bệnh

này đã được tiêm phòng với MenAfriVac, một loại vacxin được WHO và PATH

phát triển. Ghana và Sudan là hai quốc gia đầu tiên đưa MenAfriVac vào lịch

tiêm chủng định kỳ vào năm 2016.

1.2.2.7. Vacxin phòng quai bị

Quai bị là một loại vi-rút rất dễ lây gây sưng đau ở mặt dưới tai (các tuyến

mang tai), sốt, nhức đầu và đau cơ. Nó có thể dẫn đến viêm màng não do virus.

Vacxin quai bị đã được giới thiệu trên toàn quốc ở 121 quốc gia vào cuối năm

2016.

1.2.2.8. Vacxin phòng các bệnh phế cầu khuẩn

Các bệnh phế cầu khuẩn bao gồm viêm phổi, viêm màng não và nhiễm

khuẩn huyết, cũng như viêm tai giữa, viêm xoang và viêm phế quản. Vacxin phế

cầu khuẩn đã được giới thiệu ở 134 quốc gia vào cuối năm 2016, bao gồm cả ba

ở một số vùng của đất nước, và mức độ bao phủ tồn cầu được ước tính là 42%.



1.2.2.9. Vacxin phòng bệnh bại liệt

Bệnh Bại liệt đã được thanh toán ở nhiều nước Châu Mỹ, Châu Âu, Trung

Đơng và Tây Thái Bình Dương, song còn lưu hành ở một số nước Châu Phi,

Châu Á, đặc biệt ở Ấn Độ, Băngladesh, Pakistan, Công Gô… và rất dễ xâm

nhập trở lại các nước đã thanh toán xong bệnh bại liệt. Đến cuối năm 2006 còn 4

quốc gia vẫn ghi nhận có ca bại liệt là: Ấn Độ 676 trường hợp, Pakistan 40

trường hợp, Afghanistan 31 trường hợp và Nigeria 1.125 trường hợp. Các nước

có ca bại liệt xâm nhập là: Angola, Bangladesh; Cameroon, Chad, DR Congo;

Ethiopia; Indonesia; Kenya; Namibia; Nepal; Niger, Somalia and Yemen. Trong

năm 2016, 85% trẻ sơ sinh trên toàn thế giới nhận được ba liều vắc-xin bại liệt.

8



Nhắm mục tiêu xóa bỏ toàn cầu, bại liệt đã bị ngừng lại ở tất cả các nước ngoại

trừ Afghanistan, Pakistan và Nigeria. Các nước khơng có bệnh bại liệt đã bị

nhiễm virus nhập khẩu và tất cả các nước, đặc biệt là những người gặp xung đột

và bất ổn vẫn có nguy cơ cho đến khi bại liệt hoàn toàn bị loại trừ.

1.2.2.10. Vacxin phòng virus Rota

Rotavirus là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh tiêu chảy nặng ở trẻ nhỏ

trên toàn thế giới. Thuốc chủng ngừa rotavirus đã được giới thiệu ở 90 quốc gia

vào cuối năm 2016, bao gồm cả sáu ở một số vùng của đất nước, và mức độ bao

phủ tồn cầu được ước tính là 25%.

1.2.2.11. Vacxin phòng bệnh Rubella

Rubella là một bệnh do virus thường nhẹ ở trẻ em, nhưng nhiễm trùng

trong thời gian đầu thai kỳ có thể gây tử vong thai nhi hoặc hội chứng rubella

bẩm sinh, có thể dẫn đến khuyết tật của não, tim, mắt và tai. Vacxin rubella được

giới thiệu trên toàn quốc ở 152 quốc gia vào cuối năm 2016, và mức độ bao phủ

tồn cầu được ước tính là 47%.

