Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+) Phần thông tin: Phần thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một công nghệ. Phần thông tin thể hiện các tri thức tích lũy trong công nghệ. Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ mà các sản phẩm của nó có đặc trưng mà các sản phẩm cùng loại của cá

+) Phần thông tin: Phần thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một công nghệ. Phần thông tin thể hiện các tri thức tích lũy trong công nghệ. Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ mà các sản phẩm của nó có đặc trưng mà các sản phẩm cùng loại của cá

Tải bản đầy đủ - 0trang

trưng mà các sản phẩm cùng loại của các công nghệ khác làm ra khơng thể

có được. Nhưng một mặt thơng tin lại phụ thuộc vào con người, bởi vì con

người trong quá trình sử dụng sẽ bổ xung, cập nhật các thông tin của công

nghệ. Việc cập nhật thông tin của công nghệ để đáp ứng sự tiến bộ không

ngừng của khoa học.

+) Phần tổ chức: Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa, phối hợp ba thành

phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách có hiệu

quả. Nó là cơng cụ để quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự,

động viên thúc đẩy và kiểm soát mọi hoạt động của cơng nghệ. Đánh giá vai

trò của phần tổ chức, người ta coi nó là “động lực” của một công nghệ. Mức

độ phức tạp của phần tổ chức trong công nghệ phụ thuộc và mức độ phức

tạp của ba thành phần còn lại của cơng nghệ. Do đó khi thay đổi một trong

các thành phần đó thì phần tổ chức cũng phải được cải tổ cho phù hợp.



1.2.



Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức

1.2.1.Vai trò của cơng nghệ

- Ở Việt Nam nhiều doanh nghiệp tạo ra được nhiều sản phẩm có giá trị

kinh tế cao nhờ áp dụng khoa học công nghệ mới. Đề tài nghiêm cứu

“Nghiên cứu chiết tách dầu dừa tinh khiết bằng công nghệ không gia

7



nhiệt” với kinh phí 7 tỷ đồng từ Chương trình đổi mới công nghệ quốc

gia đã giúp công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới (tỉnh Bến Tre)

nghiên cứu thành cơng quy trình chiết tách tinh dầu dừa tinh khiết với

năng suất cao, đến 3000 lít/lơ sản xuất. Quy trình sản xuất này đạt tiêu

chuẩn quốc tế của Hiệp hội Dừa châu Á - Thái Bình Dương. Dầu dừa

tinh khiết được sản xuất theo quy trình mới có giá trị thương mại cao

gấp lần so với sản phẩm sản xuất theo cơng nghệ cũ, góp phần nâng cao

chuỗi giá trị cây dừa tại địa phương. Hay cơng ty Bóng đèn phích nước

Rạng Đơng chế tạo thành cơng hệ thống chiếu sáng chuyên dụng tiết

kệm năng lượng, phù hợp với chu kỳ phát triển sinh học của một số loại

cây hoa và cây ăn quả nhằm điều khiển thời gian ra hóa, kết trái, ngay

cả những cây ra hoa, ra trái trái mùa.

1.2.1.1.



Mặt tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức



- Công nghệ giúp con người phát triển từ giai đoạn tiến hóa thuần túy

về sinh học tới giai đoạn trí tuệ của phát triển. Công nghệ làm cho môi

trường sống của con người trở nên tiện nghi hơn.

- Tiến bộ công nghệ là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển

xã hội lồi người.

- Cơng nghệ là vũ khí cạnh tranh manh mẽ nhất trong kinh tế thị

trường. Công nghệ tiên tiến hơn, chất lượng sản phẩm sẽ tốt hơn, năng

suất cao hơn, tiết kiệm được chi phí sản xuất dẫn tới hạ giá thành sẽ tạo

lợi thế cạnh tranh trên thị trường.



8



- Là một trong ba yếu tố tạo ra sự tăng trưởng kinh tế: tích lũy tư bản,

dân số, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ. Tiến bộ công nghệ

thông qua đổi mới công nghệ tạo ra năng suất cao.

