Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c.Phương pháp tạo giống:

c.Phương pháp tạo giống:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các giống ngô nổi tiếng trước đây như Gié Bắc Ninh, Lừ Phú Thọ, Xiêm trắng, Làng Khuyên,

Bắp đỏ Cao Miên,... nay hầu như đã được thay thế bằng các giống mới năng suất cao.

 Phương pháp:

• Chọn những cá thể tốt của vụ trước làm giống cho vụ sau theo chỉ tiêu ba tốt:

 Ruộng tốt: ruộng để trồng ngơ làm giống phải là ruộng có chân đất tốt, cách li an tồn với các



rng ngơ khác. Chăm sóc đầy đủ, bón phân cân đối, phòng trừ sâu bệnh kịp thời. Cây xấu

được khử cờ, cây lẫn phải loại bỏ đi sớm.

 Bắp tốt: bắp to, dài, nây và múp đầu, lá bi mỏng, không bị sâu bệnh, hạt sâu, cấy thẳng hàng,

đúng dạng hình bắp và màu hạt của giống đó. Khơng dùng bắp có hạt mang nhiều màu sắc khác

để làm giống.

 Hạt tốt: hạt nậy và mẩy đều, màu sắc đẹp đúng với màu của giống. Không dùng hạt ở đầu và

đuôi bắp (bỏ 3- 5 cm) chỉ lấy hạt ở phần giữa bắp (10- 15 cm) làm giống.

• Thu hoạch ngơ giống: khi ngơ chín cần thu hoạch ngay, không để lâu trên ruộng dễ ẩm mốc và

dịch hại xâm nhập làm giảm phẩm chất giống. Bắp thu về để nơi thoáng, loại bỏ bắp khơng bình

thường, bắp bị sâu bệnh. Phơi 1-2 nắng, tẽ bỏ đầu đuôi, phơi tiếp 1-2 nắng nữa rồi tẽ riêng hạt

đó làm giống. Thường tỷ lệ hạt giống chiếm 50% năng suất.

• Phơi ngơ giống: phơi 3-4 nắng đến khi độ ẩm trong hạt còn 12% (hạt ngơ rạn chân chim). Nếu

phơi không kĩ, độ ẩm trong hạt cao (15-16%) thường dễ bị mốc mọt. Khi phơi chú ý tránh lẫn

giống bằng cách phơi riêng cho từng loại.

• Bảo quản ngơ giống: bảo quản tốt để có tỷ lệ nảy mầm cao, sức nảy mầm khỏe. Khi đã phơi khô

(độ ẩm 12%), để nguội rồi cho vào bảo quản trong chum, vại bằng sành, sứ, xi măng. Lót ở đáy

chum 5-10cm vôi cục đã đập nhỏ hay tro bếp thật khơ, lót thêm 1-2 lượt lá chuối khơ. Trộn

chung ngơ giống với lá xoan phơi khơ đã vò nhỏ rồi cho vào chum. Phủ lên một lớp lá chuối

khô, một lớp vơi cục nhỏ. Đậy kín miệng chum và để nơi khơ ráo thống mát, thường xun

kiểm tra nếu bị ẩm thì phải phơi lại giống. Phơi lại 1-2 lần trước khi gieo để đảm bảo hạt ngô

giống nảy mầm tốt.

Giống tổng hợp:

Là thế hệ tiên tiến của giống lai nhiều dòng bằng thụ phấn tự do. Q trình chọn tạo giống

ngơ tổng hợp gồm các bước:







Chọn tạo các dòng thuần.

Xác định khả năng kết hợp chung các dòng thuần (thử bằng tester hoặc khu cách li)



 Thử bằng tester: để đảm bảo chính xác sử dụng 2- 3 vật liệu thử



A x X1 = AX1

A x X2 = AX2

A x X3 = AX3



Cộng các cách thử có trung bình XA. Tương tự có các dòng XB và XC. Giả sử XA > XB >

XC khả năng phối hợp chung của dòng A tốt hơn của dòng B tốt hơn của dòng C.

 Thử bằng khu cách li policross: đem tất cả dòng thử phối hợp chung gieo trong khu cách li riêng









để chúng tự do thụ phấn. Năm sau so sánh năng suất các dòng để đánh giá khả năng phối hợp

chung của chúng. Có nghĩa là tất cả các dòng tham gia đều là bố, là mẹ.

Lai giữa các dòng tốt và có khả năng kết hợp cao để tạo tổng hợp.

Duy trì và cải thiện quần thể (tổng hợp) bằng các phương pháp chọn lọc gia đình.