1.2.2.12. Vacxin phòng uốn ván sơ sinh

Uốn ván sơ sinh vẫn là bệnh lưu hành phổ biến ở các nước đang phát

triển. Theo số liệu của WHO, UNICEF, UNFPA năm 2002, có 135 nước đã loại

trừ được bệnh uốn ván sơ sinh, 4 nước có khả năng loại trừ. Việc triển khai thực

hiện chương trình loại trừ uốn ván sơ sinh đã làm thay đổi tình hình mắc uốn

ván sơ sinh trên tồn cầu nhờ các biện pháp phòng bệnh uốn ván sơ sinh đặc biệt

việc tiêm văc xin phòng uốn ván cho phụ nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ. Năm

2006 so với năm 1980 số mắc uốn ván sơ sinh toàn cầu đã giảm 1,55 lần. Tuy

nhiên, số mắc uốn ván sơ sinh vẫn còn tập trung nhiều ở các nước khu vực châu

Phi, khu vực Đông Nam Á (1073 trường hợp) và khu vực Tây Thái Bình Dương

(3854 trường hợp)

1.3. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam

1.3.1. Lịch sử phát triển

Năm 1981 chương trình TCMR được triển khai thí điểm tại Việt Nam với

sự hỗ trợ của TCYTTG và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc. Đến năm 1985,

chương trình TCMR được đẩy mạnh và được triển khai ở 100% tỉnh, thành

trong cả nước với 6 loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là Lao,

Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Bại liệt. Năm 1997 Chính phủ quyết định đưa

thêm 4 vắc xin mới vào TCMR là vắc xin viêm gan B, viêm não Nhật Bản B, tả,

9



thương hàn. Từ tháng 6/2010, chương trình TCMR triển khai tiêm miễn phí vắc

xin mới phòng bệnh viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib phối hợp

các vắc xin phòng bệnh bạch hầu- ho gà- uốn ván- viêm gan B cho trẻ em dưới 1

tuổi, đánh dấu vắc xin thứ 11 được đưa vào TCMR ở Việt Nam.

Giai đoạn thí điểm (1981 – 1984 ):Trong giai đoạn thí điểm Chương trình

chủ yếu sử dụng hình thức tiêm chủng chiến dịch (tiêm chủng hàng loạt) trên

một số địa bàn có nguy cơ cao. Hình thức tiêm chủng thường xuyên (tiêm chủng

hàng tháng) bắt đầu được áp dụng ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi và

từng bước được mở rộng. Hết giai đoạn thí điểm đã có 50% số tỉnh triển khai

dịch vụ TCMR. Tuy nhiên, tỷ lệ tuyến huyện và xã triển khai còn rất thấp[7].

Giai đoạn mở rộng dịch vụ tiêm chủng trong cả nước (1985 - 1990):

Ngày 5/12/1985, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký chỉ thị số

373-CT về việc đẩy mạnh Chương trình TCMR cho trẻ em trong cả nước. Thực

hiện chỉ thị trên, năm 1986 đã có 100% số tỉnh và 60% số huyện trong cả nước

triển khai lịch TCMR. Đến năm 1989, đã có 100% số huyện với trên 90% số xã

triển khai Chương trình.

Kết thúc giai đoạn 1986 - 1990 đã có 40/40 (100%) tỉnh, 530/530 (100%)

huyện triển khai dịch vụ TCMR. Tuy nhiên còn tới 3,6% số xã với gần 400 xã

vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa triển khai được công tác tiêm chủng.

Trong giai đoạn này có sự kết hợp giữa 3 hình thức là tiêm chủng chiến

dịch với tiêm chủng định kỳ và tiêm chủng thường xuyên. Tỷ lệ địa bàn áp dụng

hình thức tiêm chủng thường xuyên tăng dần. Nhiều xã bắt đầu áp dụng tiêm

chủng thường xuyên hàng tháng vào một ngày nhất định, tạo ra lịch tiêm cố định

và thuận lợi cho người dân[8].