- Công nghệ là phương tiện hiệu quả nhât để nâng cao các chỉ tiêu phản

ánh sự phát triển của một quốc gia.

- Các sáng chế công nghệ tạo ra các ngành nghề mới, làm biến đổi cơ

cấu lao động trong q trình thực hiện cơng nghiệp hóa.

- Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ cho phép doanh

nghiệp tăng sản lượng, năng suất, chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý

các nguồn tư liệu sản xuất. Từ đó tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị

trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng nhanh

chóng.

- Cơng nghệ giúp doanh nghiệp giao tiếp với khách hàng, tạo lập các

mối quan hệ, tăng khả năng nghiên cứu, kiểm soát tốt các hoạt động kinh

doanh.

1.2.1.2.



Mặt tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức



- Công nghệ phát triển làm mất đi một số ngành nghề cũ.

- Trong giai đoạn đầu q trình cơng nghiệp hóa, sự tăng lên của cơng

nghệ làm suy giảm các nguồn tài nguyên.

- Sự phát triển quá nhanh của công nghệ dẫn đến sự mất kiểm sốt có

thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực về môi trường, kinh tế, xã hội: ô

nhiễm môi trường, mất an tồn thơng tin, sự ra đời của các loại tội phạm

mới, sự lạm dụng các thiết bị công nghệ, mất quyền riêng tư, hạn chế khả

9



năng sáng tạo, mâu thuẫn giữa lao động tay chân và lao động trí óc, nạn

thất nghiệp.

- Các tổ chức vì chạy theo phát triển công nghệ mà khai thác tài nguyên

quá mức, chi phí sự cố phải bỏ ra lớn nếu cơng nghệ sản xuất ra không

đáp ứng được nhu cầu.

- Công nghệ phát triển nhanh nếu các tổ chức không thay đổi để bắt kịp

có thể gặp phải khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng kéo dài

có thể bị đào thải.

Chương 2: Sự đóng góp của cơng nghệ in 3D trong lĩnh vực y học đối với sự

phát triển kinh tế - xã hội đối của một quốc gia/địa phương cụ thể

2.1.



Giới thiệu về công nghệ in 3D và áp dụng trong lĩnh vực y học

2.1.1.Công nghệ in 3D là gì?



- In 3D là một quy trình tạo nên các vật thể rắn 3 chiều từ một tập tin kỹ

thuật số. Bí mật của cơng nghệ in này là mực in – một loại bột đặc biệt

làm từ titan, nhựa, silicon… khi “in” sẽ được kết dính với nhau bằng

10



loại keo đặc biệt và tạo nên hình 3D theo mơ phỏng. Trên khắp thế giới,

người ta đã bắt đầu mày mò để ứng dụng cơng nghệ in 3D vào hàng loạt

lĩnh vực, trong đó có y tế, với khả năng tạo ra các bộ phận giả cho con

người. In 3D có thể giúp các bác sĩ nhanh chóng tạo ra giải pháp chữa

bệnh mà không quá tốn kém hay mất thời gian. Gần hai thập niên qua,

công nghệ in 3D đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành ngành

cơng nghiệp có trị giá đến 5,1 tỉ USD năm 2016, và dự kiến sẽ tăng đến

32 tỉ USD vào 2023. Trong lĩnh vực y khoa và chăm sóc sức khỏe, công

nghệ in 3D mang đến một cuộc cách mạng trong việc sản xuất các cơ

quan của cơ thể, bào chế thuốc và sản xuất thiết bị y khoa, tối ưu hóa

chuỗi cung ứng và hứa hẹn sẽ mang đến dịch vụ y tế được điều chỉnh

theo yêu cầu của mỗi cá nhân với giá cả thật rẻ.

- Công nghệ in 3D là gì?

+) In ấn 3D (còn gọi là công nghệ chế tạo đắp lớp) ra đời năm 1984, nó

là một chuỗi các cơng đoạn khác nhau được kết hợp để tạo ra một vật

thể ba chiều.

