Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Quá trình đổi mới tư duy về CNH từ Đại hội V đến Đại hội XII:

b. Quá trình đổi mới tư duy về CNH từ Đại hội V đến Đại hội XII:

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Cơ chế KHHTT sang cơ chế TT có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

+ Cơ chế khép kín sang cơ chế mở cửa kinh tế.

+ Từ xây dựng ngay từ đầu một cơ cấu kinh tế đầy đủ, tự cấp tự túc sang cơ

cấu bổ sung kinh tế và hội nhập.

+ Mục tiêu “ưu tiên phát triển công nghiêp nặng” đã chuyển sang “lấy nông

nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm”. Từ

đó dẫn đến sự đổi mới trong cơ cấu đầu tư: “Đầu tư có trọng điểm và tập

trung vào những mục tiêu và các ngành quan trọng, trước hết đầu tư cho sản

xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cho chế biến nông sản và

một số ngành cơng nghiệp nặng trực tiếp phục vụ 3 chương trình kinh tế

lớn”

+ Phát huy nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế.

Tiếp theo, Đại hội VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục có những nhận thức mới,

ngày càng tồn diện và sâu sắc hơn về cơng nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa.

Đại hội đã xác định rõ vai trò “mặt trận hàng đầu” của nông nghiệp, và trên

thực tế đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách đã tăng lên. Đại hội đề cập đến

lĩnh vực Dịch vụ kinh

tế - kỹ thuật trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc

tế; đưa ra chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung

cả nước. Thực hiện đường lối cơng nghiệp hóa của Đại hội VII, nền kinh tế

đã có những bước phát triển cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất

hơn so với nhiều năm trước:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1991: 5,8% 1995: 9,5%

+ Tương ứng công nghiệp tăng: 1991: 5,3 % 1995: 15,5%

+ Nông nghiệp tăng 1991: 2,2% 1995: 4,8%

+ Xuất khẩu tăng 1991: -13,2% 1995: 34,4%

+ Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp 1991: 67% 1995: 12,7%

+ Cơ cấu kinh tế: 1991: 40,5 – 23,8 – 35,7(%)1995: 27,2 – 28,8 – 44(%)

+ Vốn đầu tư cho công nghiệp giai đoạn 1991 – 1995 chiếm 38,4% tổng đầu

tư xã hội (20,8 tỷ USD)

Đại hội Đảng VIII (năm 1996) nhìn lại đất nước sau 10 năm đổi mới đã nhận

định: nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho

chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho cơng nghiệp hóa



12



đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đại hội VIII đã điều chỉnh chính sách CNH theo hướng lấy nơng nghiệp làm

khâu đột phá, coi nông nghiệp kết hợp với công nghiệp chế biến là mặt trận

hàng đầu. Tiếp tục thực hiện rộng rãi hơn chính sách mở cửa, phát triển kinh

tế nhiều thành phần, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các

doanh nghiệp. Gắn cơng nghiệp hóa với hiện đại hóa, lấy khoa học – cơng

nghệ làm động lực, lấy nguồn lực con người làm yếu tố trung tâm của CNH,

HDH. Đặt ra nội dung cụ thể của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những

năm trước mắt (1996-2000) là “đặc biệt coi trọng CNH, HDH nông nghiệp

nông thôn…”. Kết quả là:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1996: 9,3%; 2000: 6,75%

+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 1996: 14,5% ;2000: 10,1 %

+ Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 1996: 4,4%; 2000: 4%

+ Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 1996: 33,2%; 2000: 24%

+ Cơ cấu kinh tế 1996: 27,8 – 29,7 – 42,5 (%); 2000: 24,3 – 36,6 – 39,1 (%)

Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006) Đảng ta tiếp tục bổ sung và

nhấn mạnh một số điểm mới trong tư duy về cơng nghiệp hóa:

Con đường cơng nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so

với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu

hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và

trên thế giới. Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ

thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của

thời đại qua hội nhập quốc tế để rút ngăn thời gian.

Tuy nhiên, tiến hành cơng nghiệp hóa theo lối rút ngắn so với các nước đi

trước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: Phát triển kinh tế và cơng

nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy

những lợi thế của đất nước, gắn cơng nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước

phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con

người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học

và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH.

Hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phải phát triển nhanh và

có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu

cầu trong nước và xuất khẩu.

13



Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế

độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành cơng

nghiệp hóa trong một nền kinh tế mở, hướng ngoại.

Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn với việc nâng cao năng suất,

chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Đẩy mạnh CNH, HĐH phải tính tốn đến u cầu phát triển bền vững trong

tương lai.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong

nước có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của cuộc

khủng hoảng tài chính, suy thối kinh tế toàn cầu, trong điều kiện của thế

giới và khu vực có nhiều biến động, với sự xuất hiện nhiều nhân tố mới,

trong đó nổi bật là xu thế tồn cầu hóa và sự phát triển kinh tế tri thức.

Những nhân tố đó đã có tác động nhiều mặt (cả tích cực và tiêu cực) đến q

trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ XI dự báo, toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - cơng nghệ

phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế

tri thức. Nhiệm vụ chủ yếu được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần

thứ XI là “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân

lực cho phát triển kinh tế tri thức. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện

đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”.

Văn kiện Đại hội XII đã đưa ra định hướng đổi mới mơ mình tăng trưởng

kinh tế “trong thời gian tới kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với

chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và

sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ

khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế, phát triển nhanh

và bền vững”.

Văn kiện Đại hội XII đã kế thừa những nhiệm vụ và giải pháp của Đại hội

XI, có bổ sung một số nhiệm vụ, giải pháp mới, nổi bật là: “Đổi mới mơ

hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư

sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường

trong nước”. Như vậy, bên cạnh chủ trương tăng trưởng chủ yếu dựa vào

14



xuất khẩu và đầu tư, Đại hội XII đã đưa ra chủ trương phát triển thị trường

trong nước nhằm phát huy vai trò của nội lực đồng thời thu hút có hiệu quả

nguồn lực bên ngồi. Để phát huy những đóng góp tích cực của khoa học cơng nghệ cho phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII

đã đưa ra phương hướng: “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và đổi

mới sáng tạo để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy nghiên cứu và triển

khai”. Như vậy, Văn kiện của Đại hội XII đặc biệt chú trọng vai trò của khoa

học - công nghệ, coi khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động

lực quan trọng nhất trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với

phát triển kinh tế tri thức: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm

cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan

trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng

cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Tuy

nhiên, năng lực khoa

học - công nghệ của Việt Nam còn yếu nên đã hạn chế khả năng nắm bắt cơ

hội và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài của các doanh nghiệp và nền

kinh tế. Khoa học - công nghệ chưa thực sự gắn kết và chưa trở thành động

lực phát triển kinh

tế - xã hội... Văn kiện Đại hội XII xây dựng lộ trình phấn đấu: “Đến năm

2020, khoa học và cơng nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các

nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên

tiến trên thế giới”. Văn kiện còn nêu định hướng cơ cấu lại nền kinh tế, phát

huy sức mạnh tổng hợp của các giai tầng xã hội trong quá trình cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế.

Như vậy, Đảng ta đã đưa ra đường lối có căn cứ lý luận và thực tế vững chắc

để tranh thủ thời cơ phát triển nước ta thành một nước công nghiệp hiện đại

với nền tảng là kinh tế tri thức.

2. Mục tiêu, quan điểm CNH-HĐH

a. Mục tiêu CNH-HĐH:

Mục tiêu lâu dài của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành

một nước cơng nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế

hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực

lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh

vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.

15



Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ

thể. Đại hội X xác định mục tiêu của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là đẩy

mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để

sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm

2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

b. Quan điểm CNH-HĐH:

 Một là CNH gắn với HĐH và CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Từ thế kỷ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành cơng nghiệp hố. Khi

đó cơng nghiệp hố được hiểu là q trình thay thế lao động thủ cơng bằng

lao động sử dụng máy móc. Nhưng trong thời đại ngày nay, Đại hội X của

Đảng nhận định: “Khoa học và cơng nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những

bước đột phá lớn”. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong q

trình phát triển lực lượng sản xuất. Vì vậy Đại hội X của Đảng chỉ rõ: đẩy

mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi

kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của cơng nghiệp hố,

hiện đại hố.

Kinh tế tri thức là gì? Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Cơng

nghệ thơng tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra,

phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh

tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống". Theo định nghĩa của WBI

- là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh

tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và

vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia

hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó khơng phải là nền

kinh tế dựa vào cơng nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức,

sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược

phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau”. Như

vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền

kinh tế tri thức "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự

phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến cơng nghệ

nước ngồi cũng như sự thích hợp hố và sáng tạo hố các tri thức cho

những nhu cầu riêng biệt". Theo đà thị trường chất xám. Trong đó, con

người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo

đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Quá trình đổi mới tư duy về CNH từ Đại hội V đến Đại hội XII:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×