Giống hỗn hợp:

Là thế hệ tiến triển của tổng hợp các nguồn ưu tú có nền di truyền khác nhau. Bao gồm các

giống thụ phấn tự do, tổng hợp, lai kép, lai ba... được lựa chọn theo một số chỉ tiêu như năng

suất, thời gian sinh trưởng, đặc điểm hạt, tính chống chịu... Các bước trong q trình phát triển

một giống hỗn hợp bao gồm:













Chọn thành phần bố mẹ.

Lai thử, chọn các cặp lai cho năng suất cao ở F1 và ít giảm năng suất ở F2.

Tạo lập hỗn hợp bằng thụ phấn dây chuyền hoặc luân giao.

Duy trì và cải thiện giống bằng các phương pháp chọn lọc quần thể.

Các giống ngô tổng hợp và hỗn hợp đại diện là TH2A, TSB1, TSB2, VM1, MSB49, Q2,...

 Chọn tạo giống TSB1:



Là giống Thái hỗn hợp, được tạo từ Thái Lan 1969 bằng cách lai hỗn hợp 36 giống xuất sứ từ

Mê-hi-cơ, Ấn Độ, Hoa Kì, Nam và Trung Mĩ, sau đó được cải tiến bằng phương pháp thụ phấn

trong 3 chu kì và lai với một số giống chống bệnh bạch tạng là Suwan 1 (nhập vào Việt Nam

năm 1980), được trung tâm giống ngô Sông Bôi ( nay là Viện nghiên cứu ngô thuộc Bộ Nông

nghiệp và Công nghiệp thực phẩm) chọn lọc theo phương pháp ngô trên hàng cải tiến, đồng thời

lai thêm một số giống địa phương và đặt tên là TSB1.

Từ năm 1983 đến nay, giống TSB1 tham gia vào các thí nghiệm so sánh, khu vực hóa tại một

số nơi trong tỉnh Lâm Đồng, thích hợp với điều kiện khí hậu Đức Trọng và thể hiện nhiều đặc

điểm tốt.

 Thời gian sinh trưởng: 108- 112 ngày.

 Chiều cao cây: 120- 190 cm.

 Chống chịu bệnh: kháng bệnh bạch tạng, cháy lá lớn, rỉ tốt.

 Tỉ lệ hạt/trái: 70- 75%

 Màu sắc và dạng hạt: vàng hơi đỏ, đá và nửa đá.

 Năng suất hạt khô: trung bình 35- 55 tạ/ha, thâm canh 50- 65 tạ/ha.



Năng suất trung bình giống TSB1 cao hơn giống Tainan 11 10-15%.



Giống ngô thụ phấn tự do cải thiện:

Là “tập hợp các kiểu hình tương đối đồng đều đại diện cho phần ưu tú nhất của một quần thể

trong một chu kì cải thiện nào đó”. Bao gồm:



















Tạo vốn gen. Vốn gen là nguồn dự trữ gen, có cấu trúc di truyền rất rộng, là hỗn hợp di truyền

của rất nhiều giống, giống lai, quần thể... có cùng vùng thích nghi, cùng thời gian sinh trưởng,

cùng dạng hạt và màu hạt. Vốn gen được cải thiện và di truyền bằng hệ thống tái hợp nửa máu,

được mở rộng nền di truyền bằng việc đưa thêm những vật liệu mới từ ngân hàng gen hoặc từ

các chương trình quốc gia.

Tạo quần thể. Từ vốn gen, bằng các phương pháp chọn lọc gia đình (thường là phương pháp anh

em nửa máu) tạo ra các quần thể tùy theo mục tiêu của chương trình bằng việc tái hợp các gia

đình tốt nhất

Tạo giống thí nghiệm. Mỗi vùng chọn ra 8-10 gia đình tốt nhất và dùng hạt lưu tái hợp bằng lai

luân phiên  tạo giống thí nghiệm mới.

Khảo nghiệm giống thí nghiệm. Những giống thí nghiệm mới được tạo ra từ các quần th ể được

gộp lại thành bộ giống thí nghiệm (gộp theo thời gian sinh trưởng và màu hạt) và gửi đi khảo

nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau.

Đưa vào sản xuất giống tốt nhất. Tổng hợp các vùng khảo nghiệm lại chọn ra 8-10 gia đình tốt

nhất để tạo giống mới  trồng thử

III.Phương pháp hiện đại chọn giống cây ngơ

1.Chọn lọc dòng ngơ có khả năng chịu hạn dựa trên kiểu hình và marker phân tử

a.Phương pháp nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu gồm 28 dòng tự phối từ đời S3 đến S12, ký hiệu từ TP1 đến TP28, gồm

17 dòng tự phối phát triển từ giống ngơ địa phương (TP1, TP2, TP3, TP4, TP5, TP12, TP13,

TP14, TP15, TP17, TP18, TP19, TP20, TP22, TP23,TP24 vàTP25); 4 dòng từ nguồn gen ngô của

Mỹ (TP6, TP16, TP27 và TP28) và 7 dòng từ nguồn gen ngơ của Trung Quốc (TP7, TP8, TP9,

TP10, TP11, TP21 và TP26). Đối chứng là LCH9.