Giai đoạn xóa xã trắng về tiêm chủng mở rộng (1991 -1995): Mặc dù số

xã chưa triển khai TCMR trong năm 1990 chỉ chiếm khoảng 3,6% tổng số xã

trong cả nước song đây lại là những địa bàn rất khó khăn do thiếu điều kiện giao

thông, cơ sở y tế, lưới điện v.v. Mặt khác đây lại là vùng sinh sống của nhiều

đồng bào dân tộc ít người, của những người nghèo, thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ

y tế do vậy việc xoá các xã trắng về tiêm chủng là một mục tiêu cấp bách song

hết sức khó khăn.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế, thực hiện Chương trình Kết hợp

quân dân y (Chương trình 12), đặc biệt là sự kết hợp của Quân y bộ đội Biên

phòng, ngành y tế từng bước xoá các xã trắng về TCMR và đạt mục tiêu này 7

vào năm 1995. Việc xóa xã trắng về TCMR có thể được coi là một thành cơng

10



kỳ diệu của ngành y tế Việt Nam khi biết rằng nước ta có tới 4.734 xã biên giới

miền núi, hải đảo, chiếm 42,5% tổng số xã, phường trên toàn quốc[8].

Giai đoạn duy trì và nâng cao chất lượng Chương trình (1996 - 2010):

Trên cơ sở thành quả đã đạt được, từ năm 1996 Chương trình TCMR phấn đấu

duy trì diện bao phủ thường xuyên trên toàn quốc, đồng thời tập trung hoạt động

để nâng cao các mặt chất lượng tiêm chủng. Những mục tiêu chính ở giai đoạn

này là:

- Duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi ln đạt mức cao trên 90% ở quy

mô tuyến huyện.

- Nâng cao tỷ lệ hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng ở đơn vị

tuyến xã, kết hợp chặt chẽ với hình thức tiêm chủng chiến dịch, gồm cả chiến

dịch tồn quốc, chiến dịch theo khu vực hoặc chiến dịch nhỏ đáp ứng cho từng

địa bàn (huyện, xã, nhà trường, khu dân cư...) có nguy cơ cao hoặc xảy ra dịch.

- Tăng cường chỉ đạo, giám sát, hỗ trợ đối với những vùng triển khai tiêm

chủng gặp nhiều khó khăn như ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo.

- Tranh thủ hỗ trợ quốc tế, đưa vào Chương trình những vắc xin mới, lịch

tiêm mới, kỹ thuật tốt hơn; tăng cường chất lượng dây chuyền lạnh; giám sát

bệnh, giám sát an toàn tiêm chủng ở những địa bàn trọng điểm và trên tồn

quốc[8].

Giai đoạn duy trì và nâng cao chất lượng Chương trình (2011 đến nay):

Được sự cho phép của Chính phủ tại văn bản số 1208/QĐ-TTg ngày 04/09/2012

về việc đưa vắc xin Rubella vào Dự án Tiêm chủng mở rộng, với sự hỗ trợ của

Tổ chức Liên Minh toàn cầu về Vắc xin và tiêm chủng (GAVI) chiến dịch tiêm

vắc xin sởi - rubella trong tiêm chủng mở rộng cho trẻ từ 1 đến 14 tuổi trong

TCMR đã được tổ chức trong năm 2014-2015.

Từ tháng 6/2010, Chính phủ đã phê duyệt cho phép sử dụng vắc xin “5

trong 1” (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hib) Quinvaxem trong chương

trình TCMR đã làm giảm số mũi tiêm so với giai đoạn trước, góp phần tăng chất

lượng tiêm chủng. Tỷ lệ tiêm vắc xin Quinvaxem trong toàn quốc là 95%. Trong

giai đoạn này chúng ta phải đối mặt với một số thách thức trong việc tiêm chủng

như phản ứng vắc xin viêm gan B làm 3 trẻ tử vong tại Quảng Trị năm 2013.

Sau đó 9 trường hợp tử vong được báo cáo từ tháng 2/2012 - 3/2013 ngay sau

khi tiêm vắc xin Quinvaxem. Bộ Y tế đã quyết định tạm dừng tiêm vắc xin

Quinvaxem trong 5 tháng, sau khi kiểm tra chất lượng vắc xin Quinvaxem đã

cho tiếp tục sử dụng lại từ tháng 10/2013[9].

11



Trước những khó khăn thách thức trong thời gia qua, Bộ Y tế đã ra Quyết

định số 4282/QĐ-BYT ngày 21/10/2014 về kế hoạch truyền thông về tiêm

chủng nhằm nâng cao nhận thức, niềm tin và thay đổi hành vi của người dân và

cộng đồng về phòng bệnh bằng vắc xin và an tồn tiêm chủng, nhằm góp phần

nâng cao tỷ lệ tiêm chủng cho mọi đối tượng[3].