+) Trong in ấn 3D, các lớp vật liệu (nhựa, kim loại, ...) được đắp chồng

lên nhau và được định dạng dưới sự kiểm sốt của máy tính để tạo ra

vật thể. Các đối tượng này có thể có hình dạng bất kỳ và được sản xuất

từ một mơ hình 3D hoặc nguồn dữ liệu điện tử khác. Máy in 3D thực

chất là một máy chế tạo công cụ điều khiển bằng vi tính (CNC computer-controlled machining tool), một dạng robot cơng nghiệp.

Người ta sẽ dùng máy quét 3 chiều để quét bộ phận muốn in, rồi dùng

một phần mềm chuyên dụng xuất thành một bản thiết kế CAD

(computer-aided-design), tập tin này sẽ chuyển đến máy in 3D để nó in

ra.



11



+) Nhưng có lẽ, ứng dụng tiềm năng nhất đối với công nghệ in 3D trong

thế giới y học là "in sinh học"(bioprinting) - sản xuất các bộ phận trên

cơ thể người để cấy ghép. Công nghệ này liên quan đến việc tạo ra các

mô và cơ quan nội tạng được in từng lớp vào một cấu trúc 3 chiều. Các

bộ phận được chế tạo từ chính vật chất di truyền của bệnh nhân và

tương thích chính xác với mơ và bộ phận muốn thay thế.

- Công nghệ in sinh học 3D là gì?

+) Cơng nghệ in sinh học 3D để in các cơ quan cơ thể người thì sử dụng

nguồn "mực sinh học" là một dung dịch dinh dưỡng chứa các tế bào

gốc. Khi "in", các tế bào gốc được phân bố bằng các van kiểm sốt bằng

vi tính để hình thành vật muốn in. Quá trình in được theo dõi bằng kính

hiển vi và phải đạt điều kiện vơ trùng tuyệt đối.

2.1.2.Sự áp dụng công nghệ in 3D trong lĩnh vực y học

2.1.2.1. Về mặt kỹ thuật (Technoware)

- In 3D là một quy trình tạo nên các vật thể rắn 3 chiều từ một tập tin kỹ

thuật số. Bí mật của công nghệ in này là mực in – một loại bột đặc biệt

làm từ titan, nhựa, silicon… khi “in” sẽ được kết dính với nhau bằng loại

keo đặc biệt và tạo nên hình 3D theo mơ phỏng. Kỹ thuật in 3D trong y

12



học này chủ yếu sử dụng kỹ thuật máy tính hóa, điều khiển q trình làm

việc bằng máy tính. Tùy vào từng bộ phận cần in sẽ cần những loại “mực

in” và kỹ thuật in khác nhau.

- Chẳng hạn như chế tạo chân răng, cầu răng, bộ phận cấy ghép nha khoa.

Với quy trình chế tạo răng, răng của bệnh nhân sẽ được quét ngay trong

vòm miệng và số hóa. Sau đó dữ liệu được đưa lên máy tính và được gửi

đến một phòng thí nghiệm nha khoa để tiến hành tạo hình một cầu răng

bằng sứ mới. Qua phương thức này, răng giả sẽ được tạo ra với độ chính

xác cao hơn và nhanh hơn. Hay như in 3D da người, công nghệ này nằm

ở “mực in”, một loại huyết tương chứa tế bào da người. Dùng máy tính,

các nhà khoa học cho máy in phun loại mực sinh học này từng lớp lên

khuôn để tạo thành mẩu da người. Chiếc máy in hiện giờ có thể làm ra

miếng da 100cm2 trong khoảng hơn nửa giờ đồng hồ.

2.1.2.2.



Về mặt con người (Humanware)



- Con người làm cho công nghệ hoạt động, làm cho máy móc, thiết bị,

phương tiện phát huy hết khả năng của chúng. Nhờ tính năng động sáng

tạo, con người đã cải tiến, mở rộng, đổi mới các thiết bị máy móc. Con

người đóng vai trò chủ động trong công nghệ, song lại chịu sự chi phối

của thông tin và tổ chức. Nhờ con người nên công nghệ in 3D ngày càng

phát triển, công nghệ in 3D giờ đây đã có thể thiết kế và sản xuất các bộ

phận cơ thể giúp cho phẫu thuật tái tạo và cấy ghép. Đã có nhiều trường

hợp các em bé bị bệnh tim hay mất cánh tay được cấy ghép các bộ phận

được in ra nhờ công nghệ 3D, giúp cho cuộc sống của các em được dễ

dàng và thuận lợi hơn.