Các đặc điểm nông sinh học, năng suất và yếu tố tạo thành năng suất của các dòng được đánh

giá bằng phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, hai lần lặp lại, diện tích mỗi ơ thí nghiệm là 14m 2

Ngơ được trồng trong chậậ̣u plastic đường kính 20cm, cao 35 cm, có thể rút nước chủ động.

Mỗỗ̃i dòng trồng trong 3 chậu, mỗi chậậ̣u trồng 3 cây. Giá thể trồng là cát sạch...Sau gieo 4 tuần,

thu hoạch bằng cách nhổ cả cây và theo dõi các chỉ tiêu liên quan đến khả năng chịu hạn gồm:

Diện tích lá /cây; thể tích rễ (RV) được xác định bằng cách cho rễ vào ống đong, đổ nướớ́c ngập

ghi thể tích ta có giá trị thể tích tổng (V(tổng)) sau đó vớt rễ ra ghi thể tích là thể tích nước

V(nước), cơng thức tính thể tích rễ RV = V(tổng) - V (nước); chiều dài rễ dài nhất (- (LRL),

chiều cao cây (PH) được đo bằng đơn vị cm; khối lượng rễ tươi (RFW); khối lượng rễ khô

(RDW); khối lượng thân khô (SDW) được cân bằng cân điện tử và độ chính xác 0,01g; tỷ lệ



RDW/SDW. Kiểu gen nào có các chỉ tiêu trên cao hơn thì được đánh giá có khả năng chịu hạn

tốt hơn.

Các dòng có mang QTL chịu hạn của 3 tính trạng là: (1) năng suất dưới điều kiện hạn,(2) chỉ

số chịu hạn và (3) khả năng chịu hạn được nhận biết thơng qua các cặp mồi đặc hiệu. Tên và

trình tự mồi trình bày ở bảng dưới đây.



DNA được tách chiết từ 3 lá non của cây ở giai đoạn 4 đến 5 lá thật bằng phương pháp CTAB.

Số lượng và chất lượng DNA đánh giá trên máy quang phổ UVspectrophotometer. Sử sụng 10µl

hỗn hợp DNA của các cá thể, 10µl tổng số thể tích DNA phản ứng PCR cho vào đệm phản ứng

1X PCR chứa 2,0mM MgCl2; 0,2 mM dNTP mix; 0,4 µM mỗi bộ primer 0,5U Taq DNA

polymerase (SIGMA) và điều chỉnh 10µl bằng nước cất 2 lần (ddH2O). Khuyếch đại trong máy

PCR với chu kỳ nhiệt như sau chu kỳ 1: làm biến tính tại 94 oC trong 5 phút, tiếp theo 35 chu kỳ

tại nhiệt độ 94oC trong 30 giây; nhiệt độ 55 oC trong 1 phút và 72 oC trong 1 phút và 30 giây,

cuối cùng là chu kỳ mở rộng tại 72 oC trong 10 phút. Sản phẩm PCR đưa lên gel agarose 2,0%

trong đệm 1X TBE (89 mM Tris, 89 mM Boric acid và 2,5 mM EDTA pH 8,0), chứa 0,15

µg/µl thidium Bromide. Quan sát và chụp ảnh dưới đèn cực tím. Phân tích phương sai, phân tích

tương quan, bằng chương trình phần mềm IRRISTAT5.0 và chỉ số chọn lọc bằng chương trình

thống kê sinh học của Nguyễn Đình Hiền (1995)

b.Kết quả

Đặc điểm nơng sinh học của các dòng nghiên cứu trong thí nghiệm đồng ruộng

Đặc điểm nơng sinh học của 28 dòng ngô nghiên cứu trong vụ thu đông năm 2012 trên đất

phù sa sông Hồng không được bồi hàng năm và canh tác nhờ nước trời biểu hiện về thời gian từ

gieo đến chín sinh lí của các dòng biến động từ 96 đến 115 ngày thuộc nhóm trung ngày (Bảng

1). Trong đó, 7 dòng có thời gian sinh trưởng dài hơn hoặc ngang bằng đối chứng, đó là các dòng

TP2, TP7, TP14, TP15, TP17, TP25 và TP26; các dòng còn lại thời gian sinh trưởng đều ngắn

hơn đối chứng LCH9 (108 ngày).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c.Phương pháp tạo giống:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×