1.3.2. Những thành tựu của chương trình tiêm chủng

mở rộng tại Việt Nam

Chương trình TCMR đã được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá là

một trong những chương trình Y tế cơng cộng hiệu quả và thành công nhất tại

Việt Nam.Hơn 30 năm qua không những đã bảo vệ được hàng triệu lượt trẻ em

khỏi bị mắc bệnh, hàng trăm nghìn trẻ em không bị chết hoặc tàn phế bởi các

các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, mà còn giúp phần nâng cao thể chất giống

nòi người Việt Nam, nâng cao chất lượng cuộc sống và ổn định xã hội. Việc cả

nước khơng còn "thôn bản trắng, xã trắng về tiêm chủng" và tỷ lệ tiêm chủng

đầy đủ luôn đạt trên 90% cho thấy dịch vụ TCMR đó đến được với mọi gia đình,

mọi dân tộc, mọi vùng miền trong cả nước góp phần đảm bảo công bằng trong

thụ hưởng các dịch vụ y tế của trẻ em nói riêng và nhân dân nói chung. Khơng

có một chương trình phòng bệnh nào lại hiệu quả như thế nhờ thứ vũ khí siêu

hạng là vắc xin, cụ thể là:

- 11 nghìn xã phường, 704 huyện của cả nước được tiêm chủng

- Hơn 1,5 triệu trẻ em, gần 1,6 triệu phụ nữ có thai được bảo vệ hàng năm

với khoảng 50 triệu mũi tiêm để phòng 12 bệnh nguy hiểm phổ biến nhất liên

quan đến sự sống còn của trẻ em

- Đã quét sạch và làm biến mất hoàn toàn bệnh đậu mùa từ năm 1979

- Đã quét sạch và làm biến mất hoàn toàn bệnh bại liệt từ năm 2000

- Đã loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005

- Đang thực hiện mục tiêu loại trừ bệnh sởi và giảm tỷ lệ nhiễm viêm gan

vi rút B ở trẻ dưới 5 tuổi xuống 1% trước năm 2020.

- Các bệnh truyền nhiễm khác trong chương trình TCMR như bạch hầu,

ho gà, viêm não nhật bản, sởi đã giảm một cách ngoạn mục từ hàng trăm đến

hàng nghìn lần so với thời kỳ trước tiêm chủng.

Nhờ đạt được những thành tựu to lớn đó, Việt Nam đã được cộng đồng

quốc tế công nhận là điểm sáng về TCMR trong các nước đang phát triển[3]. Sở

12



dĩ có được thành quả nêu trên là do chương trình TCMR ở Việt Nam là một hoạt

động y tế được xã hội hố cao độ. Chính phủ đưa chương trình TCMR vào

chương trình quốc gia ưu tiên. Sự quan tâm và đầu tư ngày càng tăng của Đảng,

Nhà nước và chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các Bộ,

Ngành, đoàn thể xã hội với ngành Y tế, sự hưởng ứng của các bậc cha mẹ và

toàn cộng đồng trong các hoạt động TCMR là cơ sở vững chắc bảo đảm cho

chương trình thành cơng. Cũng cần nhấn mạnh rằng, sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả

của Chính phủ các nước, đặc biệt là Chính phủ Nhật Bản, Chính phủ

Luxembourg và của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ

nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF), cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản

(JICA), quỹ liên minh toàn cầu về vắc xin và tiêm chủng (GAVI),v.v… là những

đóng góp quan trọng vào sự thành cơng của chương trình TCMR ở Việt Nam[3].

Những cống hiến quên mình của đội ngũ cán bộ y tế dự phòng, cán bộ

làm cơng tác tiêm chủng mở rộng ở các tuyến, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, miền

núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, sự đóng góp tích cực của các lực

lượng quân y và bộ đội biên phòng, của các Viện Vệ sinh Dịch tễ và Pasteur

trong cả nước, các cơ sở sản xuất vắc xin và các đơn vị liên quan, đó khơng

ngừng nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trong việc sản xuất các loại vắc xin cung cấp

cho chương trình tiêm chủng mở rộng.