13



- Trong lĩnh vực công nghệ in 3D trong y học này, những người nghiên

cứu vận hành công nghệ này thường là những nhà khoa học, thạc sĩ, tiến

sĩ hay bác sĩ có trình độ học vấn cao. Họ là những người phải được đào

tạo qua những trường đại học, trường dạy nghề chuyên nghiệp. Công

nghệ in 3D trong y học này liên quan đến sức khỏe và mạng sống con

người nên vì thế yêu cầu về kỹ năng cao, kinh nghiệm lâu năm. Những

người nghiên cứu công nghệ này cần có hiểu biết về y học và kĩ thuật

điều khiển q trình bằng máy tính. Ở Việt Nam hiện nay chưa chú trọng

công nghệ này trong y học nên khơng có trường đào tạo chun nghiệp

về cơng nghệ này. Tuy nhiên ở nước ngoài, học đã chú trọng hơn trong

việc đào tạo nhân lực cho công nghê này như trường Đại học Glasgrow

(Anh), trường Đại học Toronro (Canada), Viện Y học tái sinh Wake

Forest (Mỹ), …

2.1.2.3.



Về mặt thơng tin (Inforware)



- Thơng tin, tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công

nghệ, nhờ các tri thức này con người rút ngắn được thời gian học và làm,

đỡ tốn thời gian và sức lực khi giải quyết nhiệm vụ liên quan đến công

nghệ, đồng thời thông tin cũng phải thường xuyên cập nhật. Trong công

nghệ in 3D trong y học vận dụng kết hợp cả yếu tố khoa học kĩ thuật và y

học. Thông tin về khoa học kĩ thuật cần cho công nghệ in 3D, công nghệ

sử dụng kĩ thuật đắp dần, cần sự hỗ trợ của các phần mềm thiết kế trên

máy tính. Qua việc tìm hiểu thơng tin và nghiên cứu ta có thể biết rằng

công nghệ này được phân loại dựa vào bản chất vật liệu. In 3D hay sản

xuất đắp dần có thể làm việc với vật liệu rắn (nhựa, kim loại, polymer),

vật liệu lỏng (nhựa lỏng đông cứng lại nhờ tác động của laser hay ánh

sáng điện tử), hay vật liệu dạng bột (bột kim loại, bột gốm kết dính với

14



nhau tạo thành sản phẩm…). Từ những thơng tin tìm iểu được ta có thể

vận dụng và phát triển cơng nghệ trong y học. Tri thức về y học giúp con

người có thể từ mơ hình 3D tìm hiểu được cách chữa trị tốt hơn. Ví dụ

như sử dụng mơ hình 3D từ cơng nghệ in 3D có thể giúp bác sĩ chuẩn bị

tốt hơn cho những ca phẫu thuật khó như phẫu thuật van tim.

2.1.2.4.



Về mặt tổ chức (Orgaware)



- Tổ chức đóng vai trò điều hòa phối hợp 3 phần trên (T, H, I) để thực

hiện một cách hiệu quả mọi hoạt động biến đổi. Nó giúp cho việc quản

lý, lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực, động viên thúc đẩy

và kiểm soát các hoạt động biến đổi để đạt kết quả như mong muốn. Phần

tổ chức phụ thuộc vào độ phức tạp của vật tư kĩ thuật và thong tin, song

bản than nó quyết định sự cấu thành của ba bộ phận còn lại. Tổ chức còn

đem lại động lực cho sự phát triển công nghệ. Công nghệ in 3D trong y

học ở Việt Nam chưa thực sự có tổ chức tốt bởi chưa được chú ý đến

nhiều, vẫn chỉ mang tính thử nghiệm. Còn ở một số nước khác như Anh,

Mỹ rất chú trọng đến công nghệ này nên tổ chức của họ rất ổn định, liên

tục cải tiến chất lượng và chủng loại sản phẩm và nguyên vật liệu in, liên

tục nâng cao kiến thức và nâng cấp vật tư kĩ thuật in.