Ngành Y tế Việt Nam đã đạt được những thành quả to lớn và có những

bước phát triển rõ rệt trong những năm qua, song thách thức và khó khăn trong

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của ngành Y tế còn rất lớn.

Nhiều bệnh có thể phòng chống bằng vắc xin như Rubella, quai bị, viêm phổi

cấp do vi khuẩn v.v ... còn chưa được đưa vào chương trình TCMR; nhiều dịch

bệnh nguy hiểm mới xuất hiện như HIV/AIDS, SARS, dịch cúm A (H5N1),...

vẫn chưa có vắc xin phòng ngừa. Từ những kết quả đó đạt được và kinh nghiệm

của hai thập kỷ tiến hành, cho phép chúng ta tin tưởng rằng ngành Y tế sẽ tiếp

tục có những tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực tiêm chủng, và ngày càng đạt

được những thành quả to lớn hơn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

nhân dân.

Chương trình đã và đang tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần bảo vệ sức

khỏe thế hệ trẻ, hạ một cách rõ rệt tỷ lệ mắc, chết các bệnh truyền nhiễm trẻ em,

giảm bớt chi tiêu về điều trị, nêu được những kinh nghiệm tốt cho các chương

trình y tế khác; giáo dục và huy động các bà mẹ, trẻ em, trang bị và hỗ trợ cho

hoạt động y tế xã phường, thu hút viện trợ quốc tế và các tổ chức về chun

mơn, kinh phí[3].

13



1.3.3. Mục tiêu của chương trình tiêm chủng mở

rộng

- Bảo vệ thành quả thanh tốn bại liệt.

- Duy trì thành quả loại trừ uốn ván sơ sinh.

- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin (lao, bạchhầu, ho gà, uốnván, bại

liệt, sởi, viêmgan B, Hib) cho trẻ dưới 1 tuổi đạt trên 90%.

- Tiêm đủ mũi vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt>80% và nữ tuổi

sinh đẻ vùng nguy cơ cao đạt>90%.

- Triển khai tiêm vắc xin sởi-rubella cho trẻ 18 tháng tuổi trên toàn quốc

đạt ≥ 90%.

- Triển khai tiêm vắc xin phòng viêm não Nhật Bản B cho trẻ em: 2 mũi

(mũi 1 và mũi 2) chotrẻ 1 tuổi và mũi 3 chotrẻ 2 tuổi đạt ≥90%.

- Triển khai tiêm vắcxin DPT (DPT4) trên toàn quốc đạt ≥80%.

- Triển khai tiêm 1 mũi vắcxin IPV trong tiêm chủng mở rộng.

- Triển khai uống vắcxin OPV bổ sung tại vùng nguy cơ cao đạt ≥90%.

- Sử dụng bơm kim tiêm tự khóa cho tất cả các mũi tiêm trong TCMR.

- Giảm tỷ lệ mắc các bệnh/100.000 dân:

+ Sởi: <2/100.000 dân.

+ Bạch hầu: <0,02/100.000 dân.

+ Ho gà: <0,02/100.000 dân.



1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Trên địa bàn thành phố Huế có 27 phường, bao gồm:

1.



An Cựu



2.



An Đơng



3.



An Hòa



6.



Hương Sơ



4.



An Tây



7.



Kim Long



5.



Hương Long



8.



Phú Bình

14



9.



Phú Cát



13.



Phú Hội



10.



Phú Hậu



14.



Phú Nhuận



11.



Phú Hiệp



15.



Phú Thuận



12.



Phú Hòa



16.



Phước Vĩnh



17.



Phường Đúc



23.



Thủy Xuân



18.



Tây Lộc



24.



Trường An



19.



Thuận Hòa



25.



Vĩ Dạ



20.



Thuận Lộc



26.



Vĩnh Ninh



21.



Thuận Thành



27.



Xuân Phú



22.



Thủy Biều



28.



15



29. Đồng loạt 27 trạm y tế của mỗi phường ở thành phố Huế đều tiến

hành tiêm vào hai ngày đầu tuần của tuần cuối cùng trong tháng. Các trạm y tế

phường luôn thực hiện nghiêm túc quy định về an toàn tiêm chủng. Việc bảo

quản vaccine, tư vấn, kiểm tra sức khỏe trẻ trước và sau tiêm tại các trung tâm

y tế xã, phường trong toàn tỉnh Thừa Thiên-Huế được tiến hành đúng quy

trình. Vì vậy, từ trước nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế chưa xảy ra

trường hợp tai biến khi tham gia chương trình tiêm chủng mở rộng.



30. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

31.



2.1. Đối tượng nghiên cứu



32. - Các bà mẹ có trẻ dưới 2 tuổi (tính trong năm 2018) hoặc người

giám hộ trực tiếp nuôi dưỡng và đem trẻ đi tiêm chủng (gọi tắt là bà mẹ).

33. - Nhân viên trực tiếp làm công tác tiêm chủng mở rộng tại các

trạm y tế xã, phường, thị trấn.

34. - Tiêu chí loại trừ: Các đối tượng khơng có mặt tại thời điểm khảo

sát và từ chối tham gia nghiên cứu.

35.



2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:



36.



- Thời gian tiến hành nghiên cứu: 05/2017-06/2017



37.



- Địa điểm nghiên cứu: thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.



38.



2.3. Phương pháp nghiên cứu



39.



2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.



40.



2.3.2. Công cụ nghiên cứu



41.

tự điền.



Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và phát cho đối tượng nghiên cứu



42.



2.3.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu



43.



- Cỡ mẫu: Tính theo cơng thức ước lượng một tỉ lệ:

44.



45.



n=



Trong đó:

46.



n: Số lượng mẫu nghiên cứu



50.



47.



Z(α/2) =1.96 với độ tin cậy 95%.



48.



d= 0,05 với độ chính xác mong muốn 95% (sai số 5%)



49.



Lấy p = 0,5; d = 0,05, được cỡ mẫu tối thiểu là 384



- Phương pháp chọn mẫu:



51. + Chọn mẫu ngẫu nhiên 27 cụm (đơn vị cụm là phường) gồm có :

An Cựu, An Hòa, An Đơng, An Tây, Hương Sơ, Kim Long, Phú Bình, Phú Cát,

Phú Hậu, Phú Hiệp, Phú Hòa, Phú Hội, Phú Nhuận, Phú Thuận, Phước Vĩnh,

Phường Đúc, Tây Lộc, Thuận Hòa, Thuận Lộc, Thuận Thành, Trường An,

Vĩnh Ninh, Vỹ Dạ, Xuân Phú, Hương Long, Thủy Xuân, Thủy Biều.

52. + Mỗi cụm lập danh sách số bà mẹ có trẻ dưới 2 tuổi dựa vào sổ

quản lí y tế mỗi phường. Sau đó tiến hành lựa chọn mẫu ngẫu nhiên sao cho

phù hợp với điều kiện chọn mẫu và số lượng mẫu.

53.



2.3.4. Phương pháp thu thập thông tin



54. - Số liệu được thu thập bởi sinh viên lớp YHDP5B Trường Đại

học Y Dược Huế.

55. - Sau khi hoàn thành, phiếu được thu lại và được kiểm tra bới các

giám sát viên.

56.



2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu



57.



- Làm sạch bộ số liệu bằng cách sử dụng Epidata và SPSS.



58.



- Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập và quản lý số liệu.



59. - Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu với các test

thống kê cơ bản. Sử dụng test kiểm định Chi bình phương (χ 2), T-test và phân

tích phương sai một nhân tố (One-Way Anova) để kiểm định giả thuyết với độ

tin cậy 95%, mơ hình hồi quy tuyến tính đa biến.

60.



2.3.6.



Nội dung nghiên cứu



61. - Tình hình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 2 tuổi tại địa bàn

thành phố Huế.

62. - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêm chủng trẻ

dưới 2 tuổi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Chương trình tiêm chủng trên thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×