2.2.



Vai trò của cơng nghệ in 3D đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

2.2.1.Thực trạng của lĩnh vực y học trước khi áp dụng công nghệ in 3D

- Trước khi công nghệ in 3D xuất hiện, các bác sĩ và nhà nghiên cứu trên

toàn thế giới đã có biện pháp ni cấy để mơ phỏng và tái tạo các bộ phận

khiếm khuyết hoặc bị tổn hại của bệnh nhân. Tuy nhiên do cấu trúc của cơ

thể con người quá phức tạp nên các bác sĩ đã gặp rất nhiều khó khăn trong

việc tái tạo lại một số cơ quan như răng và hàm, xương chậu, các bộ phận

trên khuôn mặt,… hoặc đã tái tạo lại được nhưng các bộ phận thay thế đó

15



khơng phù hợp với cơ thể bệnh nhân khiến họ đau đớn hoặc khó chịu hay

việc tái tạo cấy ghép bị kéo dài thời gian so với việc sử dụng công nghệ in

3D.



- Các liệu pháp thông thường đối với những bệnh nhân bị vỡ khung chậu do

tai nạn xe hơi vẫn là chụp X quang hay chụp cắt lớp (chụp CT) phần xương

bị gãy, lên kế hoạch phẫu thuật và tiến hành ghép xương. Tuy nhiên, việc

này sẽ hiệu quả hơn nếu quét phần khung chậu của nạn nhân và tái tạo phần

xương vỡ bằng kỹ thuật in 3D. Các bác sĩ phẫu thuật sẽ có ngay các phần

xương vỡ được in, thiết kế các phần xương thay thế cần thiết và sẵn sàng ca

mổ.

- Trong suốt nhiều thế kỷ, y học đã không thể giúp các nạn nhân bỏng chữa

lành làn da của họ một cách hiệu quả. Mặc dù thủ thuật có hiệu quả nhất

hiện nay là ghép da, nó cũng gây đau đớn cho bệnh nhân và khơng đảm bảo

được tính thẩm mỹ.



16



- Hiện tại, các loại thuốc đang được sản xuất theo từng dây chuyền riêng

biệt. Bởi vậy, một bệnh nhân đôi khi cần uống rất nhiều loại thuốc trong một

ngày, chia ra sáng, trưa, chiều, tối… Đối với những người già, nhớ được thứ

tự uống thuốc với họ trở thành một nhiệm vụ khó khăn, đơi khi là bất khả

thi, ví dụ trong trường hợp bệnh nhân mắc Alzheimer.



2.2.2.Thực

2.2.2.1.



trạng của lĩnh vực y học sau khi áp dụng công nghệ in 3D

Lý do áp dụng công nghệ?



- Thực tế cho thấy công nghệ in 3D luôn được quan tâm và nghiên cứu

trên khắp các lĩnh vực khác nhau. Bí mật của công nghệ này là mực in –

một loại bột đặc biệt làm từ titan, nhựa, silicon… khi in sẽ được kết dính

với nhau bằng một loại keo đặc biệt và tạo nên hình 3D theo mơ phỏng.

Điều này khiến các nhà khoa học ở nước ta cũng như trên thế giới đã bắt

đầu mày mò phát triển cơng nghệ in 3D vào lĩnh vực y tế vì những lợi ích

và khả năng ứng dụng cao như:

+) In 3D có thể giúp các bác sĩ nhanh chóng tạo giải pháp chữa bệnh mà

không quá tốn kém hay mất thời gian.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+) Phần thông tin: Phần thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một công nghệ. Phần thông tin thể hiện các tri thức tích lũy trong công nghệ. Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ mà các sản phẩm của nó có đặc trưng mà các sản phẩm cùng loại của cá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×